BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CỤC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP HỖ TRỢ TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG ƯƠM TẠO
DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Chủ nhiệm Đề tài:
ThS. Trần Xuân Đích
Đơn vị chủ trì :
Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp
KH&CN
HÀ NỘI - 2012
2.3. Đánh giá chung hoạt động tài chính của các VƯDN 52
2.3.1. Về nguồn vốn hoạt động 52
2.3.2. Về tính chất hoạt động 53
2.3.3. Về mô hình tổ chức và sở hữu 54
2.3.4. Về tính bền vững của các VƯDN 54
2.4. Một số nhận xét về mô hình hoạt động tài chính của các VƯDN 55
2.5. Giải pháp tài chính hỗ trợ cho các VƯDN 62
2.5.1. Về hỗ trợ huy động vốn và quản lý nguồn vốn 62
2.5.2. Về các chính sách ưu đãi 63
2.5.3. Về chính sách hỗ trợ tài chính nhằm thu hút nhân tài 63
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG
NGHỆ TẠI VIỆT NAM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP HỖ TRỢ TÀI CHÍNH 65
3.1. Tình hình phát triển DNKHCN tại Việt Nam tính đến nay 65
3.2. Những chính sách hỗ trợ đối với DNKHCN 65
3.3. Những đặc điểm trong hoạt động tài chính của các DNKHCN tại các địa phương
triển khai nghiên cứu 66
3.3.1. Về lĩnh vực đầu tư của doanh nghiệp 67
3.3.2. Về tài sản và nguồn vốn của các doanh nghiệp 68
3.3.3. Về nguồn nhân lực của doanh nghiệp 70
3.4. Giới thiệu về một số DNKHCN tiêu biểu 72
3.5. Một số đánh giá về điểm mạnh và điểm hạn chế của các DNKHCN 80
3.6. Nguyên nhân của những hạn chế trong phát triển DNKHCN 81
3.7. Giải pháp tài chính hỗ trợ cho các DNKHCN và các DN tiềm năng phát triển thành
DNKHCN 83
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 87
4.1. Kết luận 87
4.1.1. Cơ sở pháp lý cho hoạt động ươm tạo và phát triển DNKHCN chưa hoàn thiện . 88
4.1.2. Công tác quản lý nhà nước có liên quan đến hoạt động ƯTDNKHCN 88
4.1.3. Hoạt động của các DN và VƯDN 89
4.2. Các đề xuất nhằm phát triển hoạt động ƯTDN và hỗ trợ các DNKHCN 90
UNIDO United Nations Industrial Development Organization
UNDP United Nations Development Programme
SMEs Doanh nghiệp vừa và nhỏ (Small and Medium Enterprises)
Nghị định 115 Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ
quy định về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức
khoa học và công nghệ công lập
Nghị định 80 Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 của Chính phủ
quy định về doanh nghiệp khoa học và công nghệ
2
Nghị định 96 Nghị định số 96/2010/Đ-CP ngày 20/9/2010 của Chính phủ
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 115 và Nghị định
80
Quyết định 1244 Quyết định số 1244/QĐ-TTg ngày 25/7/2011 của Thủ tướng
phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ khoa học và
công nghệ chủ yếu giai đoạn 2011 - 2015
Thông tư 06 Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT-BKHCN-BTC-BNV
của liên Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính và Bộ Nội
vụ ngày 18/6/2008 hướng dẫn thực hiện Nghị định số
80/2007/NĐ-CP
3
MỞ ĐẦU
A. Tính cấp thiết của đề án
DNKHCN chính là chủ thể quan trọng nhất trong thị trường công nghệ,
có vai trò then chốt trong quá trình đổi mới công nghệ của cả hệ thống doanh
nghiệp. Nhận rõ tầm quan trọng của loại hình doanh nghiệp này đối với sự phát
triển bền vững của nền kinh tế, ngay trong phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ
khoa học và công nghệ chủ yếu giai đoạn 2011 - 2015 (được phê duyệt theo
Quyết định số 1244) đã xác định rõ cần phải đạt được mục tiêu hình thành được
Ngày 8/6/2011, Thủ tướng đã ký Quyết định số 890/QĐ- TTg về việc
thành lập Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ với
nhiệm vụ phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN trong phạm vi cả nước.
