Tài ôn thi học sinh giỏi văn kĩ NĂNG CHỌN và PHÂN TÍCH dẫn CHỨNG TRONG bài văn NGHỊ LUẬN văn học - Pdf 60

CHUYÊN ĐỀ

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG CHỌN VÀ PHÂN TÍCH DẪN
CHỨNG TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
CHO HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN

1


MỤC LỤC
MỤC LỤC................................................................................................................. 2
PHẦN MỞ ĐẦU.......................................................................................................3
1.Lý do chọn đề tài....................................................................................................3
2.Mục đích nghiên cứu..............................................................................................5
3.Phạm vi nghiên cứu................................................................................................7
4.Phương pháp nghiên cứu........................................................................................7
4.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp...................................................................7
4.2. Phương pháp so sánh......................................................................................7
4.3. Phương pháp liên ngành.................................................................................7
4.4. Phương pháp mô hình hóa..............................................................................7
4.5. Phương pháp quan sát sư phạm......................................................................8
5.Kết cấu...................................................................................................................8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN................................................................................8
1.1. Văn nghị luận.....................................................................................................8
1.1.1.Khái quát về văn nghị luận...........................................................................8
1.1.1.1. Định nghĩa, phân loại............................................................................8
1.1.1.2. Đặc trưng của văn nghị luận.................................................................9
1.1.2.Sơ lược về nghị luận văn học......................................................................11
1.2. Dẫn chứng........................................................................................................12
1.2.1.Khái niệm dẫn chứng......................................................................................12
1.2.2.Dẫn chứng trong nghị luận văn học............................................................13

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn nghị luận là một thể loại có tính nghệ thuật và tính ứng dụng cao,
và có vai trò khá quan trọng trong đời sống. Văn nghị luận có những đặc
3


trưng cơ bản là lập luận chặt chẽ; lí lẽ sắc bén; dẫn chứng chính xác, chân
thực, giàu sức thuyết phục. Văn nghị luận giúp học sinh vận dụng tổng hợp
các tri thức văn học, tri thức xã hội và đời sống trong quá trình tạo lập văn
bản; rèn luyện kĩ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ và đặc biệt giúp HS vào việc
phát triển tư duy khoa học, tư duy lí luận và tư duy phản biện. Từ đó, giáo
viên thấy rõ được góc nhìn, những cách ứng xử của học sinh qua những tác
phẩm văn học cũng như các hiện tượng, vấn đề trong xã hội.
Trong nhà trường, văn nghị luận chiếm một vị trí quan trọng trong bộ
môn Ngữ Văn: Văn nghị luận là kiểu bài quan trọng trong tất cả các kì kiểm
tra, đánh giá năng lực của học sinh THPT nói chung và học sinh giỏi nói
riêng. Hầu hết, trong các đề thi chọn HS giỏi Ngữ văn hiện nay ở các cấp tỉnh,
khu vực, quốc gia đều có hai phần: nghị luận xã hội và nghị luận văn học. Vì
thế, trong nhà trường phổ thông hiện nay, đặc biệt là ở các trường chuyên,
việc rèn luyện kĩ năng viết văn nghị luận là yêu cầu rất quan trọng trong quá
trình học tập bộ môn Ngữ văn.
Không dừng lại trong trường THPT, văn nghị luận còn chiếm một vị trí
đặc biệt trong đời sống. Các vấn đề từ các đề văn nghị luận xã hội đặt ra luôn
theo sát những vấn đề trong thực tế, những vấn đề đang xảy ra trong xã hội
hoặc những vấn đề về tư tưởng đạo lý – rèn những bài học, những trải
nghiệm, những kinh nghiệm sống cho học sinh. Nếu như nghị luận xã hội gắn
bó trực tiếp với đời sống thì nghị luận văn học lại gắn bó với đời sống nhưng
thông qua một phương thức thể hiện khác - qua hình tượng trong tác phẩm
văn học. Nghị luận văn học gắn bó thiết thực với đời sống thông qua những

