Tài liệu QTKD NHTM - Chuyên đề Phân tích tài chính NHTM
Trung tâm Bồi dỡng và T vấn về Ngân hàng - Tài chính - Đại học Kinh tế Quốc dân
1
Mục lục
2.1 Mục đích Phân tích tài chính NHTM............................................................2
2.2 Nội dung phân tích tài chính NHTM ............................................................2
2.2.1
Xác định những mục tiêu dài hạn của ngân hàng....................................... 2
2.2.2
Các chỉ tiêu tài chính sử dụng trong phân tích tài chính NHTM.............. 4
2.3 Quy trình phân tích tài chính NHTM:.........................................................7
2.4 Các báo cáo tài chính của NHTM..................................................................9
2.4.1
Bảng cân đối kế toán...................................................................................... 9
2.4.2
Báo cáo thu nhập ( Kết quả kinh doanh)................................................... 21
2.4.3
2
2.1 Mục đích Phân tích tài chính NHTM
Trong quá trình hoạt động, các ngân hàng ngày nay đang phải chịu những
sức ép rất lớn: một mặt phải đáp ứng các mục tiêu của cổ đông, nhân viên, ngời
gửi tiền và các khách hàng vay vốn; mặt khác lại phải đảm bảo yêu cầu của các nhà
lập pháp về sự lành mạnh của những năm gần đây, cùng với sự phát triển của các tổ
chức ngân hàng, ngày càng có nhiều ngân hàng phải viện tới thị trờng tiền tệ và thị
trờng vốn để tăng cờng khả năng huy động vốn thông qua việc bán cổ phiếu, trái
phiếu và các công cụ nợ ngắn hạn. Trong nhiều trờng hợp, thị trờng địa phơng
không thể cung cấp đủ vốn (chủ yếu là dới hình thức tiền gửi) để đáp ứng các yêu
cầu ngày càng tăng của khách hàng về tín dụng và các dịch vụ mới. Tuy nhiên, việc
ngân hàng gia nhập thị trờng mở để huy động thêm vốn cũng có nghĩa là các bản
báo cáo tài chính của ngân hàng đợc giới đầu t và công chúng xem xét kỹ lỡng.
Thực tế này đã tạo ra một sức ép lớn đối với hội đồng quản trị trong việc đặt ra và
đạt đợc các mục tiêu trong hoạt động ngân hàng.
Phân tích tài chính ngân hàng với việc sử dụng các chỉ số định tính và định
lợng đợc sử dụng rộng rãi sẽ đợc ứng dụng rất hiệu quả trong trong việc đánh
giá hoạt động ngân hàng. Phân tích tài chính sẽ giúp nhà lãnh đạo ngân hàng thấy
đợc điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với hoạt động tài chính của
ngân hàng, từ đó có những chiến lợc, kế hoạch kinh doanh thích hợp. Phần này tập
trung vào những thông số về hoạt động quan trọng nhất đối với bất kỳ ngân hàng
nào - khả năng sinh lời và rủi ro. Về bản chất, ngân hàng thơng mại cũng đơn giản
chỉ là một tập đoàn kinh doanh đợc tổ chức vì mục tiêu tối đa hoá giá trị của cổ
đông với mức rủi ro có thể chấp nhận. Sự gia tăng đột ngột về các vụ phá sản của
ngân hàng trên toàn thế giới gần đây cho thấy rõ ràng mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận
với mức rủi ro có thể chấp nhận là không dễ gì đạt đợc. Việc theo đuổi mục tiêu
này đòi hỏi ngân hàng phải không ngừng tìm kiếm những cơ hội mới nhằm thúc
đẩy sự tăng trởng, nâng cao hiệu quả hoạt động, hiệu quả kế hoạch hoá và hiệu
quả kiểm soát. Phần này nghiên cứu các công cụ đo lờng quan trọng nhất về thu
trởng trong tơng lai. Rõ ràng là khi đó ngân hàng nên theo đuổi mục tiêu tối đa
hoá giá trị cổ phiếu.
