Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần đào tạo và phát triển công nghệ Hà Nội - Pdf 60

1
TÓM LƯỢC
Là một doanh nghiệp đã có thời gian hoạt động hơn 15 năm trên địa bàn Hà Nội nơi được đánh giá là thị trường năng động, tiềm năng. Công ty cổ phần đào tạo và phát
tiển công nghệ Hà Nội đã và đang ngày càng khẳng định được vị thế của mình trong
tâm trí khách và khẳng định vị thế trên thị trường xuất khẩu lao động. Qua thời gian
thực tập tại công ty, trước một số thực trạng về hoạt động kinh doanh của công ty cũng
với sự hướng dẫn của Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Trần Hùng, em đã hoàn thành
được đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công
ty cổ phần đào tạo và phát triển công nghệ Hà Nội”. Qua quá trình nghiên cứu, hoàn
thành khóa luận, em càng nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp nói chung và của Công ty cổ phần đào tạo và phát
triển công nghệ Hà Nội nói riêng. Dựa trên tình hình thực tế của công ty, cũng với
những lý thuyết chuyên môn, chuyên ngành đã học và sự hướng dẫn của Giáo viên, kết
quả đạt được của bài khoá luận gồm:
Thứ nhất: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của công ty kinh
doanh, bao gồm: các khái niệm, đặc điểm, nội dung về năng lực canh tranh.
Thứ hai: Sử dụng các phương pháp nghiên cứu để phân tích và đánh giá thực
trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần đào tạo và phát triển công nghệ Hà
Nội, từ đó rút ra những điểm mạnh, hạn chế của công ty.
Thứ ba: Trên cơ sở lý luận đã được hệ thống cùng với những đánh giá khách
quan về thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần đào tạo và phát triển công
nghệ Hà Nội đưa ra các đề xuất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty
Em rất mong được thầy cô góp ý để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!


2
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực tập và làm đề tài khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Nâng
cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần đào tạo và phát triển công nghệ Hà Nội”
em đã nhận được rất nhiều sự tận tình giúp đỡ.

Hình 2.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần đào tạo và phát triển
công nghệ Hà Nội
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần đào tạo và
phát triển công nghệ Hà Nội 2016-2018
Bảng 2.2: Tổng mức và cơ cấu vốn kinh doanh của Công ty Cổ phần đào
tạo và phát triển công nghệ Hà Nội năm 2016- 2018
Bảng 2.3: Tổng mức và cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của Công ty cổ phần
đào tạo và phát triển công nghệ Hà Nội năm 2016- 2018
Bảng 2.4: Biến động về số lượng và chất lượng lao động của Công ty cổ
phần đào tạo và phát triển công nghệ Hà Nội 2016-2018
Bảng 2.5: Cơ cấu lao động của Công ty cổ phần đào tạo và phát triển công
nghệ Hà Nội 2016-2018
Bảng 2.6: So sánh chi phí đơn hàng đến khi xuất cảnh của HTD và các Đối
thủ cạnh tranh
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ các đơn hàng của Công ty cổ phần đào tạo và phát triển
công nghệ Hà Nội 2016-2018
Biểu đồ 2.2: Số thực tập sinh tuyển dụng – xuất cảnh của Công ty cổ phần
đào tạo và phát triển công nghệ Hà Nội 2016-2018
Bảng 2.7: Bảng đánh giá tổng hợp năng lực cạnh tranh của công ty HTD
và đối thủ cạnh tranh
Bảng 3.1: Mục tiêu của Công ty cổ phần đào tạo và phát triển công nghệ
Hà Nội 2019 – 2021

Trang
22
23
25
30
31
32

hướng biến động của môi trường kinh doanh, để từ đó tìm ra cho mình những chiến
lược mở rộng và phát triển thị trường mới đúng đắn, phù hợp nhằm tránh khỏi những
nguy cơ, rủi ro, đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững của mình. Nắm bắt được
thời cơ thuận lợi đó trong những năm qua Việt Nam đã đề ra những chính sách, mục
tiêu phương hướng cho việc xuất khẩu lao động nhằm giải quyết việc làm cho người
lao động. Với định hướng xuất khẩu lao động rõ ràng và phù hợp với xu hướng phát
triển của nền kinh tế đã được Đảng và Nhà nước xác định như là một trong những lĩnh
vực đối ngoại đặc biệt, một trong những chiến lược để phát triển nền kinh tế đất nước.
Qua quá trình thực tập và làm việc thực tế tại Công ty cổ phần đào tạo và phát
triển công nghệ Hà Nội, em nhận thấy công ty đang từng bước tạo dựng và nâng cao


