Tổng quan về Kiên Giang - Pdf 60

TỔNG QUAN VỀ KIÊN GIANG
Kiên Giang là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long - phía Tây Nam của Tổ quốc: phía Bắc
giáp Vương quốc Campuchia; phía Nam giáp tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu; phía Đông và Đông Nam
giáp tỉnh An Giang, thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang; phía Tây giáp Vịnh Thái Lan.
Vị trí địa lý của Kiên Giang có tiềm năng lớn cho phát triển kinh tế - xã hội tổng hợp, là cửa ngõ
hướng ra biển Tây của tỉnh cũng như của vùng đồng bằng sông Cửu Long, có điều kiện thuận lợi để phát
triển kinh tế biển, đảo và giao lưu với các nước trong khu vực và quốc tế với các ngành mũi nhọn như du
lịch, thương mại, dịch vụ công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản…
Kiên Giang có tổng diện tích tự nhiên 6.346,27 km2. Theo kết quả điều tra ngày 01/04/2009, dân số
tỉnh Kiên Giang là 1.683.149 người, mật độ 267 người/km², khu vực nông thôn 73,1%, thành thị 26,9%;
dân tộc chủ yếu là người Kinh, Khmer, Hoa. Dân số của tỉnh phân bố không đều, thường tập trung ở ven
trục lộ giao thông, kênh rạch, sông ngòi và một số đảo, quy mô dân số đến năm 2010 dự kiến dưới 1,8
triệu người.
Đơn vị hành chính: Kiên Giang có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, thị: Thành phố Rạch Giá, thị
Xã Hà Tiên, huyện Kiên Lương; huyện Hòn Đất, huyện Tân Hiệp, huyện Châu Thành, huyện Giồng
Riềng, huyện Gò Quao, huyện An Biên, huyện An Minh, huyện Vĩnh Thuận, huyện Phú Quốc, huyện
Kiên Hải, huyện U Minh Thượng và huyện Giang Thành.
Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của Kiên Giang là 634.627,21 ha, trong đó: Nhóm đất
nông nghiệp 575.697,49 ha chiếm 90,71% đất tự nhiên (riêng đất lúa 354.011,93 ha chiếm 61,49% đất
nông nghiệp); nhóm đất phi nông nghiệp 53.238,38 ha, chiếm 8,39% diện tích tự nhiên; nhóm đất chưa sử
dụng 5.691,34 ha, chiếm 0,90% diện tích tự nhiên; đất có mặt nước ven biển 13.781,11 ha (là chỉ tiêu
quan sát không tính vào diện tích đất tự nhiên). Nhìn chung đất đai ở Kiên Giang phù hợp cho việc phát
triển nông lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản.
Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt khá dồi dào, nhưng đến mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10)
phần lớn nước mặt của tỉnh đều bị nhiễm phèn mặn, do vị trí ở cuối nguồn nước ngọt của nhánh sông
Hậu, nhưng lại ở đầu nguồn nước mặn của vịnh Rạch Giá. Toàn tỉnh có 3 con sông chảy qua: Sông Cái
Lớn (60 km), sông Cái Bé (70 km) và sông Giang Thành (27,5 km) và hệ thống kênh rạch chủ yếu để tiêu
nước về mùa lũ và giao thông đi lại, đồng thời có tác dụng tưới nước vào mùa khô.
Trang 1
Tài nguyên biển: Kiên Giang có 200 km bờ biển với ngư trường khai thác thủy sản rộng 63.290
km2. Biển Kiên Giang có 143 hòn đảo, với 105 hòn đảo nổi lớn, nhỏ, trong đó có 43 hòn đảo có dân cư

