(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp chính sách thúc đẩy đầu tư mạo hiểm đối với hoạt động ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ tại Việt Nam - Pdf 60

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHÙNG VĂN QUÂN

GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ MẠO HIỂM
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ƯƠM TẠO DOANH NGHIỆP KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHÙNG VĂN QUÂN

GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ MẠO HIỂM
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ƯƠM TẠO DOANH NGHIỆP KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM

Ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 8 34 04 12

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TẠ DOÃN TRỊNH

HÀ NỘI, 2019

Chương 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ĐẦU
TƯ MẠO HIỂM CHO HOẠT ĐỘNG ƯƠM TẠO DOANH NGHIỆP
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ .................................................................. 58
3.1. Nguyên tắc đề xuất vào các văn bản quy phạm pháp luật ............... 60
3.2. Các đề xuất chính sách ..................................................................... 61
KẾT LUẬN .................................................................................................... 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 67


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
KH&CN

Khoa học và công nghệ

ĐTMH

Đầu tư mạo hiểm

PTTTDN

Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và
công nghệ

OECD

Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế

IPO

Phát hành công khai lần đầu ( Initial Public Offering)

nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực khoa học – công nghệ nhằm phát triển hệ
sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp. Trong các nghiên cứu về đầu tư cho hoạt động
này nổi bật lên 2 vấn đề chính: (1) nghiên cứu về đầu tư cho hoạt động ươm
tạo nói chung và (2) nghiên cứu về đầu tư trực tiếp cho đối tượng doanh
nghiệp KH&CN khởi nghiệp.
Hiện nay, hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN được thực hiện ở
một số dạng chính sau: (1) hoạt động hỗ trợ hoàn thiện công nghệ; (2) hoạt
động đào tạo, tư vấn về mô hình kinh doanh, quản trị doanh nghiệp, xây dựng
thương hiệu, phát triển thị trường, sở hữu trí tuệ…; (3) Hoạt động hỗ trợ gọi
vốn đầu tư cho doanh nghiệp; và (4) hoạt động trực tiếp đầu tư cho doanh
nghiệp khởi nghiệp.
Xuất phát từ nhu cầu khác nhau trong các giai đoạn ươm tạo, phát
triển của doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp, Nhà nước cần có chính sách hỗ
trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp thông qua hoạt động của các cơ sở ươm tạo
(incubators) và hỗ trợ các doanh nghiệp non trẻ thông qua hoạt động của các
tổ chức thúc đẩy kinh doanh (business accelarators). Nhà nước cũng cần có
chính sách đầu tư ban đầu dưới dạng cấp vốn mồi (seed money) cho các nhóm
khởi nghiệp và hỗ trợ tài chính, tín dụng cho các doanh nghiệp khởi nghiệp

1


(tài trợ, hỗ trợ đầu tư nghiên cứu thử nghiệm, cho vay ưu đãi, cho vay có thể
chuyển đổi thành cổ phần .v.v.).
Chính sách hỗ trợ đầu tư ban đầu của Nhà nước cho các doanh nghiệp
khởi nghiệp là tác nhân quan trọng để thu hút các nguồn vốn đầu tư của xã hội
cho hoạt động ươm tạo, hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ khởi nghiệp. Chính
sách đầu tư của Nhà nước cần hướng đến sự quan tâm của các nhà đầu tư xã
hội có ý nghĩa quan trọng hình thành nên hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp, bao
gồm các nhà đầu tư thiên thần (angel investors), các quỹ đầu tư mạo hiểm

thực hiện bởi các quỹ đầu tư mạo hiểm của nước ngoài như IDG Ventures hay
Cyber Agents và bản thân họ chỉ chú trọng vào đầu tư cho doanh nghiệp khởi
nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin với chu kỳ đầu tư ngắn và khoản
đầu tư ban đầu không cao. Như vậy có thể nói doanh nghiệp khởi nghiệp
trong các lĩnh vực KH&CN không phải công nghệ thông tin như lĩnh vực vật
lý, hóa học, công nghệ sinh học, hay những lĩnh vực công nghệ mới, công
nghệ cao, công nghệ có giá trị đối với người nông dân, xóa đói giảm nghèo,
bảo vệ môi trường,… đang bị các nhà đầu tư tư nhân “lãng quên” vì lý do
lợi nhuận, rất cần được Nhà nước quan tâm trong chính sách đầu tư phát
triển các cơ sở ươm tạo, tổ chức thúc đẩy kinh doanh, hỗ trợ nguồn vốn
khởi nghiệp ban đầu và hỗ trợ thúc đẩy kinh doanh của các doanh nghiệp
KH&CN khởi nghiệp.
Nguồn gốc sâu xa của đầu tư mạo hiểm đối với ươm tạo doanh nghiệp
KH&CN là nuôi dưỡng nguồn thu cho tương lai với những đối tượng tiềm
năng lớn. Tuy nhiên, hoạt động đầu tư luôn hàm chứa yếu tố rủi ro. Hay nói
cách khác, rủi ro cao luôn song hành với đầu tư mạo hiểm. Việc chấp nhận
điều này, đồng thời có cơ chế quản lý và xử lý rủi ro phù hợp là cần thiết
trong khuyến khích đẩy mạnh các hình thức đầu tư mạo hiểm đối với ươm tạo
doanh nghiệp KH&CN. Hiện tại các luật như Luật doanh nghiệp, Dự thảo
Luật quản lý sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, Luật đầu tư, Bộ