6
năng lực cạnh tranh của mình và dần mở rộng thị phần của công ty trên thị trường.
Cùng với đó, tính chất của ngành cũng khá là mới, có tiềm năng phát triển mạnh trong
tương lai thì mức độ cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt và quyết liệt hơn khi hiện nay
sự tham gia của nhiều đối thủ. Vì vậy, em đã chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh
tranh của Công ty cổ phần đào tạo và phát triển công nghệ Hà nội” để nghiên cứu và
tìm ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty.
2. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu và tài liệu xuất bản
có liên quan đến quản trị chiến lược, nâng cao năng lực cạnh tranh nói chung. Có thể
kể đến một số công trình điển hình như:
Michael E. Porter (Dịch giả Nguyễn Phúc Hoàng), “Chiến lược cạnh tranh”, DT
Books & NXB Trẻ (2016). Tác phẩm phân tích về các ngành công nghiệp đã thâu tóm
toàn bộ sự phức tạp của cạnh tranh ngành vào năm yếu tố nền tảng. Ông giới thiệu một
trong những công cụ cạnh tranh mạnh mẽ nhất: ba chiến lược cạnh tranh phổ quát - chi
phí thấp, khác biệt hóa và trọng tâm, những chiến lược đã biến định vị chiến lược trở
thành một hoạt động có cấu trúc. Ông chỉ ra phương pháp cạnh tranh theo chi phí và
giá tương đối và trình bày một góc nhìn hoàn toàn mới về cách thức tạo và phân chia

Nguyễn Tuấn Anh (Năm 2012) “Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
của Siêu Thị Điện Máy TOPCARE trên địa bàn Hà Nội” Khóa luận tốt nghiệp - Đại
học thương mại.
Phạm Thị Thành (Năm 2014) “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ
phần viễn thông FPT” Khóa luận tốt nghiệp - Đại học thương mại.
Thông qua các công trình nghiên cứu trên, có thể thấy rằng các đề tài đều đã đưa
ra được những phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh thực tiễn, và các đề xuất tại
đơn vị nghiên cứu, đồng thời tìm ra giải pháp thích hợp. Tuy nhiên, các đề tài này
không nghiên cứu tại Công ty Cổ phần đào tạo và phát triển công nghệ Hà Nội. Vì vậy,
đề xuất nghiên cứu đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần đào
tạo và phát triển công nghệ Hà Nội” là đề tài mới, mang tính cần thiết.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu: Thông qua việc làm rõ cơ sở lý luận và phân tích thực
trạng, đưa ra được một giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ
phần đào tạo và phát triển công nghệ Hà Nội. Để đạt được mục tiêu này thì đề tài tập
trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
Một là, hệ thống hóa về năng lực canh tranh của doanh nghiệp hiện nay trong nền
kinh tế thị trường
Hai là, phân tích làm rõ thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty cổ
phần đào tạo và phát triển công nghệ Hà Nội


8
Ba là, đề xuất một số giải pháp để nâng cao năng lực canh tranh tại Công ty cổ
phần đào tạo và phát triển công nghệ Hà Nội
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-

Đối tượng nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Công



9
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan về cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Ngày nay, thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong nền
kinh tế thị trường, cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực của sự phát triển kinh
tế - xã hội. Do vậy, cạnh tranh có thể được hiểu như sau:
Theo nhà kinh tế học người Mỹ M. E Porter (1996) : Cạnh tranh là giành lấy thị
phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức
lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự
bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả
giá cả có thể giảm đi.
Trong Từ điển Bách khoa Việt nam (tập 1) có viết: “Cạnh tranh (trong kinh
doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương
nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu,
nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất”. Theo định nghĩa
này, cạnh tranh nhằm mang lại hiệu quả sản xuất kinh doanh bằng cách tạo ra sự ganh
đua, giành điều kiên thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh.
Theo Michael Porter: “Cạnh tranh, là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số
đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các DN. Tuy nhiên, bản chất của
cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là DN phải tạo ra và mang
lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể
lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh.” Định nghĩa này cho thấy cạnh
tranh mang tính chất lành mạnh, nhằm phục vụ nhu cầu khách hàng ngày một tốt hơn
và gia tăng thị phần, và là một cuộc tranh tài giữa các doanh nghiệp, kết quả là động
lực phát triển của kinh tế - xã hội.
Như vậy có thể hiểu đầy đủ Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ
thể kinh tế ganh đua nhau để chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng và các điều

các nghành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất. Trong quá trình này có
sự phận bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giữa các nghành, kết quả là hình thành tỷ suất
lợi nhuận bình quân.