NGHỊ LUẬN VĂN HỌC” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
- Thứ nhất, đối với học sinh giỏi Ngữ văn: Các nguồn tài liệu để học
sinh tham khảo về phân tích, bình giảng về các tác phẩm rất đa dạng,
phong phú, tuy nhiên tài liệu để tham khảo về phương pháp học văn, các kĩ
năng viết văn phần nào còn hạn chế. Đề tài này cung cấp cho học sinh khá
đầy đủ từ lý thuyết đến thực hành về kĩ năng chọn và phân tích dẫn chứng
trong văn nghị luận. Học sinh sẽ hiểu đúng về dẫn chứng, hiểu rõ lí thuyết
5


về kĩ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài văn nghị luận: vai trò, vị
trí từ đó có một “công cụ” đắc lực để dễ dàng thực hành chọn và phân tích
dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học một cách thuần thục. Từ việc
hiểu chính xác và có thể vận dụng thuần thục kĩ năng chọn và phân tích
dẫn chứng trong bài nghị luận văn học, HS sẽ tạo sẽ tạo độ rộng và độ sâu
trong bài nghị luận văn học, góp phần nâng cao chất lượng bài viết trong
các kì kiểm tra, đặc biệt là các kì thi tuyển chọn học sinh giỏi Ngữ văn
vòng tỉnh, olympic, quốc gia.
- Thứ hai, đối với người giáo viên: Chuyên đề là một cơ hội để các
thầy cô giáo nhìn lại, suy ngẫm về những kinh nghiệm của bản thân, là cơ
hội trao đổi với đồng nghiệp về chuyên môn, đặc biệt là phân môn làm văn
về kĩ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học:
+ Chỉ ra sự cần thiết của việc đưa dẫn chứng trong bài văn nghị
luận văn học.
+ Kĩ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài văn nghị luận
văn học cho học sinh giỏi Ngữ văn.
+ Mô hình hóa các bước chọn và phân tích dẫn chứng trong bài
nghị luận văn học thành sơ đồ.
+ Vận dụng lý thuyết thành các bài thực hành mẫu về chọn và

Việc phân tích dẫn chứng trong văn nghị luận đòi hỏi học sinh không chỉ
nắm vững kiến thức văn học mà còn phải có những hiểu biết về các lĩnh vực:
lịch sử, chính trị, xã hội, văn hóa…Vì vậy, ngoài những phương pháp kể trên,
chúng tôi còn sử dụng phương pháp liên ngành để nghiên cứu và tổng hợp tài
liệu thuộc các ngành khoa học có liên quan, nhằm rèn luyện và củng cố kĩ
năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học của học
sinh.
4.4. Phương pháp mô hình hóa
Mô hình hóa là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng, các quá trình
giáo dục dựa vào mô hình của chúng là sự nghiên cứu gián tiếp đối tượng
giáo dục. Chúng tôi sử dụng phương pháp này để mô hình hóa các lý thuyết

7


thành một cấu trúc đơn giản dễ đưa vào thực tiễn sử dụng trong quá trình tạo
lập văn bản nghị luận văn học của học sinh.
4.5. Phương pháp quan sát sư phạm
Chúng tôi sử dụng phương pháp quan sát sư phạm như một phương
pháp thu thập thông tin về thực tế giảng dạy, thực trạng việc đưa dẫn chứng
trong bài văn nghị luận của học sinh trung học phổ thông và những kinh
nghiệm trong suốt quá trình giảng dạy từ đó có thể khái quát rút ra những
điểm còn tồn tại và chỉ ra nguyên nhân, hướng khắc phục về việc đưa dẫn
chứng trong bài nghị luận văn học của học sinh.
5. Kết cấu
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Thực trạng việc đưa dẫn chứng trong bài văn nghị luận của
học sinh giỏi Ngữ văn trung học phổ thông hiện nay
Chương 3: Kĩ năng chọn dẫn chứng trong bài nghị luận văn học cho
học sinh giỏi Ngữ văn