Điều gì dẫn tới sự gia tăng trong giá trị cổ phiếu của ngân hàng? Giá trị cổ
phiếu của tất cả các doanh nghiệp đều đợc xác định theo công thức:
Dòng cổ tức mong đợi trong tơng
lai
E (D
1
)
Giá trị cổ
phiếu của
ngân hàng
(P
0
)
=
Tỷ lệ chiết khấu
=(1 +
r)
1
thị trờng (hay thị giá) của cổ phiếu là chỉ số tốt nhất phản ánh tình hình hoạt động
kinh doanh của công ty bởi vì nó thể hiện sự đánh giá của thị trờng đối với công ty
đó. Tuy nhiên, chỉ số này thờng không đáng tin cậy trong lĩnh vực ngân hàng. Lý
do ở đây là hầu hết cổ phiếu ngân hàng, đặc biệt là cổ phiếu của các ngân hàng nhỏ
không đợc giao dịch tích cực trên thị trờng quốc tế cũng nh thị trờng trong
nớc. Thực tế này buộc các nhà phân tích tài chính phải sử dụng các tỷ lệ về khả
năng sinh lời để thay thế cho chỉ số giá trị thị trờng.
Các tỷ lệ chủ yếu phản ánh khả năng sinh lời trong hoạt động của ngân hàng.
Các tỷ lệ quan trọng nhất đo lờng khả năng sinh lời của ngân hàng đợc sử dụng
hiện nay gồm:
Thu nhập sau
thuế
Tỷ lệ thu nhập trên
vốn chủ sở hữu (ROE)
=
Vốn chủ sở hữu
(2)
Thu nhập sau
thuế
Tỷ lệ thu nhập trên
tổng tài sản (ROA)
=
Tổng tài sản
(3)
Tài liệu QTKD NHTM - Chuyên đề Phân tích tài chính NHTM
=
Tổng tài sản
(6)
Thu nhập sau thuế + Lãi (lỗ) từ
hoạt động kinh doanh chứng
khoán + Các khoản bất thờng
khác
Thu nhập cận biên
trớc những giao dịch
đặc biệt (NRST) =
Tổng tài sản
(7) Thu nhập sau
thuế
Thu nhập trên cổ phiếu
(EPS) =
Tổng số cổ phiếu
nguồn thu ngoài lãi, chủ yếu là nguồn thu phí từ các dịch vụ với các chi phí ngoài
lãi mà ngân hàng phải chịu (gồm tiền lơng, chi phí sửa chữa, bảo hành thiết bị, và
chi phí tồn thất tín dụng). Đối với hầu hết các ngân hàng chênh lệch ngoài lãi
thờng là âm - chi phí ngoài lãi nhìn chung vợt quá thu từ phí, mặc dù tỷ lệ thu từ
phí trong tổng các nguồn thu của ngân hàng đã tăng rất nhanh trong những năm gần
đây.
Thu nhập cận biên trớc các giao dịch đặc biệt đo lờng thu nhập của ngân
hàng từ những nguồn ổn định bao gồm cả thu nhập từ khoản cho vay, đầu t và thu
phí từ việc bán các dịch vụ tài chính, so với tổng nguồn vốn của ngân hàng. Các
khoản mục bất thờng nh tiền lời từ việc bán tài sản thiết bị hay những khoản lãi
và lỗ từ kinh doanh chứng khoán thờng không đợc các nhà phân tích tài chính
tính tới trong việc đo lờng khả năng sinh lời của ngân hàng. Cuối cùng, thu nhập
trên cổ phiếu (EPS) đo lờng trực tiếp thu nhập của những ngời sở hữu ngân hàng -
các cổ đông - tính trên mỗi cổ phiếu hiện hang lu hành.
Một biện pháp đo lờng hiệu quả chỉ tiêu thu nhập truyền thống khác mà các
nhà quản lý sử dụng để điều hành ngân hàng là chênh lệch lãi suất bình quân (hay
chênh lệch lãi suất đầu vào - đầu ra), đợc tính nh sau:
Thu từ lãi Tổng chi phí trả lãi Chênh lệch lãi
suất bình quân
=
Tổng tài sản sinh lời
-
Tổng nguồn vốn phải trả
lãi
(9)
Chênh lệch lãi suất bình quân đo lờng hiệu quả đối với hoạt động trung
(10)
Khi cạnh tranh trên thị trờng tín dụng gia tăng và các khoản cho vay kém
chất lợng ngày càng nhiều thì một số lớn các ngân hàng đã chú trọng vào việc tăng
nguồn thu ngoài lãi. Những khoản phí này củng cố tổng nguồn thu, giúp tăng thu
nhập ròng cho cổ đông của ngân hàng. Ngày nay các nhà quản lý ngân hàng cũng
đang nỗ lực hạn chế tỷ trọng tài sản không sinh lời (bao gồm tiền mặt, tài sản cố
định và tài sản vô hình) trong tổng tài sản. Một thớc đo phản ánh tầm quan trọng
tơng đối giữa tài sản không sinh lời và những tài sản khác (nh các khoản cho vay
và đầu t chứng khoán) đợc sử dụng một cách rộng rãi là tỷ lệ tài sản sinh lời:
Tổng tài sản sinh
lời
Các khoản cho vay+Các
khoản cho thuê+Đầu t
chứng khoán
Tỷ lệ tài
sản sinh
lời
=
Tổng tài sản
=
Tổng tài sản Tổng tài sản - Tài sản không sinh lời
+ Đa ra các giải pháp.