-

Căn cứ vào tính chất cạnh tranh được chia làm 3 loại:
+ Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Cometition): Là hình thức cạnh tranh giữa nhiều
người bán trên thị trờng trong đó không người nào có đủ ưu thế khống chế giá cả trên
thị trường. Các sản phẩm bán ra đều được người mua xem là đồng thức, tức là không
khác nhua về quy cách, phẩm chất mẫu mã. Để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh các


11
doanh nghiệp buộc phải tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành hoặc làm khác biệt hoá
sản phẩm của mình so với các đối thủ cạnh tranh.
+ Cạnh tranh không hoàn hảo (Imperfect Competition): Là hình thức cạnh tranh
giữa những người bán có các sản phẩm không đồng nhất với nhau. Mỗi sản phẩn đều
mang hình ảnh hay uy tín khác nhau cho nên để giành đựơc ưu thế trong cạnh tranh,
người bán phảo sử dụng các công cụ hỗ trợ bán như: Quảng cáo, khuyến mại, cung cấp
dịch vụ, ưu đãi giá cả, đây là loại hình cạnh tranh phổ biến trong giai đoạn hiện nay.
+ Cạnh tranh độc quyền (Monopolistic Competition): Trên thị trường chỉ có nột
hoặc một số ít người bán một sản phẩm hoặc dịch vụ vào đó, giá cả của sản phẩm hoặc
dịch vụ đó trên thị trường sẽ do họ quyết định không phụ thuộc vào quan hệ cung cầu.
-

Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh chia thành 2 loại:
+ Cạnh tranh lành mạnh: Là cạnh tranh đúng luật pháp, phù hợp với chuẩn mực
xã hội và được xã hội thừa nhận, nó thường diễn ra sòng phẳng, công bằng và công
khai.

thấp chi phí đầu vào, nâng cao chất lượng hàng hoá nhằm làm cho giá trị hàng hoá,
dịch vụ cá biệt của mình thấp hơn giá trị xã hội. Muốn vậy các doanh nghiệp phải
thường xuyên cải tiến công cụ lao động, hợp lý hoá sản xuất, nhanh chóng ứng dụng
những thành tựu khoa học - kỹ thuật và quản lý hiện đại vào quá trình sản xuất kinh
doanh. Thực tiễn đã chứng minh các doanh nghiệp trên thế giới tồn tại và phát triển
được cần có dây chuyền công nghệ mới, hiện đại có phương pháp tổ chức quản lý
khoa học.

-

Thông tin:
Thông tin là một công cụ cạnh tranh lợi hại của doanh nghiệp. Thông tin về thị
trường mua bán, thông tin về tâm lý thị hiếu khách hàng, về giả cả, đối thủ cạnh
tranh... có ý nghĩa quyết định kinh doanh của doanh nghiệp. Đủ thông tin và xử lý
đúng thông tin, một mặt, giúp các doanh nghiệp hạn chế rủi ro trong kinh doanh. Mặt
khác, qua thông tin có thể tìm ra và tạo ra lợi thế so sánh của doanh nghiệp trên thương
trường, chuẩn bị và đưa ra đúng thời điểm những sản phẩm mới thay thế để tăng
cường sức cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ.

-

Phương thức phục vụ và thanh toán của doanh nghiệp.
Phương thức phục vụ và thanh toán là công cụ cạnh tranh khá quan trọng. Ai nắm
được công cụ này sẽ thắng trong cạnh tranh. Bởi vì, công cụ này tạo được sự tiện lợi
cho khách hàng. Phương thức phục vụ và thanh toán trước hết được thể hiện ở giai
đoạn của quá trình bán hàng: trước khi bán hàng, trong quá trình bán hàng và sau khi
bán hàng.
Trước khi bán hàng, các Doanh nghiệp thực hiện các động tác như: Quảng cáo,
giới thiệu, hướng dẫn thị hiếu khách hàng. Những động tác này nhằm hấp dẫn, lôi cuối
khách hàng đến với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình. Trong quá trình bán