Phó Giáo sư Đỗ Ngọc Thống định nghĩa trong Giáo trình Làm văn:
“Văn nghị luận là loại văn trong đó người viết đưa ra những lí lẽ, dẫn
chứng về một vấn đề nào đó và thông qua cách thức bàn luận mà làm
cho người đọc hiểu, tin và tán đồng những ý kiến của mình và hành
động theo những điều mà mình đề xuất. (Đỗ Ngọc Thống, 2007, tr.37)
Như vậy, khái niệm văn nghị luận nhìn chung là một loại văn mà

người viết đưa ra lí lẽ dẫn chứng, bàn bạc để làm sáng tỏ một vấn đề. Văn
nghị luận mang tính thuyết phục người nghe, người đọc theo quan điểm,
nhận định mà mình đề xuất.
Dẫn theo Phó Đỗ Ngọc Thống, chúng tôi thống nhất chia văn nghị luận
thành hai loại: Nghị luận văn học và nghị luận xã hội. Trọng tâm của chuyên
đề sẽ nghiên cứu sâu về nghị luận văn học. Chúng tôi đưa ra khái niệm, đặc
điểm của văn bản nghị luận nói chung và nghị luận văn học nói riêng để làm
nền tảng cơ sở lí thuyết vững chắc để nghiên cứu sâu hơn trong bài nghị luận
văn học.
1.1.1.2. Đặc trưng của văn nghị luận
− Tính lập luận chặt chẽ: Văn nghị luận là đưa ra lí lẽ, lập luận, lập luận
cần có sự lôgic hệ thống và tính chặt chẽ. Chặt chẽ được hiểu trong hệ
thống lập luận: luận điểm, luận cứ, luận chứng phải thống nhất. Từng
9


yếu tố một trong lập luận không được mâu thuẫn với nhau, tất cả phải
phục vụ cho luận điểm để làm sáng tỏ vấn đề. Thêm nữa chặt chẽ còn
trong cách hành văn, văn nghị luận cần có sự cứng mềm nhất định như
một nghệ thuật lập luận để thuyết phục.
− Tính thuyết phục cao: Đây là một đặc trưng then chốt, một từ khóa
quan trọng của văn nghị luận. Trong bài văn nghị luận, cần có sự nhào

- Khái niệm: Nghị luận văn học là gì? Trong một số định nghĩa về văn
nghị luận, Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã có một nhận định khá đầy đủ về
nghị luận nói chung và nghị luận văn học nói riêng: “Văn nghị luận nói chung
là dùng lí lẽ, lập luận, bàn bạc làm sáng tỏ một vấn đề nào đó để thuyết phục
người đọc, người nghe” (Nguyễn Đăng Mạnh, 1998, tr.7)
Đối tượng của bài văn nghị luận văn học phải là các vấn đề trong phạm vi
tác phẩm văn học như: tác phẩm, tác giả, trào lưu, xu hướng, giai đoạn văn
học, chức năng, nhiệm vụ của văn học...(Nguyễn Đăng Mạnh, 1998, tr.18)
“Đối tượng của nghị luận văn học là tất cả các vấn đề văn học có nghĩa là
rất phong phú và đa dạng.” (Nguyễn Đăng Mạnh, 1998, tr.21)
Như vậy nghị luận văn học là dùng lí lẽ, lập luận, bàn bạc làm sáng tỏ vấn
đề để thuyết phục người đọc, người nghe về một vấn đề trong văn học như:
tác phẩm, tác giả, trào lưu, xu hướng, giai đoạn văn học, chức năng, nhiệm vụ
của văn học.
- Phân loại: Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã chia nghị luận văn học thành
ba loại:
+ Loại yêu cầu hiểu và cảm thụ tác phẩm văn học
+ Loại yêu cầu nắm được một vấn đề văn học sử
+ Loại yêu cầu hiểu được một vấn đề lí luận văn học
Có thể nói cách chia nghị luận văn học thành 3 loại của giáo sư Nguyễn
Đăng Mạnh có một sự lý giải riêng. Trên cơ sở kế thừa quan điểm của giáo sư
Nguyễn Đăng Mạnh, cơ sở của khung chương trình của Bộ giáo dục đã phân
chia trong chương trình sách giáo khoa và theo kinh nghiệm giảng dạy, chúng
tôi chia các dạng bài nghị luận văn học như sau:
+ Nghị luận về một bài thơ hoặc đoạn thơ
11


+ Nghị luận về một tác phẩm hoặc đoạn trích văn xuôi
+ Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học