3


Luật hình sự (trong mối liên quan với các luật nội dung) vẫn chưa thể hiện rõ
các chính sách khuyến khích nói trên, thậm chí còn có một số rào cản đối với
các chủ thể tham gia trong hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp. Ví dụ, việc Nhà
nước đầu tư “vốn mồi” cho doanh nghiệp khởi nghiệp chưa được cho phép
trong bất kỳ văn bản luật hay dự luật nào nói trên. Mặc dù tại Luật Đầu tư
2014 đã có quy định ưu đãi đầu tư mạo hiểm, ươm tạo doanh nghiệp công

các loại hình đầu tư cho doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp theo đối tượng
đầu tư như sau: (1) Sáng lập viên khởi nghiệp, gia đình, bạn bè của doanh
nghiệp khởi nghiệp; (2) Nhà đầu tư thiên thần (business angels), là nhà đầu tư
cá nhân không phải gia đình, bạn bè nhưng là những người giàu có đầu tư cho
doanh nghiệp khởi nghiệp trong giai đoạn đầu phát triển; (3) Các trung gian
gọi vốn cộng đồng (crowdfunding) là nơi thu hút vốn đầu tư từ mọi người dân
cho doanh nghiệp khởi nghiệp; (4) Các công ty, tập đoàn đầu tư cho khởi
nghiệp (corporate ventures); (5) Các quỹ đầu tư mạo hiểm (venture capital
funds - VC); và (6) Nhà nước đầu tư cho khởi nghiệp (OECD, 1996; Lerner,
2002).
Các loại hình đầu tư này đóng các vai trò khác nhau trong từng bước
phát triển của startups, bao gồm: ươm mầm, bắt đầu khởi nghiệp, phát triển và
mở rộng, thoái vốn bằng mua bán & sáp nhập và chuẩn bị IPO. Nếu ở giai
đoạn ươm mầm, các nhà đầu tư thiên thần với các khoản tiền nhỏ nhưng rủi ro
cao đóng vai trò quan trọng trong việc cấp vốn ĐTMH cho startup thì ở giai
đoạn sau, các quỹ ĐTMH thường là đối tượng chính để cấp vốn cho doanh
nghiệp khởi nghiệp. Trong khi đó, các tập đoàn đầu tư có thể vừa đóng vai trò
của người cung cấp vốn đầu tư cho startups, vừa có thể thực hiện các khoản
mua bán và sáp nhập, chính là lúc các khoản đầu tư có thể thoái vốn. Nhà
nước thường tham gia vào giai đoạn ban đầu, cung cấp vốn cho doanh nghiệp
dưới dạng tài trợ hoặc đầu tư bằng cổ phần trực tiếp, hoặc đầu tư thông qua
một quỹ đầu tư tư nhân mà nhà nước góp vốn.

5


Hình 1: Các giai đoạn khởi nghiệp phân loại theo nhu cầu vốn [7]
Nguồn: />Các đặc điểm chính của các loại hình đầu tư mạo hiểm cho doanh
nghiệp KH&CN khởi nghiệp có thể tổng quát như sau:
- Nhà đầu tư thiên thần: đây là những nhà đầu tư cá nhân giàu có,

vào các công ty mới thành lập và có tiềm năng phát triển nhanh. Khác với các
tổ chức đầu tư tài chính truyền thống, VC có quy trình đánh giá, lựa chọn
startup rất kỹ lưỡng, không chỉ đầu tư mà còn hỗ trợ startups trong việc quản
lý doanh nghiệp, tìm kiếm các vòng đầu tư sau và chuẩn bị cho việc thoái vốn
thông qua mua bán & sáp nhập hoặc IPO (Lerner, 2009). Nhiều nghiên cứu
cho rằng VC có sự ảnh hưởng lớn và tích cực đến việc phát triển hoạt động
đổi mới sáng tạo (Hellmann & Puri, 2000). Các công ty được đầu tư từ VC
(VC-backed companies) hầu hết đóng vai trò quan trọng, dẫn đầu trong các