-

Các yếu tố mới sáng tạo và sự mạo hiểm, rủi ro
Trong kinh doanh, lợi nhuận doanh nghiệp thường tỉ lệ thuận với sự mạo hiểm,
rủi ro. Các chủ thể kinh doanh có khuynh hướng đầu tư kinh doanh (kể cả đầu tư
nghiên cứu khoa học) vào những mặt hàng mới, những lĩnh vực mới mà rủi ro ở đó
thường cao. Đây cũng là khuynh hướng khách quan, vì nó hy vọng thu được lợi nhuận
cao trong tương lai. Mặt khác, nó giảm được áp lực từ phía các đối thủ cạnh tranh hiện
tại. Sự mạo hiểm chấp nhận rủi ro nhằm thu được lợi nhuận lớn bằng cách đi đầu trong
kinh doanh là công cụ cạnh tranh cực kỳ hiệu quả, những cũng cực kỳ nguy hiểm
trong quá trình cạnh tranh. Việc sử dụng hiệu quả công cụ này đòi hỏi các doanh
nghiệp phải có tài năng và bản lĩnh.
1.1.4. Vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng, và trong
lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào
sự phát triển kinh tế. Sự cạnh tranh buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén,


14
nắm bắt tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, tích cực nâng cao tay nghề, thường
xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất
vào trong sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản xuất
để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có
biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ và kém phát triển.
Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt cho người tiêu dùng. Người sản xuất
phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản
xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ trong đó cao hơn... để đáp ứng với
thị hiếu của người tiêu dùng. Cạnh tranh là tiền đề của hệ thống free-enterprise vì càng
nhiều doanh nghiệp cạnh tranh với nhau thì sản phẩm hay dịch vụ cung cấp cho khách
hàng sẽ càng có chất lượng tốt hơn. Nói cách khác, cạnh tranh sẽ đem đến cho khách

Theo Nguyễn Bách Khoa (2004) đã định nghĩa: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
được hiểu là tích hợp với các khả năng và các nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần,
lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó trong mối quan hệ với đối
thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định.
Những định nghĩa trên cho thấy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết
phải được tạo ra từ khả năng, thực lực của doanh nghiệp. Như vậy năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp có thể hiểu là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong,
bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và
phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh
tranh trên thị trường
1.2.2 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
-

Nguồn lực tài chính
Bất kỳ ở khâu hoạt động nào của doanh nghiệp dù là đầu tư, mua sắm, sản xuất
đều cần phải có vốn. Một doanh nghiệp có tiềm năng về tài chính lớn sẽ có nhiều
thuận lợi trong việc đổi mới công nghệ, đầu tư mua sắm trang thiết bị đảm bảo nâng
cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành để duy trì, nâng cao khả năng cạnh tranh và
củng cố vị trí của mình trên thị trường. Công ty có hoạt động tài chính tốt có thể làm
giảm lượng hàng tồn kho, thời gian quay vòng vốn, ưu đãi về tín dụng, thu nhiều lợi
nhuận, cải tiến được tốt hơn chi phí sản xuất. Ngược lại, nếu không có nguồn vốn dồi
dào doanh nghiệp sẽ bị kéo dài thời gian quay vòng vốn, bị hạn chế trong sử dụng
công nghệ hiện đại, hạn chế việc đào tạo và nâng cao trình độ cán bộ và nhân viên, hạn
chế triển khai nghiên cứu, ứng dụng. Qua đó chứng tỏ, nguồn lực tài chính ngày càng
có vị trí then chốt quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong thực
tế thì không phải doanh nghiệp nào cũng có thể tự có đủ nguồn vốn để sản xuất kinh


16
doanh của mình. Vì vậy, quan trọng nhất là doanh nghiệp có kế hoạch huy động vốn

hưởng của doanh nghiệp đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp. Xây dựng thương
hiệu là vấn đề đòi hỏi thời gian, khả năng tài chính và ý chí, không ngừng nâng cao
chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao cũng
có nghĩa là họ đã xây dựng được thương hiệu mạnh, thương hiệu đó luôn được khách
hàng nhớ và nhận biết rõ ràng. Qua việc xây dựng thành công một thương hiệu người
ta có thể đánh giá về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó vì: Thương hiệu làm