Xét trong kết cấu đoạn văn, để có sự lập luận sâu sắc cần có hệ thống:
luận điểm, luận cứ, luận chứng. Về dẫn chứng, đã có nhiều cách định nghĩa
khác nhau về dẫn chứng có nhiều cách định nghĩa khác nhau:
− Trong công trình nghiên cứu Từ điển Hán Việt, Phan Văn Các đã định
nghĩa luận chứng như sau:
+ Nghĩa 1: Là chứng cớ làm chỗ dựa cho lập luận (Luận chứng đầy đủ và
chính xác).
+ Nghĩa 2: Sự chứng minh một phán đoán là đúng hay không, dựa trên
phán đoán đã biết là đúng. (Bản luận chứng).
− Trong tài liệu Làm văn 12, Phó Giáo sư Đỗ Ngọc Thống đã định
nghĩa:“Luận chứng là sự phối hợp, tổ chức các lí lẽ và dẫn chứng để

12


thuyết minh cho luận điểm. Thực chất của luận chứng, là cách đưa luận
cứ vào quĩ đạo lôgic để tạo thành sức thuyết phục cho luận điểm”.
− Từ điển Wiktionary định nghĩa về dẫn chứng:
+ Danh từ: Dẫn chứng là “Cái được đưa ra để chứng minh làm cơ
sở cho điều nói ra, viết ra”
+ Động từ: Dẫn thí dụ, bằng cớ để chứng minh cho điều nói ra,
viết ra là đúng, là có cơ sở. Dẫn chứng ra nhiều cứ liệu xác
thực.
Như vậy, dẫn chứng là chứng cớ làm chỗ dựa vững chắc cho lập luận
tăng thêm sức chính xác, thuyết phục cho luận cứ, luận điểm trong bài văn
nghị luận. Luận chứng là cách gọi đầy đủ của dẫn chứng và sự phân tích,
bình luận dẫn chứng trong bài văn nghị luận.
1.2.2. Dẫn chứng trong nghị luận văn học
Dẫn chứng trong văn nghị luận văn học là những chứng cứ tạo nên tính
thuyết phục cho bài văn nghị luận văn học. Trong bài văn nghị luận nói

đề về tư liệu” (Nguyễn Đăng Mạnh, 1998, tr.59)

-

“Dẫn chứng mở rộng là loại dẫn chứng ngoài phạm vi trên do người
viết tự viện dẫn ra để liên hệ, đối chiếu, so sánh nhằm làm sáng tỏ
thêm ý đang được bàn bạc” (Nguyễn Đăng Mạnh, 1998, tr.59)

Ví dụ đề bài: Nhận định về thơ Tố Hữu, có ý kiến cho rằng: “Nổi lên trong
thơ Tố Hữu như một thành công tuyệt đẹp là những sáng tác về Bác Hồ kính
yêu”
-

Dẫn chứng bắt buộc: Các tác phẩm thơ của Tố Hữu viết về chủ tịch
Hồ Chí Minh: Bác ơi, Sáng tháng năm, Theo chân Bác, Cánh chim
không mỏi, Hồ Chí Minh, Một khúc ca, Trưa tháng Tư, Sài Gòn…
Có thể là một hoặc hai trong một số các sáng tác của Tố Hữu đề làm
rõ vấn đề những sáng tác thành công về Hồ Chủ tịch kính yêu.

-

Dẫn chứng mở rộng: Các tác phẩm viết về Bác Hồ của các tác giả
khác. Có thể là: Bác Hồ - Người cho em tất cả của Hoàng Long,
Hoàng Lân, Cháu nhớ Bác Hồ của Thanh Hải (8/1956), Đêm nay
Bác không ngủ của Minh Huệ (1951), Em gặp Bác Hồ của Trần
Đăng Khoa, Bộ đội Ông Cụ của Nông Quốc Chấn…Trong quá trình