Nhiệm vụ của Cục trong thời gian tới (đặc biệt là tới năm 2015) là cần phải tập
trung mọi nguồn lực để tổ chức thực hiện các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ để
đạt cho được mục tiêu đặt ra trong kế hoạch phát triển khoa học công nghệ trong
giai đoạn 2011-2015 (theo Quyết định 1244) là xây dựng được 3.000 DNKHCN,
trong đó có 70% doanh nghiệp này được hình thành từ các viện nghiên cứu,
trường đại học; đồng thời tăng giá trị giao dịch thành công trên thị trường công
nghệ bình quân 15-17%/năm.
Để có được chính sách phát triển phù hợp, người hoạch định chính sách
cần có được bức tranh thực trạng phản ánh trung thực sự hình thành, phát triển
và đặc biệt hoạt động tài chính của các VƯDN công nghệ qua đó phát triển các
DNKHCN đã, đang và sẽ hình thành tại các địa phương. Đề án này nhằm đánh
giá tổng quan biện pháp tác động về mặt chính sách. cần có biện pháp hỗ trợ về
mặt kỹ thuật trong hỗ trợ hoạt động tài chính để có thể thúc đẩy sự hình thành
và phát triển các VƯDN công nghệ qua đó phát triển các DNKHCN. Đây là
tiền đề cơ bản cần thiết cho việc hoạch định kế hoạch chiến lược phát triển,
nội dung hoạt động của cơ quan mới thành lập là Cục Phát triển Thị trường và
doanh nghiệp KH&CN trong thời gian tới.
B. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Nghiên cứu nhằm bước đầu hình thành những cơ sở khoa
học cho việc hỗ trợ tài chính trong hoạt động ươm tạo doanh nghiệp khoa học và
công nghệ phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá được thực trạng hoạt động ươm tạo doanh nghiệp trong đó đi
sâu phân tích hoạt động tài chính trong việc ươm tạo DNKHCN tại
một số địa phương.
5
6
Đối với việc xây cơ chế chính sách phục vụ công tác quản lý nhà nước:
Kết quả nghiên cứu của đề án sẽ là cơ sở khoa học cho việc xây dựng các văn
bản pháp quy, các chương trình, kế hoạch hành động cụ thể nhằm thực hiện các
giải pháp hỗ trợ tài chính cho hoạt động ƯTDNKHCN của Cục Phát triển thị
trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ cũng như các cơ quan quản lý
có liên quan.
Đối với phát triển kinh tế - xã hội: Kết quả nghiên cứu sẽ là đóng góp
những cơ sở khoa học và thực tiễn để hoàn thiện các chương trình phát triển
TTCN và DNKHCN. Việc thực hiện các chương trình sẽ mang lại hiệu quả tích
cực đối với việc phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của các DNKHCN
và các sàn giao dịch công nghệ, qua đó thúc đẩy việc đổi mới công nghệ trong
sản xuất kinh doanh, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội lâu dài.
Đối với tổ chức tài trợ cho hoạt động ƯTDNKHCN: Các tổ chức này (bao
gồm: các Quỹ đầu tư, các Ngân hàng, các Tập đoàn tài chính,…) có thể tham
khảo kết quả nghiên cứu của đề án làm cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng
các dự án khả thi nhằm hỗ trợ hiệu quả nhất cho hoạt động ƯTDNKHCN.
E. Cấu trúc của Báo cáo
Nội dung chính của Báo cáo tổng hợp được trình bày trong khuôn khổ 04
chương:
- Chương 1: Nghiên cứu tổng quan về hoạt động ươm tạo doanh nghiệp
khoa học và công nghệ
- Chương 2: Thực trạng của các vườn ươm doanh nghiệp tại Việt Nam và
các giải pháp hỗ trợ tài chính
- Chương 3: Thực trạng của các doanh nghiệp khoa học và công nghệ tại
Việt Nam và các giải pháp hỗ trợ tài chính
- Chương 4: Kết luận và khuyến nghị
Các nội dung khác của báo cáo bao gồm: Các từ viết tắt, Đặt vấn đề, Tài
liệu tham khảo và Phụ lục.
nghiệp và mang những đặc điểm chung của doanh nghiệp; được sản xuất kinh
doanh phù hợp với giấy phép đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp và được quy
1
Việc đồng nhất các khái niệm doanh nghiệp công nghệ với DNKHCN có cơ sở từ nhận thức rằng “Nếu khoa
học là tri thức nhận được qua nghiên cứu và thực nghiệm được thương mại hóa hoặc được áp dụng để biến
nguồn lực thành sản phẩm thì nó cũng được coi là công nghệ theo nghĩa hẹp”. Theo từ điển Webster’s New
World Dictionary & Thesaurus, “technology” được hiểu là “the science or study of the practical or industrial
arts, applied sciences, etc.”