17
cho khách hàng tin tưởng chất lượng, yên tâm và tự hào khi sử dụng thương hiệu đó.
Thương hiệu tốt giúp tạo dựng hình ảnh công ty tốt và nhanh chóng thu hút được
những khách hàng mới, vốn đầu tư, thu hút nhân tài. Thương hiệu tốt giúp phân phối
sản phẩm dễ dàng hơn, tạo thuận lợi khi tìm kiếm thị trường mới. Uy tín cao của
thương hiệu tạo lòng trung thành của khách hàng đối với sản phẩm, đem lại lợi thế
cạnh tranh cho doanh nghiệp, giúp cho việc triển khai khuếch trương sản phẩm dễ
dàng hơn, đồng thời giảm chi phí tiếp thị, giúp doanh nghiệp có điều kiện phòng thủ,
chống lại sự cạnh tranh quyết liệt về giá. Để có một thương hiệu mạnh doanh nghiệp
phải xây dựng một chiến lược về thương hiệu nằm trong chiến lược marketing tổng thể
căn cứ các kết quả về nghiên cứu thị trường, đồng thời phải đăng ký thương hiệu trong
nước và ngoài nước. Như vậy thương hiệu mới trở thành một tài sản thực sự có giá trị
đối với tất cả mọi doanh nghiệp.
-

Cơ sở vật chất kỹ thuật
Tình trạng máy móc thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng một cách sâu sắc đến
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nó là yếu tố vật chất quan trọng bậc nhất thể
hiện năng lực sản xuất của mỗi doanh nghiệp và tác động trực tiếp đến chất lượng sản
phẩm, đến giá thành và giá bán sản phẩm. Có thể khẳng định rằng một doanh nghiệp
với một hệ thống máy móc thiết bị và công nghệ tiên tiến cộng với khả năng quản lý
tốt sẽ làm ra sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ từ đó nâng cao khả năng cạnh

doanh nghiệp khi áp dụng chính sách định giá này.
+ Chính sách định giá cao: Là chính sách định giá cao hơn thị trường hàng hóa.
Chính sách này áp dụng cho các doanh nghiệp có sản phẩm độc quyền hay dịch vụ độc
quyền không bị cạnh tranh.
+ Chính sách giá phân biệt: Nếu Đối thủ cạnh tranh chưa có mức giá phân biệt
thì cũng là một thứ vũ khí cạnh tranh không kém phần lợi hại của doanh nghiệp. Chính
sách giá phân biệt của doanh nghiệp được thể hiện là: với cùng một loại sản phẩm
nhưng có nhiều mức giá khác nhau và mức giá đó được phân biệt theo các tiêu thức
khác nhau.
+ Chính sách phá giá: Giá bán thấp hơn thị trường, thậm chí thấp hơn giá thành.
Doanh nghiệp dùng vũ khí giá làm công cụ cạnh tranh để đánh bại đối thủ ra khỏi thị
trường. Nhưng bên cạnh vũ khí này phải mạnh về tiềm lực tài chính, về khoa học công
nghệ, uy tín và sản phẩm trên thị trường. Việc bán phá giá chỉ nên thực hiện trong một
thời gian nhất định mà chỉ có thể loại bỏ được Đối thủ cạnh tranh mà khó loại bỏ được
đối thủ lớn.
Cạnh tranh bằng cách hạ giá thành:
Giá thành đơn vị sản phẩm được tập hợp từ các chi phí về nguyên vật liệu, các
chi phí về nhân công sản xuất và các chi phí cố định phục vụ cho sản xuất chung.
Kiểm soát giá thành gồm có:
+ Giảm chi phí về nguyên vật liệu: Chi phí về nguyên vật liệu trong sản phẩm
thường chiếm trên 50% tổng giá thành sản phẩm. Có những loại sản phẩm chi phí về
nguyên vật liệu chiếm 70% tổng giá thành. Vì vậy, giảm chi phí về nguyên vật liệu là
biện pháp có ý nghĩa nhất trong việc thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm. Chi phí


19
nguyên vật liệu chiếm tỷ lệ cao trong giá thành sản xuất nên chỉ cần tiết kiệm một tỷ lệ
nhỏ chi phí nguyên vật liệu có ý nghĩa rất lớn đến kế hoạch giá thành.
+ Giảm chi phí về nhân công: Chi phí về nhân công trong giá thành sản phẩm
chiếm tỷ lệ khá cao. Thông thường chi phí nhân công trong giá thành đối với sản phẩm

ngày càng đòi hỏi phải có nhiều loại sản phẩm có chất lượng cao, thoả mãn nhu cầu