Trong 4 bớc trên thì có thể đảo vị trí hai bớc 1 và 2 cho nhau tuỳ tình
huống cụ thể. Với ngời dễ dàng tìm kiếm các số liệu họ sẽ xác định phơng pháp
phân tích trớc rồi mới thu thập những thông tin cần thiết cho quá trình phân tích.
Đối với những ngời có nguồn thông tin hạn chế họ sẽ phải thu thập thông tin trớc
rồi mới có thể quyết định phơng pháp phân tích.
Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn
thông tin: từ nội bộ doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoài doanh nghiệp, từ
thông tin số lợng đến thông tin giá trị. Những thông tin đó đều có thể giúp nhà
phân tích đa ra đợc những nhận xét tinh tế và thích đáng.
Trong những thông tin bên ngoài, cần lu ý thu thập những thông tin chung
(thông tin liên quan đến trạng thái kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, lãi
suất), thông tin về ngành ngân hàng và các thông tin về pháp lý, kinh tế đối với
ngân hàng.
Tuy nhiên, để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của ngân hàng,
có thể sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp nh là một nguồn thông
tin quan trọng bậc nhất. Với những đặc trng về hệ thống, đồng nhất và phong phú,
kế toán hoạt động nh một nhà cung cấp quan trọng những thông tin đáng giá cho
phân tích tài chính. Phân tích tài chính đợc thực hiện trên cơ sở các báo cáo tài
chính - đợc hình thành thông quá việc xử lý các báo cáo kế toán chủ yếu: bảng cân
đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lu chuyển tiền tệ.
Tài liệu QTKD NHTM - Chuyên đề Phân tích tài chính NHTM
Trung tâm Bồi dỡng và T vấn về Ngân hàng - Tài chính - Đại học Kinh tế Quốc dân
9
2.4 Các báo cáo tài chính của NHTM
2.4.1 Bảng cân đối kế toán.
phủ đợc mua trên thị trờng mở (S), cho vay và cho thuê đối với khách hàng (L) và
những tài sản khác (MA). Các khoản nợ đợc chia thành hai nhóm chính: Tiền gửi
của khách hàng (D) và những nguồn vốn vay phi tiền gửi trên thị trờng vốn và thị
trờng tiền tệ (NDB). Cuối cùng vốn chủ sở hữu cho biết nguồn vốn dài hạn mà
những nguồn sở hữu đã đóng góp vào ngân hàng (EC). (Xem bảng 4-2). Do đó, Cân
bằng cơ bản trong BCĐKT của NH có thể đợc minh hoạ nh sau:
C + S +L + MA = NDB + EC (2)
Tài liệu QTKD NHTM - Chuyên đề Phân tích tài chính NHTM
Trung tâm Bồi dỡng và T vấn về Ngân hàng - Tài chính - Đại học Kinh tế Quốc dân
10
Tài sản tiền mặt (C) đợc hình thành để đáp ứng yêu cầu thanh khoản của
NH bao gồm yêu cầu rút tiền gửi, yêu cầu vay vốn, và những yêu cầu tức thời hay
không thể dự đoán trớc đối với tiền mặt. Chứng khoán đầu t (S) là một nguồn hỗ
trợ thanh khoản và cũng là một nguồn tạo thu nhập cho NH. Những khoản cho vay
(L) là hoạt động chính, là nguồn thu nhập quan trọng nhất. Trong khi đó, những tài
sản khác (MA) thờng là những toà nhà và thiết bị thuộc sở hữu của NH và những
khoản đầu t vào các chi nhánh của NH (nếu có). Tiền gửi (D) là nguồn vốn cơ bản
của NH, những khoản vay vốn phi tiền gửi (NDB) chủ yếu để bổ sung cho tiền gửi
và tăng cờng khả năng thanh khoản trong trờng hợp tiền mặt và chứng khoán
không đáp ứng đủ. Cuối cùng, vốn chủ sở hữu (EC) cung cấp cơ sở tài chính dài
hạn, ổn định để NH có thể phát triển và trang trải những thua lỗ mà nó phải gánh
chịu.