7


ngành như công nghệ sinh học, máy tính, bán dẫn (Lerner, 2009). Ngoài ra,
theo thống kê của các công ty đã niêm yết trên sàn chứng khoán Hoa Kỳ, các
công ty được đầu tư bởi VC cũng có xu hướng phát triển nhanh hơn (thời
điểm niêm yết kể từ khi thành lập), phát triển bền vững hơn sau khi phát hành
IPO và tạo ra nhiều việc làm hơn so với các công ty không được đầu tư bởi
các quỹ này (Lerner, 2009).
Về mặt các chính sách liên quan đến đầu tư của nhà nước, đã có một số
nghiên cứu như sau:
Có hai cách chính mà Nhà nước sử dụng để ảnh hưởng đến nguồn vốn
đầu tư mạo hiểm: (1) đầu tư trực tiếp cho doanh nghiệp khởi nghiệp hoặc (2)
gián tiếp hỗ trợ cho các khoản đầu tư từ các nhà đầu tư tư nhân (Lerner,
2002). Đối với hình thức thứ nhất, Nhà nước mở ra các chương trình ĐTMH
riêng (government venture capital – GVC), trong khi đó đối với hình thức thứ
hai, nhà nước thường đầu tư dưới dạng cổ đông trách nhiệm hữu hạn (limited
partner) của các quỹ ĐTMH tư nhân hoặc đầu tư đối ứng với các nhà đầu tư
tư nhân, bao gồm cả quỹ ĐTMH, nhà đầu tư thiên thần, công ty đầu tư lẫn các
cơ sở ươm tạo.
Nhà nước đầu tư vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp vì một số giả định

chính trị tốt chứ không dựa trên năng lực thực sự của các tổ chức đó.
+ Do GVC thường có các mục tiêu về xã hội như việc làm tạo ra, kết
quả nghiên cứu được thương mại hóa, hơn là mục tiêu về tài chính nên các
quỹ này có xu hướng đầu tư dưới giá thị trường, do đó thu hút hầu hết các dự
án startup tốt, để lại những dự án chất lượng thấp hơn cho các nhà đầu tư tư
nhân (Leleux & Surlemont, 2003). Có một số nghiên cứu thực nghiệm cho
thấy thực sự đầu tư từ nhà nước đã có ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư tư nhân
ở một số nước Châu Âu, Hoa Kỳ và Canada (Armour & Cumming, 2006;
Cumming & MacIntosh, 2006; Da Rin et al. ,2006).
Chính vì các lý do nêu trên, nhiều nghiên cứu cho rằng GVC thường ít

9


khi thành công (Lerner, 2002).
Tuy nhiên, hình thức đầu tư gián tiếp tư nhà nước được coi là có hiệu
quả hơn so với hình thức đầu tư trực tiếp từ GVC (OECD, 2013).Khi đó, nhà
nước đầu tư phần vốn của mình vào các quỹ ĐTMH của tư nhân như vậy nhà
nước có thể tận dụng bộ lọc và kinh nghiệm của các quỹ tư nhân trong việc
lựa chọn và hỗ trợ các startup phát triển (Cumming, 2007; Munari & Toschi,
2011).Các quỹ tư nhân cũng sẽ làm tốt hơn các GVC trong việc hỗ trợ thoái
vốn từ startup (Luukkonen, Deschryvere & Bertoni, 2013). Tại Israel, Chương
trình hỗ trợ đầu tư mạo hiểm Yozma từ năm 1993 đến 1998, được coi là động
lực quan trọng nhất để phát triển ngành đầu tư mạo hiểm tại nước này. Yozma
đã đầu tư 80 triệu USD để góp vốn vào 10 quỹ đầu tư mạo hiểm của tư nhân
và 20 triệu USD để hỗ trợ, đầu tư trực tiếp cho doanh nghiệp KH&CN khởi
nghiệp. Với sự tham gia đầu tư của Yozma mà lượng vốn đầu tư mạo hiểm
trên thị trường của Isarel tăng từ 27 triệu USD năm 1992 lên đến 2,712 triệu
USD vào năm 2000. Sau 5 năm, nhà nước đã thoái vốn thành công (bảo toàn
vốn) tại tất cả 10 quỹ được nhận đầu tư (Avnimelech, 2009).