14





o Chia vấn đề thành những khía cạnh nhỏ
o Khái quát tổng hợp, phân tích bao giờ cũng gắn với tổng hợp. Đó
là bản chất của thao tác phân tích trong văn nghị luận
- Cách phân tích:
o Các yếu tố, các phương tiện nội bộ tạo nên đối tượng và quan hệ
giữa chúng với nhau
o Quan hệ giữa đối tượng với các đối tượng liên quan:
 Nguyên nhân – kết quả
 Kết quả– nguyên nhân
o Thái độ, sự đánh giá của người phân tích đối với đối tượng được
phân tích.
Chúng tôi đưa ra khái niệm, cách phân tích của thao thác lập luận phân tích
đề làm rõ thao tác phân tích dẫn chứng: Thao tác lập luận phân tích nằm trong
hệ thống các thao tác lập luận của văn bản nghị luận: Thao tác lập luận giải
thích, thao tác lập luận phân tích, thao tác lập luận chứng minh, thao tác lập
luận bình luận, thao tác lập luận so sánh, thao tác lập luận bác bỏ. Nhưng
trong quá trình làm văn, không thể tách rời các thao tác một cách rõ ràng.
Như khi phân tích một dẫn chứng không chỉ đơn thuần dùng một thao tác lập
luận phân tích mà song song đó người viết cần sử dụng thao tác bình luận, so
sánh để đào sâu trong việc khai thác dẫn chứng.
Người viết phân tích dẫn chứng cần chia, tách đối tượng thành các yếu
tố theo những tiêu chí, quan hệ nhất định (quan hệ giữa các yếu tố tạo nên đối
tượng, quan hệ nhân quả, quan hệ giữa đối tượng với các đối tượng có liên
quan, quan hệ giữa người phân tích với đối tượng được phân tích...).
Phân tích cần đi sâu vào từng yếu tố, từng khía cạnh, song cần đặc biệt
lưu ý đến quan hệ giữa chúng với nhau trong một chỉnh thể toàn vẹn, thống
nhất.
Khi đã chia nhỏ vấn đề để làm rõ, người viết có thể sử dụng thao tác so

vai trò của dẫn chứng bởi lẽ, khi người viết phân tích đề triển khai ý để hình
thành hệ thống luận điểm. Vì một số lý do, đôi khi trong quá trình giảng dạy
17


trên lớp thầy cô đã cung cấp các ý chính, những ý đó có thể trở thành các luận
điểm. Tuy nhiên khó khăn là cách lập luận, đưa ra những luận cứ, luận chứng
như thế nào để phù hợp? Trong khi đó dẫn chứng là cơ sở để tái hiện cho luận
điểm và minh chứng cho những gì người viết đã trình bày trước.
Minh chứng xác thực – tạo nên tính thuyết phục cho bài văn nghị luận.
Một trong những đặc trưng cơ bản nhất của văn nghị luận là thuyết phục
người đọc, người nghe. Có như thế mới thấy dẫn chứng giữ một vị trí then
chốt, là một tiêu chí đánh giá, để xác minh tính chính xác của lập luận mà
người viết đưa ra. Luận cứ của lập luận phải chân thực, xác đáng và toàn diện.
Mối quan hệ giữa luận điểm và luận cứ rất khăng khít, chặt chẽ: Luận điểm
làm sáng rõ đứng được là dựa vào luận cứ, còn luận cứ, luận chứng nêu ra để
phục vụ cho luận điểm. Trong nội bộ các luận cứ, lí lẽ và dẫn chứng cũng soi
sáng cho nhau: lí lẽ tạo cho dẫn chứng khả năng thuyết minh cho luận điểm,
còn dẫn chứng thực tế lại làm cho lí lẽ có nội dung, có sức nặng. [tr14]
Thêm nữa việc chọn dẫn chứng là một tiêu chí đánh giá học sinh, đặc biệt
là học sinh lớp chuyên, lớp chọn. Để có được tính thuyết phục một cách sâu
sắc cần có một sự sắp xếp “có ý đồ”. Sự sắp xếp “có ý đồ” đó không phải bất
kì một học sinh nào cũng làm được khi làm bài văn nghị luận văn học. Tìm
được dẫn chứng đã là một bước khó nhưng hệ thống và sắp xếp lại là quan
trọng. Nhưng quan trọng hơn là cách viết, bàn luận dẫn chứng ấy như thế nào
để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận một cách thuyết phục. Từ đó, qua việc hình
thành hệ thống dẫn chứng một cách lôgic, khoa học bàn luận dẫn chứng một
cách sâu sắc là một tiêu chí để giáo viên đánh giá năng lực học sinh trong viết
văn, và đó cũng là điều kiện cần của học sinh chọn, học sinh giỏi môn Văn
cần trang bị cho mình.