8
định giới hạn đối với một số lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, loại hình doanh nghiệp
này đòi hỏi nguồn vốn đầu tư mạo hiểm khá lớn và luôn phải đối mặt với khả
năng rủi ro cao. Bản thân các chủ thể tạo dựng và điều hành các doanh nghiệp
này cũng có những đặc điểm riêng biệt, bởi họ thường là các nhà khoa học,
thông thạo môi trường nghiên cứu hơn là môi trường kinh doanh.
Kinh nghiệm nghiên cứu quốc tế cho thấy để hình thành nên một
DNKHCN cần có đủ 4 điều kiện: (i) phải có người sáng tạo công nghệ (là những
cá nhân hoặc tổ chức có công nghệ được hình thành trong các giai đoạn của
quá trình đổi mới, sẵn sàng để chuyển giao); (ii) phải có tổ chức mẹ (là nơi thực
hiện các hoạt động nghiên cứu và phát triển); (iii) phải có những người có tinh
thần kinh thương (là người áp dụng công nghệ đã được sáng tạo ra để hình
thành một doanh nghiệp mới); (iv) phải có các nhà đầu tư mạo hiểm (là người
cung cấp vốn cho doanh nghiệp mới và sở hữu một số cổ phiếu hoặc chia sẻ lợi
ích trong doanh nghiệp mới).
Theo một báo cáo của Quỹ phát triển doanh nghiệp Toronto
2
(Canada), có
trong giúp các doanh nghiệp (thường ở dạng spin-off hoặc start-up) phát triển
thành DNKHCN.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của ƯTDNKHCN
ƯTDNKHCN là một khái niệm tương đối mới mẻ ở nước ta cho dù đã
được phát triển tương đối đa dạng và sâu sắc ở các nước có nền kinh tế phát
triển trên thế giới. Nó liên quan chặt chẽ đến những quan điểm về ƯTCN,
ƯTDN, ƯTDNCN, VƯDN hay VƯDNKHCN. Để có thể đi sâu phân tích làm
rõ nội hàm hoạt động ƯTDNKHCN, chúng ta cần thống nhất cách hiểu các khái
niệm nói trên. Sau đây trình bày những định nghĩa được dùng tương đối rộng rãi
trên thế giới.
3
ƯTCN (technology incubation) là quá trình nghiên cứu khoa học nhằm (i)
thích nghi và làm chủ công nghệ tiên tiến ngoại nhập; (ii) đổi mới, cải tiến công
3
Nguyễn Thị Minh Nga (2007). Đề tài cấp cơ sở: Nghiên cứu một số mô hình tổ chức và hoạt động của tổ chức
ươm tạo doanh nghiệp công nghệ. Cơ quan chủ trì: Viện chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ (Bộ
KH&CN).
10
nghệ theo hướng hiện đại hoá (technology innovation) làm tăng năng suất, giảm
giá thành, tăng cường năng lực cạnh tranh của sản phẩm; (iii) sáng tạo công
nghệ (new and advanced technologies/ inventions).
ƯTDN (business incubation) là quá trình hỗ trợ cho các doanh nghiệp
trong giai đoạn khởi nghiệp nhằm giảm thiểu chi phí ban đầu, hạn chế rủi ro,
khắc phục những thiếu hụt kiến thức và kinh nghiệm về tổ chức, quản lý, mạng
lưới liên kết, tiếp cận thị trường , nâng cao khả năng tồn tại (survival rate) và
khách hàng; có một giám đốc vườn ươm tại chỗ điều phối các nhân viên, các
chuyên gia bên ngoài và các tổ chức để cung cấp các dịch vụ hỗ trợ doanh
nghiệp; giúp các doanh nghiệp trưởng thành một khi các doanh nghiệp đạt được
các mục tiêu của chương trình (mặc dù không vượt ra ngoài các phương tiện và
trang thiết bị của chương trình).
Dưới đây trình bày một số các khái niệm cụ thể về vườn ươm được nhiều
nghiên cứu trong và ngoài nước sử dụng bao gồm VƯDN, VƯDNCN, VƯCN
và VƯDNCNC.
VƯDN (business incubator) là nơi cung cấp cơ sở vật chất, diện tích làm
việc đa dạng và cung cấp các hình thức tư vấn, dịch vụ hỗ trợ nhằm nuôi dưỡng
sự phát triển các doanh nghiệp khởi sự với mục đích tạo công ăn việc làm và
phát triển kinh tế địa phương.
VƯDNCN (technology business incubator) là một dạng của VƯDN tập
trung vào ươm tạo các doanh nghiệp dựa trên công nghệ (technology based
enterprise).