Để có thể hiểu rõ hơn cân bằng cơ bản trong BCĐKT , chúng ta cần lu ý
rằng các khoản nợ của ngân hàng và vốn chủ sở hữu thể hiện nguồn tích luỹ, là
nguồn cung cấp năng lực chi tiêu cần thiết cho NH. Mặt khác, tài sản của NH. Hình
thành trên cơ sở hoạt động sử dụng vốn tích luỹ, là nguồn mang lại thu nhập cho
3 chỉ chiếm không tới 8% giá trị tài sản 21,7 tỷ USD trong năm gần đây
Chứng khoán đầu t: Bộ phận thanh khoản.
Đây là hàng rào bảo vệ thứ hai để đáp ứng những yêu cầu về tiền mặt và
đợc ngân hàng sử dụng nh một nguồn hỗ trợ thanh khoản trên cơ sở những chứng
khoán khả mại. Bộ phận này thờng đợc gọi là dự trữ thứ cấp. Dự trữ thứ cấp chủ
yếu bao gồm chứng khoán chính phủ ngắn hạn - chứng khoán trên thị trờng tiền tệ
nh giấy nợ ngắn hạn và tiền gửi kỳ hạn tại ngân hàng khác. Dự trữ thứ cấp nằm
giữa tài sản tiền mặt và những khoản cho vay. Mặc dù có đem lại thu nhập nhng
Dự trữ thứ cấp đợc nắm giữ chủ yếu là để cho các ngân hàng có thể dễ dàng
chuyển đổi chúng thành tiền mặt trong thời gian ngắn. Trong bảng 4-3, một phần
của 2.803 triệu USD đầu t chứng khoán đợc nắm giữ dới hình thức dự trữ thứ
cấp để đối phó với những nhu cầu thanh khoản.;
Chứng khoán đầu t: Bộ phận tạo thu nhập.
Trái phiếu, giấy nợ và các chứng khoán khác đợc ngân hàng nắm giữ vì tỷ
lệ thu nhập mà chúng mang lại đợc gọi là những chứng khoán đầu t. Thông
thờng những chứng khoán này đợc chia thành 2 nhóm: Nhóm chứng khoán chịu
thuế chủ yếu là trái phiếu, chứng khoán chính phủ Mỹ, chứng khoán của các tổ
chức Liên bang khác (nh Hiệp hội cho vay cầm cố, hay Fannie Mae) và các trái
phiếu công ty và Nhóm chứng khoán miễn thuế, bao gồm chủ yếu là các trái
phiếu của chính quyền bang và địa phơng. Loại chứng khoán miễn thuế tạo ra thu
nhập lãi không phải chịu thuế thu nhập Liên bang.