sinh, mở rộng bình luận so sánh với các tác phẩm khác, đôi khi đưa dẫn
chứng vào một cách chưa chuẩn xác.
Việc đưa dẫn chứng chưa sát với vấn đề nghị luận là lỗi cơ bản thường
gặp ở các dạng đề mở, khái quát, giai đoạn văn học, lí luận văn học. Các dạng
đề này khó hơn dạng đề nghị luận về một tác phẩm cụ thể. Với dạng đề này,
đòi hỏi năng lực của học sinh nhìn nhận ra được vấn đề trong đề bài đặt ra, từ
đó đưa hệ thống luận điểm và luận cứ, luận chứng. Tuy nhiên, không phải học
sinh nào cũng đủ năng lực để phân tích đề và triển khai ý tốt. Từ việc chưa
hiểu đúng vấn đề thành ra “tán hươu tán vượn” dẫn đến chọn dẫn chứng sai
trong bài nghị luận văn học.

20


Ví dụ: Bài kiểm tra chọn HSG Văn, học sinh trường THPT chuyên Hoàng Lê
Kha, 2018

Đề bài: Cuộc đời đầy những nỗi buồn vì thế phải chăng thiên chức của nhà
văn là lắng nghe và làm vơi đi nỗi buồn của con người?
Bằng trải nghiệm văn học của mình, anh (chị) hãy trả lời câu hỏi trên.
Đối với đề bài này, học sinh cần làm sáng tỏ vấn đề lắng nghe nỗi buồn
gì? Vì sao nhà văn lại làm vơi đi nỗi buồn. Nhưng học sinh lại hiểu vấn đề
21


nghị luận thành tinh thần lạc quan trong các tác phẩm văn học yêu nước. Như
thế từ việc chưa hiểu rõ vấn đề nghị luận dẫn đến chọn sai dẫn chứng trong
bài văn nghị luận văn học.

ở hướng nghiên cứu về lí luận văn học. Đây là một kiến thức có thể gọi là mới
23


đối với các em, cũng chính vì vậy mà việc hiểu và vận dụng kiến thức lí luận
một các thuần thục vẫn là một vấn đề trăn trở.
2.2. Chọn dẫn chứng chưa chọn lọc
Một trong những thực trạng nữa là đưa dẫn chứng thiếu chọn lọc: quá
nhiều, quá ít. Vấn đề đối với một số học sinh có ít kiến thức về các tác phẩm
văn học, trong bài nghị luận dẫn chứng của các em thường nghèo nàn, một
hoặc một vài dẫn chứng. Điều này dẫn đến dẫn chứng chưa đủ để làm sáng tỏ
luận điểm. Đối lập với vấn đề đưa quá ít dẫn chứng là tình trạng “ham kiến
thức” học sinh đưa ra quá nhiều dẫn chứng trong một luận điểm. Trong một
bài nghị luận văn học sẽ có một hệ thống luận điểm. Việc học sinh đưa quá
nhiều dẫn chứng cho một luận điểm dẫn đến bài văn khá dài, loãng ý và
không để lại ấn tượng nếu các dẫn chứng cứ “nhạt” và đều đều nhau. Đôi khi
việc đưa quá nhiều dẫn chứng sẽ dẫn đến tình trạng học sinh liệt kê dẫn chứng
nhưng chưa làm rõ được ý nghĩa của các dẫn chứng mà mình đã đưa vào bài
văn nghị luận.
Ví dụ khi đề bài yêu cầu phân tích một nhân vật trong tác phẩm văn
xuôi, người viết cần chọn lọc những chi tiết, tình tiết quan trọng để làm nổi
bật: tính cách, vẻ đẹp, ý nghĩa của nhân vật, đặt nhân vật trong mối quan hệ
với các nhân vật khác. Khi phân tích cần hệ thống ý, thì học sinh lại sa vào kể
lại câu chuyện:

24


(Bài kiểm tra chọn HSG Văn, học sinh trường THPT chuyên Hoàng Lê Kha,
2018)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status