20
tiêu dùng. Doanh nghiệp cần phải thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh.
Để nâng cao chất lượng sản phẩm, trong quá trình sản xuất kinh doanh, cán bộ
quản lý chất lượng phải chú ý ở tất cả các khâu trên, đồng thời phải có chế độ kiểm tra
chất lượng sản phẩm ở tất cả các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh do các nhân
viên kiểm tra chất lượng thực hiện. Phải có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các bộ phận
Marketing với bộ phận nghiên cứu, thiết kế sản phẩm...
-

Hệ thống phân phối
Trước hết để tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp cần phải lựa chọn thị trường,
nghiên cứu thị trường và lựa chọn kênh phân phối để sản phẩm sản xuất ra được tiêu
thụ nhanh chóng, hợp lý và đạt được hiệu quả cao. Thông thường kênh phân phối của
doanh nghiệp được chia làm 5 loại: Đại lý, bán buôn, bán lẻ, người tiêu dùng, người
sản xuất. Bên cạnh việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp có thể đẩy mạnh các
hoạt động tiếp thị, quảng cáo, yểm trợ bán hàng để thu hút khách hàng.
Chính sách phân phối sản phẩm đạt được các mục tiêu giải phóng nhanh chóng
lượng hàng tiêu thụ, tăng nhanh vòng quay của vốn thúc đẩy sản xuất nhờ vậy tăng
nhanh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Thị phần:
Thị phần của hàng hoá của doanh nghiệp là phần trăm về số lượng hoặc giá trị
của hàng hoá của doanh nghiệp đã bán ra so với tổng số lượng hoặc tổng giá trị của tất
cả các hàng hoá cùng loại đã bán trên thị trường. Chỉ tiêu này phản ánh tình hình
chiếm lĩnh và khả năng chi phối thị trường của hàng hoá của doanh nghiệp.
1.2.4 Vai trò của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh tồn tại như một quy luật kinh tế khách

-

Môi trường văn hóa xã hội:
Văn hóa xã hội là yếu tố tác động nhanh và nhạy cảm với doanh nghiệp. Bên
cạnh các chuẩn mực chung của một quốc gia, dân tộc, nó còn tồn tại các chuẩn mực
riêng của từng vùng miền và của nhiều tầng lớp khác nhau. Doanh nghiệp có thể tạo
vào điều này tạo ra các lợi thế cạnh tranh cho mình và tránh được các tác động không
mong muốn từ thị trường.

-

Môi trường chính trị pháp luật
Yếu tố này được mọi doanh nghiệp quan tâm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi
ích cũng như nghĩa vụ của doanh nghiệp. Trước khi bắt tay vào kinh doanh một lĩnh
vực gì đó thì doanh nghiệp cũng phải xem xét tới hệ thống văn bản pháp lý của quốc
gia có cho phép kinh doanh mặt hàng đó hay không? các thủ tục cần thiết là gì? những
quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp ra sao? Do vậy, nếu một quốc gia có hệ thống
luật pháp cồng kềnh, phức tạp, chồng chéo, thủ tục hành chính rườm rà, nhiều tiêu
cực, quá nhiều cửa, và đặc biệt hay thay đổi chính sách hoặc chính sách đưa ra còn
chưa phù hợp với thực tế thì đây quả thực là rào cản vô cùng lớn cho doanh nghiệp,


22
làm hạn chế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường.
-

Môi trường khoa học – công nghệ:
Với không gian lan tỏa và đa dạng các thay đổi công nghệ sẽ có tác động lên
nhiều bộ phận của xã hội. Các tác động này chủ yếu thông qua sản phẩm, quá trình
công nghệ và vật liệu mới. Để có năng lực cạnh tranh doanh nghiệp phải được trang

nghiệp không ngừng phải nâng cao năng lực của mình.
+ Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là đó là những doanh nghiệp chưa tham gia vào loại hình