Các chứng khoán đầu t có thể đợc ghi chép trong sổ sách của ngân hàng
theo chi phí gốc hoặc giá trị thị trờng. Hầu hết các ngân hàng ghi nhận việc mua
chứng khoán các tài sản khác và nợ theo chi phí gốc. Tất nhiên, nếu lãi suất tăng
sau khi ngân hàng mua chứng khoán, thì giá trị thị trờng của chúng sẽ nhỏ hơn chi
phí gốc (giá trị ghi sổ). Do đó, những ngân hàng phản ánh giá trị của các chứng
khoán trên Bảng cân đối kế toán theo chi phí gốc thờng phải kèm theo mục ghi
chú về giá trị thị trờng hiện hành. Tuy nhiên, chúng ta sẽ thấy rằng hiện tại, ngời
cho thuê)
15.887 15.412
Trừ: Dự phòng tổn thất tín dụng (349) (195)
Thu nhập lãi trả trớc (117) (137)
Cho vay ròng 15.421 15.080
Tài trợ cho thuê (Thuê mua) 201 150
Thiết bị và bất động sản của ngân hàng (Giá trị còn lại) 365 363
Nợ của khách hàng theo thơng phiếu chấp nhận thanh toán 70 111
Các tài sản khác 903
1.059
Tổng tài sản $21.705
$22.586
Nợ và vốn chủ sở hữu (các nguồn vốn tích luỹ)
Các loại tiền gửi:
- Tiền gửi giao dịch không hởng lãi $3.472 $3.831
- Tiền gửi tiết kiệm và các tài khoản NOW 914 937
- Tiền gửi trên thị trờng tiền tệ 1.914 1.965
- Tiền gửi có kỳ hạn 9.452 9.981
- Tiền gửi tại các chi nhánh nớc ngoài 787 869
Tổng tiền gửi
16.494
17.583
Các khoản vay:
- Vay quỹ Liên bang theo hợp đồng mua lại chứng khoán 2.132 1.836
- Nợ ngắn hạn khác 897 714
- Nợ chứng khoán cầm cố bất động sản 417 439
- Các giấy nợ và trái phiếu thứ cấp 200 200
Nợ khác:
Tài liệu QTKD NHTM - Chuyên đề Phân tích tài chính NHTM
tổng số cho vay của năm trớc là 15.887 triệu USD chiếm khoảng 73% tổng tài
sản của ngân hàng.
Tuy nhiên, những tổn thất về cho vay, cả hiện tại và dự kiến đều đợc khấu
trừ khỏi tổng số cho vay. Theo Luật thuế hiện hành của Mỹ, các ngân hàng đợc
phép lập Quỹ dự phòng tổn thất tín dụng (ALL) từ thu nhập trên cơ sở kinh nghiệm
về tổn thất tín dụng của để bù đắp cho những khoản vay bị kết luận là không thể
đợc thu hồi . Điều này có nghĩa rằng những khoản cho vay có vấn đề sẽ không ảnh
hởng đến thu nhập hiện tại của một ngân hàng (trừ khi tổn thất tín dụng xảy ra
ngoài dự tính và ngân hàng không lập dự phòng cho chúng). Phòng kế toán của
ngân hàng sẽ xoá sổ một khoản cho vay đợc xem là không thể thu hồi bằng cách
ghi giảm tài khoản Dự phòng tổn thất tín dụng (ALL) một lợng bằng giá trị khoản
cho vay và đồng thời giảm tài khoản tổng số cho vay một lợng tơng tự. Ví dụ, giả
sử ngân hàng cho Công ty phát triển nhà đất vay 10 triệu USD để xây dựng một
trung tâm buôn bán và công ty này sau đó đã ngừng kinh doanh. Nếu ngân hàng chỉ
có thể thu lại 1 triệu USD từ số 10 triệu USD cho vay ban đầu, thì số tiền 9 triệu
USD tổn thất séc đợc trừ đi khỏi tổng số cho vay của ngân hàng và trừ khỏi tài
khoản Dự phòng tổn thất tín dụng (ALL).
Tài liệu QTKD NHTM - Chuyên đề Phân tích tài chính NHTM
Trung tâm Bồi dỡng và T vấn về Ngân hàng - Tài chính - Đại học Kinh tế Quốc dân
14
Tài khoản dự phòng tổn thất tín dụng (ALL) đợc tích luỹ dần dần
theo thời gian thông qua hoạt động trích quỹ từ thu nhập hàng năm của ngân hàng.
Những khoản trích quỹ này xuất hiện trên Báo cáo thu nhập của ngân hàng nh một
khoản chi phí không bằng tiền đợc gọi là Phân bổ dự phòng tổn thất tín dụng
(Provission for loan losses - PLL). Nếu nh việc xoá một khoản cho vay lớn làm
giảm số d trong tài khoản Dự phòng tổn thất tín dụng (ALL) quá nhiều thì những
trừ khỏi thu nhập từ cho vay. Ngân hàng không đợc ghi chép thu nhập lãi từ khoản
cho vay này cho đến khi một khoản thanh toán bằng tiền mặt thực sự đợc thực
hiện.
Tài liệu QTKD NHTM - Chuyên đề Phân tích tài chính NHTM
Trung tâm Bồi dỡng và T vấn về Ngân hàng - Tài chính - Đại học Kinh tế Quốc dân
15
Cho vay quỹ Liên bang và mua chứng khoán theo hợp đồng bán lại. Một
loại hình cho vay khác đợc liệt kê thành một khoản mục riêng trong Bảng cân đối
kế toán là cho vay quỹ Liên bàng và mua chứng khoán theo hợp đồng bán lại.