- Được hưởng chính sách ưu đãi về tín dụng đầu tư của Ngân hàng phát
triển Việt Nam, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia và các quỹ khác để thực
hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh;
- Được ưu tiên sử dụng trang thiết bị phục vụ cho hoạt động nghiên cứu
khoa học và phát triển công nghệ tại phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia,
cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu khoa học
và công nghệ của Nhà nước.
Tuy nhiên, trên thực tế việc hỗ trợ phát triển doanh nghiệp KH&CN
còn nhiều khó khăn, vướng mắc, cụ thể:
- Vấn đề đăng ký chứng nhận doanh nghiệp KH&CN còn rất phức tạp,
mất thời gian để doanh nghiệp chứng minh được quyền sở hữu, quyền sử
dụng hợp pháp đối với kết quả nghiên cứu, đặc biệt là các kết quả nghiên cứu

11


hình thành từ ngân sách nhà nước (Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp
KH&CN, 2013b).
- Nhiều doanh nghiệp công nghệ thông tin (CNTT) không mấy “mặn
mà’’ với việc đăng ký doanh nghiệp KH&CN do các ưu đãi họ được hưởng
khi là doanh nghiệp CNTT đã được hưởng rất nhiều ưu đãi (Tia sáng, 2013).
- Phần “công nghệ” trong doanh nghiệp chưa thực sự phát triển. Hằng
năm có quá ít các kết quả nghiên cứu từ người Việt Nam được đăng ký bảo hộ
sở hữu trí tuệ (Báo cáo hằng năm, Cục Sở hữu trí tuệ, 2015; Mai Hà, Mai Hà,
Hoàng Văn Tuyên, Đào Thanh Trường, 2015).
- Các chính sách về hỗ trợ tài chính, ví dụ thông qua ưu đãi thuế, cho
doanh nghiệp KH&CN rất khó để có thể tiếp cận, chưa thực sự tạo được động
lực cho các doanh nghiệp đó (Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp
KH&CN, 2013b).
- Để phát triển các doanh nghiệp KH&CN mới thành lập, vai trò của

- Trong khi các dự án về phát triển, thương mại hóa công nghệ mới,
công nghệ cao khó có thể tiếp cận được các tổ chức tài chính truyền thống thì
họ có thể tiếp cận đầu tư từ các quỹ ĐTMH. Ở nhiều nước trên thế giới,
ĐTMH đã được chứng minh là đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển
các công ty có tiềm năng phát triển nhanh dựa trên công nghệ.Cũng có nhiều
chính sách liên quan đến phát triển ĐTMH. Tuy nhiên, tác giả của các nghiên
cứu trong nước về vấn đề này cho rằng biện pháp hiệu quả nhất là phải
khuyến khích được tư nhân cùng tham gia với nhà nước để thành lập các quỹ
ĐTMH phối hợp công – tư (Viện Chính sách và Chiến lược khoa học và công
nghệ, 2015).
- Từ năm 2000 đến nay, mới chỉ có khoảng 3 – 4 quỹ đầu tư mạo hiểm
ở Việt Nam và tất cả là quỹ nước ngoài, có văn phòng đại diện ở Việt Nam.
Trong năm 2016, Tập đoàn công nghệ FPT mở quỹ đầu tư FPT Ventures tuy
nhiên vẫn chưa rõ đây là mô hình công ty đầu tư hay quỹ đầu tư (được phép

13


phát hành chứng chỉ quỹ để huy động vốn). Điều này thể hiện một số thực tế
sau: (1) Trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam chưa có quy
định về đăng ký hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm dành cho khởi nghiệp
đổi mới sáng tạo trong khi đó ở các nước phát triển trên thế giới, việc thành
lập và hoạt động của các quỹ này được quy định riêng biệt và có những điều
kiện thấp hơn nhiều về vốn và các nguyên tắc đầu tư hơn so với điều kiện của
quỹ đầu tư chứng khoán thông thường; (2) Cũng chưa có các ưu đãi thuế dành
cho nhà đầu tư từ quy mô cá nhân (nhà đầu tư thiên thần) đến quy mô quỹ
trong khi đó các nước như Hồng Kông, Singapore đều có các ưu đãi rất lớn
cho nhà đầu tư mạo hiểm; (3) Hệ thống tài chính của Việt Nam chưa thật sự
phát triển, chính vì vậy các công cụ đầu tư, cách thức đầu tư và cấu trúc tài
chính của doanh nghiệp chưa được chuyên nghiệp, chưa thực sự thu hút nhà