23
kinh doanh này nhưng có đủ tiềm năng và sẵn sàng nhảy vào kinh doanh. Khi một ngành có
sự gia tăng thêm đối thủ cạnh tranh mới thì hệ quả là tỷ suất lợi nhuận giảm và tăng thêm
mức độ cạnh tranh. Các đối thủ cạnh tranh mới tham gia vào thị trường sau nên họ có lợi
thế trong ứng dụng những thanh tựu mới của khoa học, công nghệ. Không phải lúc nào
cũng gặp phải đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, nhưng khi đối thủ mới xuất hiện thì vị thế cạnh
tranh của doanh nghiệp sẽ thay đổi. Vì vậy doanh nghiệp cần phải tạo cho mình một hàng
rào ngăn cản sự xâm nhập của các đối thủ mới.
-

Nhà cung cấp
Nói đến đầu vào là nói đến việc cung cấp các yếu tố cần thiết để doanh nghiệp
tiến hành sản xuất kinh doanh như: nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, vốn, nhân
lực...Trong thời đại của sự phân công lao động, của chuyên môn hoá thì mọi doanh
nghiệp không nên tiến hành sản xuất theo kiểu "tự cung, tự cấp" tức là tự lo cho mình
từ khâu đầu vào đến khâu đầu ra. Điều này sẽ giảm hiệu quả sản xuất vì không tận
dụng và phát huy được lợi thế so sánh giữa các ngành, các quốc gia. Các doanh nghiệp
nên tìm đến những nhà cung ứng đầu vào bên ngoài có uy tín vì đây là diều kiện cần
thiết để đảm bảo cho tiến trinh sản xuất kinh doanh được thuận lợi, đảm bảo cho đầu
ra của các quá trình đó có năng suất và chất lượng cao. Nếu nhà cung cấp không giao
hàng đúng hẹn, đúng chủng loại và đảm bảo chất lượng thì doanh nghiệp cũng sẽ sai
hẹn với khách hàng của mình và ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

-

Sản phẩm thay thế


Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Bên cạnh nguồn nhân lực, vốn là một nguồn lực liên quan trực tiếp tới năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao là doanh
nghiệp có nguồn vốn dồi dào, luôn đảm bảo huy động được vốn trong những điều kiện
cần thiết. Với nguồn vốn huy động hợp lý, cùng kế hoạch sử dụng vốn hiệu quả để
phát triển lợi nhuận và phải hoạch toán các chi phí rõ ràng để xác định được hiệu quả
chính xác. Nếu không có nguồn lực tài chính dồi dào thì hạn chế rất lớn tới kết quả
hoạt động của doanh nghiệp như hạn chế trong việc sử dụng công nghệ hiện đại, hạn
chế việc đào tạo nâng cao trình độ cán bộ và nhân viên, hạn chế triển khai nghiên cứu,
ứng dụng, nghiên cứu thị trường và hiện đại hóa hệ thống quản lý.

-

Trình độ thiết bị, công nghệ
Tình trạng, trình độ của hệ thống máy móc, thiết bị công nghệ của doanh nghiệp
có ảnh hưởng mạnh mẽ tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đó. Nó là yếu tố
quan trọng thể hiện năng lực sản xuất của doanh nghiệp và tác động trực tiếp tới chất
lượng sản phẩm. Một doanh nghiệp có máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ sản xuất
tiên tiến thì doanh nghiệp đó có thể nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm bớt chi phí
nguyên liệu, chi phí nhân công làm cho doanh nghiệp có lợi thế trong việc sử dụng giá
cả làm công cụ cạnh tranh trên thị trường.


25
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
2.1 Giới thiệu về công ty cổ phần Đào tạo và phát triển công nghệ Hà Nội
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty

Từ khi thành lập cho đến nay, công ty không ngừng nỗ lực phát triển, nâng cao
trình độ kỹ thuật, nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên cũng như đầu tư trang thiết bị
hiện đại phục vụ trong công việc để bắt kịp với nhịp độ phát triển của xã hội. Công ty
đã đào tạo và cung ứng được số lượng lớn người lao động chất lượng cao sang làm
việc có thời hạn tại nhiều nước. Đặc biệt là Nhật Bản với nhiều ngành nghề đa dạng và
phong phú từ lao động phổ thông như nông nghiệp, giúp việc gia đình, dọn dẹp phòng
khách sạn đến các ngành nghề yêu cầu tay nghề như may mặc, hàn xì, xây dựng, lắp
ráp linh kiện… phù hợp với từng độ tuổi từ 18 đến 40. Tạo công ăn việc làm và thu



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status