Khoản mục này chủ yếu gồm những khoản cho vay tạm thời (thực hiện qua đêm)
dành cho các ngân hàng khác, các tổ chức kinh doanh chứng khoán, hay thậm chí
cho các công ty lớn. Nguồn vốn cho những khoản tín dụng tạm thời này thờng là
dự trữ của ngân hàng trong tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng dự trữ Liên bang khu
vực vì thế có tên là quỹ Liên bang. Một số những khoản tín dụng này đợc thực
hiện dới dạng các hợp đồng mua lại (bán lại) trong đó ngân hàng yêu cầu quyền sở
hữu tạm thời đối với một số chứng khoán do ngời vay sở hữu và nắm giữ. Những
chứng khoán này đợc coi nh tài sản thế chấp cho đến khi tiền vay đợc hoàn trả.
Thơng phiếu chấp nhận thanh toán.
Một hình thức cấp tín dụng khác mà những ngân hàng lớn thờng sử dụng là
tài trợ thơng phiếu chấp nhận thanh toán. Số vốn liên quan sẽ xuất hiện trên một
khoản mục tài sản có tên là nợ của khách hàng theo thơng phiếu chấp nhận thanh
toán. Bạn đọc sẽ nhận thấy rằng cụm từ này khớp với một khoản mục đợc liệt kê
trong các khoản nợ của ngân hàng, vay của khách hàng theo thơng phiếu chấp
nhận thanh toán. Cặp tài khoản đối ứng nêu trên sẽ tăng lên mỗi khi một ngân hàng
đồng ý cấp tín dụng cho khách hàng, thờng để giúp khách hàng thanh toán cho
số tài sản của một ngân hàng tồn tại dới hình thức quyền về tài chính (các khoản
cho vay và các chứng khoán), không phải là tài sản cố định. Tuy nhiên, các tài sản
cố định tạo ra chi phí hoạt động cố định dới dạng chi phí khấu hao, thuế tài sản
là những yếu tố làm hình thành đòn bẩy hoạt động. Đòn bẩy hoạt động này cho
phép ngân hàng đẩy mạnh thu nhập từ hoạt động nếu nó có thể gia tăng khối lợng
dịch vụ lên tới một mức đủ lớn, tạo đợc nhiều thu nhập hơn từ việc sử dụng các tài
sản cố định so với chi phí cho các tài sản đó. Tuy nhiên, do tài sản cố định chiếm
một tỷ lệ nhỏ trong tổng tài sản, các ngân hàng không thể dựa nhiều vào đòn bẩy
hoạt động để tăng thu nhập; thay vì thế họ phải sử dụng đòn bẩy tài chính việc sử
dụng vốn vay để đẩy mạnh hoạt động, tạo thu nhập và duy trì cạnh tranh với những
ngành khác trong quá trình huy động vốn và cho vay.
Nợ của ngân hàng
Tiền gửi
Khoản mục nợ chủ yếu trong các ngân hàng là tiền gửi của khách hàng, thể
hiện các yêu cầu tài chính đối với ngân hàng từ phía doanh nghiệp, hộ gia đình và
chính phủ. Trong trờng hợp một ngân hàng bị thanh lý, số tiền thu về từ việc bán
những tài sản của nó trớc tiên phải đợc sử dụng để thanh toán cho những ngời
gửi tiền. Những ngời cho vay và cổ đông của ngân hàng nhận đợc phần vốn còn
lại. Có năm loại hình tiền gửi chính:
1. Tiền gửi giao dịch không hởng lãi, hay tài khoản giao dịch thông
thờng, nói chung cho phép phát séc không hạn chế. Theo một đạo luật Liên
bang đợc thông qua năm 1933, ngân hàng không đợc thanh toán lãi suất
trên tiền gửi giao dịch (mặc dù vậy, nhiều ngân hàng chấp nhận trả chi phí
giao dịch qua bu điện, cung cấp các dịch vụ miễn phí khác và do đó đã
tạo cho tài khoản tiền giao dịch một tỷ lệ thu nhập ngầm định).
2. Tiền gửi tiết kiệm, mang lãi suất thấp nhất mà một ngân hàng cung
cấp cho khách hàng; không giới hạn về quy mô tiền gửi (mặc dù hầu hết các