tế trên 55.000 lượt.
* Vùng Hà Tiên – Kiên Lương: Nhiều thắng cảnh biển, núi non của Hà Tiên – Kiên Lương như:
Mũi Nai, Thạch Động, núi Tô Châu, núi Đá Dựng, đầm Đông Hồ, di tích lịch sử văn hoá núi Bình San,
chùa Hang, hòn Phụ Tử, bãi Dương, núi MoSo, hòn Trẹm, quần đảo Hải Tặc và đảo Bà Lụa rất thích hợp
cho phát triển du lịch tham quan thắng cảnh, nghỉ dưỡng. Những thắng cảnh như núi Tô Châu, đầm Đông
Hồ, sông Giang Thành, khu du lịch Núi Đèn đang được đưa vào khai thác du lịch chính thức. Hà Tiên có
truyền thống lịch sử văn hóa, văn học - nghệ thuật, với những lễ hội cổ truyền như Tết Nguyên tiêu, kỷ
niệm ngày thành lập Tao đàn Chiêu Anh Các, lễ giỗ Mạc Cửu, chùa Phù Dung, đình Thành Hoàng… Hiện
nay, Kiên Giang đã có tour du lịch đến nước bạn Campuchia qua đường cửa khẩu Quốc tế Hà Tiên. Đây là
cánh cửa mở ra để vùng Kiên Lương - Hà Tiên nối liền với các nước Đông Nam Á; đồng thời mở tuyến
du lịch xuyên ba nước, từ Phú Quốc đến Shianouk Ville (Campuchia) và tỉnh Chanthaburi (Thái Lan)
bằng đường biển và đường bộ.
Trang 2
* Thành phố Rạch Giá và vùng phụ cận: Thành phố Rạch Giá là trung tâm hành chính của tỉnh
Kiên Giang, có bờ biển dài 7 km, giao thông thủy, bộ và hàng không rất thuận tiện. Rạch Giá có cơ sở hạ
tầng tốt, nhiều di tích lịch sử văn hóa, là điểm dừng chân để đi tiếp đến Hà Tiên, Phú Quốc và các vùng
khác trong tỉnh. Do đó, có lợi thế trong phát triển các dịch vụ như: lưu trú, ăn uống, các dịch vụ vui chơi
giải trí về đêm; có 2 hệ thống siêu thị quy mô lớn đảm bảo nhu cầu mua sắm của người dân thành phố và
du khách (siêu thị Citimart khu lấn biển và siêu thị Co.op Mart Rạch Sỏi). Thành phố Rạch Giá là nơi đầu
tiên ở Việt Nam tiến hành việc lấn biển để xây dựng đô thị mới. Khu lấn biển mở rộng thành phố thành
một trong những khu đô thị mới lớn nhất vùng Tây Nam bộ. Hiện tại thành phố đang và chuẩn bị đầu tư
nhiều công trình quan trọng như: khu đô thị mới Vĩnh Hiệp, khu đô thị phức hợp lấn biển, 2 cầu nối liền
khu lấn biển và khu 16 ha, cầu Lạc Hồng.... Một số khu vực phụ cận của Rạch Giá như huyện đảo Kiên
Hải, Hòn Đất, U Minh Thượng cũng có nhiều tiềm năng phát triển du lịch. Kiên Hải đang khai thác các
tour khám phá biển đảo đi - về trong ngày. Đây là vùng thắng cảnh biển - đảo với đặc thù nghề truyền
thống đi biển, làm nước mắm, chế biến hải sản, tạo thành nét sinh hoạt văn hóa riêng biệt. Khu du lịch
Hòn Đất đang hoàn chỉnh và hoàn thiện những công trình văn hóa tại khu mộ Anh hùng liệt sĩ Phan Thị
Ràng (chị Sứ), xây dựng khu trưng bày một số hiện vật chứng tích chiến tranh tại khu phát sóng truyền
hình của tỉnh trên đỉnh Hòn Me…
* Vùng U Minh Thượng: Với đặc thù sinh thái rừng tràm ngập nước trên đất than bùn, Vườn Quốc

lên, đã chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản. Đất nông nghiệp sử dụng hiệu quả
hơn, cơ cấu vật nuôi từng bước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường. Sản lượng
lúa năm 2008 đạt 3.387.234 tấn, tăng 1.199.241 tấn so với năm 2001. Nuôi trồng thuỷ sản phát triển khá
nhanh, năm 2008 diện tích nuôi trồng 107.523 ha, sản lượng 110.230 tấn, so với năm 2001 diện tích tăng
2,9 lần và sản lượng tăng 6,5 lần. Riêng diện tích tôm nuôi đạt 81.255 ha, sản lượng 28.601 tấn, trong đó
nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp 1.428 ha tập trung chủ yếu ở vùng tứ giác Long Xuyên. Sản
lượng khai thác tăng từ 311.618 tấn năm 2006 lên 318.255 tấn năm 2008.
Công nghiệp của tỉnh phát triển chủ yếu ở 2 lĩnh vực truyền thống là sản xuất vật liệu xây dựng và
chế biến nông hải sản. Sản lượng sản xuất xi măng năm 2008 đạt trên 4.605.000 tấn tăng gấp 2 lần năm
2001. Chế biến thuỷ sản thu hút nhiều doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh đầu tư vào khu cảng cá Tắc Cậu,
công suất trên 114.764 tấn với công nghệ hiện đại.
Thị trường xuất khẩu được mở rộng, kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh với các mặt hàng chủ lực là
gạo và thuỷ sản, kim ngạch xuất khẩu 2008 đạt 491 triệu USD bằng 4,5 lần năm 2001. Lượng khách du
lịch tăng nhanh từ 1.182.908 lượt khách năm 2001 lên 3.450.000 lượt khách năm 2008. Số cơ sở kinh
doanh du lịch cũng tăng đáng kể, nhiều dự án du lịch đã và đang triển khai đầu tư.
Năng lực vận tải đường không, đường bộ, đường thuỷ tăng nhanh về số lượng, chất lượng phục vụ
tăng cao.
Huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển tăng khá mạnh. Từ 2001-2008 đã huy động các nguồn
vốn đầu tư trên 44.905 tỷ đồng. Đến năm 2008, đã có 94% số xã trong đất liền có đường ô tô đến trung
tâm xã, trong đó 67% được nhựa hoá hoặc bê tông hoá, phòng học kiên cố và bán kiên cố 95,2%. Kinh tế
tư nhân, cá thể phát triển mạnh, hiện có hơn 3.600 doanh nghiệp, vốn đăng ký 7.053 tỷ đồng và 33.500 hộ
kinh doanh (tăng 9.700 hộ so năm 2005). Thu hút 12 dự án nước ngoài (FDI), vốn đầu tư đăng ký 2,1 tỷ
USD.
Giáo dục và đào tạo có bước phát triển, cơ sở vật chất trường lớp được đầu tư mạnh, đến nay giảm
tỷ lệ phòng học cây lá xuống còn 5% và không còn phòng học ca 3; tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 9% năm
2001 lên 15,4% năm 2008.
Mạng lưới y tế cơ sở được đảm bảo, đến năm 2008 có 95% số xã có trạm y tế, 83,3% ấp có trạm y
tế, 67% trạm y tế có bác sỹ và 75% trạm y tế đạt chuẩn quốc gia.
Thực hiện có hiệu quả chương trình xoá đói giảm nghèo, đã giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 14,02% năm
2005 xuống còn 7,4% năm 2008; có 24/42 xã đã thoát khỏi diện xã đặc biệt khó khăn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status