VƯCN (technology incubator) là một dạng đặc biệt của VƯDN tập trung
vào ươm tạo các doanh nghiệp dựa trên một lĩnh vực công nghệ.
VƯDNCNC (high technology business incubator) là một dạng đặc biệt
của VƯDN tập trung vào ươm tạo các doanh nghiệp dựa trên lĩnh vực công
nghệ cao (hi-tech or new and advanced technology).
b. Vai trò của VƯDN trong hoạt động ƯTDNKHCN
Việc ƯTCN, ƯTDN hay ƯTDNKHCN nói chung phải được tiến hành
trong các VƯ. Thông thường từ những ý tưởng khả thi nhất, các VƯ sẽ ươm tạo
các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ được chọn lựa. Việc hỗ
trợ được tiến hành trong khoảng thời gian 1 đến 3 năm. Khi các doanh nghiệp
được ươm tạo đủ điều kiện tự hoạt động thì sẽ có hai lựa chọn: hoặc là trở thành
công ty thành viên của vườn ươm, qua đó mở ra một lĩnh vực hoạt động mới
là xuất hiện các VƯDN của các chủ thể là nhà nước, trường đại học, viện nghiên
cứu, doanh nghiệp với các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh đa dạng và chuyên
nghiệp hơn. Quá trình ươm tạo cũng thay đổi từ ý tưởng đến sản phẩm/dịch vụ,
từ sản phẩm/dịch vụ đến dự án kinh doanh, từ dự án kinh doanh đến thành lập và
“nuôi dưỡng” doanh nghiệp.
Ảnh hưởng của cuộc cách mạng CNTT trong những năm 90 đã làm thay
đổi đáng kể một số nguyên tắc hoạt động thị trường và cả trong lĩnh vực ƯTDN.
Phần lớn các VƯDN trên thế giới, đặc biệt là các vườn ươm tập trung vào ươm
tạo các ngành công nghệ cao và gắn với sự phát triển của CNTT, rút ngắn quy
trình và thời gian ươm tạo, đưa sản phẩm ra thị trường trong thời gian ngắn.
13
Nhiều vườn ươm đã chuyển đổi sang mô hình “vườn ươm ảo” (virtual
incubator). Vườn ươm ảo với sự hỗ trợ của CNTT và Internet cho phép khách
hàng ươm tạo nhận được tư vấn từ vườn ươm mà không cần ươm tạo tại địa
điểm đặt vườn ươm. Hơn nữa, các khách hàng có thể được tư vấn trực tiếp qua
mạng và truy cập vào để mục khác của vườn ươm như các dịch vụ đào tạo, liên
kết với các nhà cung cấp hoặc dịch vụ tài chính khác… Để có cái nhìn toàn diện
về vấn đề này qua đó làm cơ sở để đối chiếu, so sánh và đưa ra được các ý kiến
tư vấn, tham mưu về chính sách cần tiến hành tổng hợp các bài học kinh nghiệm
quốc tế trong vấn đề này.
1.2.1. Kinh nghiệm của Hàn Quốc về phát triển VƯDN
Tại Hàn Quốc, nhu cầu thương mại hóa các công nghệ mới và hỗ trợ cho
các doanh nghiệp mới khởi sự ngày càng cao trong những năm 90. Cuộc khủng
hoảng tài chính ở Châu Á vào cuối những năm 90 được xem là bước ngoặt trong
phát triển VƯDN ở Hàn Quốc trước những áp lực giải quyết các vấn đề xã hội
như nạn thất nghiệp và phát triển kinh tế bền vững. Nhiều VƯDN đã được các
cơ quan của Chính phủ trực tiếp hỗ trợ thành lập như: Bộ Thương mại, Công
nghiệp và Năng lượng, Bộ Thông tin và Viễn thông, Bộ Văn hóa và Du lịch và
Cơ quan Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMBA),… Tính đến năm 2003, Hàn Quốc
khi các nhà hoạch định chính sách thông qua các ý tưởng của chương trình
ƯTDN và cuối cùng vào năm 2002 mới có ngân sách để hoạt động. DIP đã thúc
đẩy các chương trình ƯTDN thông qua Chương trình phát triển các doanh
nghiệp mới (NEC) và thành lập các vườn ươm thí điểm đầu tiên ở phía Nam của
Thái Lan và sau này là 11 vườn ươm khác trên toàn quốc.