và đầu tư dưới dạng góp vốn doanh nghiệp. Do đó, các nghiên cứu hầu hết tập
trung phân tích khía cạnh KH&CN; trong khi đó những vấn đề về cấu trúc
doanh nghiệp, chính sách về doanh nghiệp (ví dụ, quy định về phá sản, bảo
hiểm,…), hay những chính sách về thị trường đầu tư (ví dụ: quy định về
chứng khoán, các tổ chức tín dụng, ngân sách nhà nước,…) có ảnh hưởng ra
sao đến đầu tư vẫn chưa được nghiên cứu. Hơn nữa, các nghiên cứu hầu hết
sử dụng phương pháp tổng hợp tài liệu quốc tế để đưa ra những đề xuất cho
việc phát triển đầu tư cho công nghệ ở Việt Nam, chứ chưa thực sự dựa trên
khung pháp lý hiện có và tình hình văn hóa, xã hội trong nước để đưa ra
những đề xuất phù hợp.
Từ những nghiên cứu và thực tiễn trên thế giới, tại Việt Nam về đầu tư
mạo hiểm, tôi đã chọn thực hiện Luận văn với chủ đề “Giải pháp chính sách
thúc đẩy đầu tư mạo hiểm đối với hoạt động ươm tạo doanh nghiệp
khoa học và công nghệ tại Việt Nam”, để có cái nhìn tổng quan về tình hình
đầu tư và chính sách đầu tư cho mô hình startup trên thế giới và những điểm
còn cần tiếp tục đào sâu, phân tích đối với thực trạng và chính sách đầu tư cho

15


ươm tạo doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đề xuất chính
sách khuyến khích đầu tư mạo hiểm có sự tham gia của Nhà nước cho hoạt
động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu kinh nghiệm một số nước về các loại hình đầu tư của Nhà
nước cho hoạt động ươm tạo và phát triển doanh nghiệp KH&CN.
- Nghiên cứu thực trạng chính sách, thực tiễn hoạt động đầu tư cho

về vấn đề chính sách thúc đẩy đầu tư mạo hiểm cho ươm tạo doanh nghiệp
KH&CN.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận:
Việc nghiên cứu Luận văn với đề tài trên một phần là củng cố tri thức,
phương pháp nghiên cứu khoa học cho người nghiên cứu về đầu tư mạo hiểm.
Đồng thời Luận văn sẽ làm phong phú thêm phạm vi nghiên cứu, lĩnh vực
nghiên cứu về đầu tư mạo hiểm cho ươm tạo doanh nghiệp KH&CN.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần làm rõ được những đặc điểm và cơ chế hoạt động
của ĐTMH trong hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN, phân tích thực
trạng quốc tế về các loại hình đầu tư của Nhà nước cho hoạt động ươm tạo và
phát triển doanh nghiệp khoa học công nghệ và tác động của nó trong hình
thành hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp trong nước, phân tích thực trạng của
Việt Nam và nêu lên một số bài học kinh nghiệm cũng như đề xuất các giải
pháp chính sách nhằm phát triển hoạt động ĐTMH ở Việt Nam trong thời
gian tới

17


7. Bố cục của Luận văn
- Mở đầu
- Chương 1: Vai trò đầu tư mạo hiểm đối với việc ươm tạo doanh
nghiệp khoa học và công nghệ
- Chương 2: Đầu tư mạo hiểm cho ươm tạo doanh nghiệp
KH&CN: Thực trạng chính sách tại Việt Nam và các bài học kinh nghiệm
quốc tế.
- Chương 3: Đề xuất giải pháp chính sách thúc đẩy đầu tư mạo hiểm
cho hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN.

nước đầu tư cho khởi nghiệp. Đồng thời, cũng bao gồm cả chủ thể đầu tư là tổ
chức “mẹ” đối với trường hợp spin-off.
Về động lực đầu tư, có thể phân làm các loại sau:
- Sáng lập viên khởi nghiệp đầu tư vào doanh nghiệp KH&CN khởi
nghiệp vì tin tưởng vào sản phẩm, dịch vụ của mình; vì mong muốn đưa các
sản phẩm, dịch vụ mới được tạo ra từ trí tuệ của mình đến cộng đồng, xã hội;

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status