Trong mô hình này có những vườn ươm chung hoặc hỗn hợp, là nơi cung
cấp miễn phí không gian ươm tạo, các khoá đào tạo kinh doanh để giúp các địa
phương tạo ra các doanh nghiệp mới và bền vững. Trong năm 2002, vườn ươm
chuyên ngành về công nghệ đầu tiên cũng đã được khởi xướng bởi công viên
phần mềm Thái Lan với mục tiêu hỗ trợ các doanh nghiệp mới khởi sự trong
lĩnh vực phần mềm. Dự án được tài trợ theo chương trình NEC và vườn ươm
này đã trở thành mô hình điển hình của VƯDN ở Thái Lan kể từ đó.
Mặc dù 11 vườn ươm của DIP bị đóng cửa trong năm 2005 do thiếu ngân
sách hỗ trợ, tuy nhiên các vườn ươm của Thái Lan lại phát triển rất nhanh từ 14
vườn ươm theo chương trình NEC vào năm 2003 tới hơn 60 vườn ươm trên toàn
quốc năm 2011.
1.2.3. Kinh nghiệm của Malaysia về phát triển VƯDN
Tại Malaysia, VƯDN hình thành và phát triển nhằm tạo thuận lợi cho sự
phát triển của doanh nghiệp khởi sự trong lĩnh vực công nghệ và các công ty tầm
cỡ thế giới tại Malaysia.
15
Từ năm 1990 đến 1994, đã có 38 VƯDN được thành lập, song các vườn
ươm thời kỳ này chỉ hỗ trợ một cách thụ động và chủ yếu là việc cung cấp các
thiết bị dùng chung, cho thuê đất, tài sản.
Trong giai đoạn 1995-1999, 44 VƯDN được thành lập, các vườn ươm
thời kỳ này đã chủ động hỗ trợ các thiết bị dùng chung, cho thuê đất, tài sản và
có thêm dịch vụ tư vấn cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên chỉ tính từ năm 2000-2010 đã có 24 vườn ươm được thành lập,
và cách thức hoạt động đã có những đổi mới vượt bậc. Tính đến hết năm 2010,
ngành đã và đang được thành lập hoạt động trong các lĩnh vực như công nghệ đa
phương tiện, thiết kế đô thị, đổi mới nông nghiệp và bảo vệ môi trường.
Từ 1998 đến 2004, số lượng các VƯ tăng gấp gần 3 lần và tổng diện tích của
các VƯ tăng lên đến 9 lần; số doanh nghiệp được ươm tạo tăng 11 lần, số doanh
nghiệp đã tốt nghiệp tăng 31 lần; số công việc tạo ra tăng đến 9 lần. Tổng thu nhập
và tổng doanh thu cũng tăng tương ứng 11 và 9 lần.
Trong số 31 VƯ tính đến 2004, 1 VƯ được thành lập bởi UB KH&CN thành
phố, 05 bởi các HTDZs cấp quốc gia, 07 bởi các công viên khoa học của trường
Đại học và 11 bởi chính quyền địa phương với nhiều khoản đầu tư khác nhau.
Các chính sách và hỗ trợ tài chính khác cho các doanh nghiệp được
ươm tạo.
Các DN được ươm tạo có thể được hưởng lợi từ tất cả các nguồn hỗ trợ nhà
nước như các dự án thuộc Chương trình Torch
6
, khoản tài trợ từ Quỹ Đổi mới dành
cho các DNVVN công nghệ cao (1 tỷ RMB đầu tư mỗi năm bởi chính phủ và 40
triệu RMB đầu tư của Quỹ sáng tạo kỹ thuật của thành phố Thượng Hải) và các
chính sách tài chính và thuế (miễn thuế thu nhập theo một số điều kiện). Ủy ban
KH&CN Thượng Hải cũng có những chính sách đặc biệt. Ví dụ, Ủy ban đã tạo ra
các quỹ đặc biệt để thúc đẩy nghiên cứu các mối quan hệ giữa chính phủ – doanh
6
Có thể tìm hiểu thêm về Chương trình Torch tại website
http://ie.chineseembassy.org/eng/ScienceTech/ScienceandTechnologyDevelopmentProgrammes/t112843.htm
17
nghiệp – trường đại học nhờ tăng cường và tập trung nguồn lực vào các vấn đề then
đầu tư chung trị giá 20 triệu RMB.
1.2.5. Mô hình tổ chức và hoạt động điều hành của các VƯDN
18
Các VƯDN hoạt động phi lợi nhuận cũng chiếm tỷ trọng lớn, đặc biệt các
nước ở Châu Á, chiếm hơn 90%. Ở Hàn Quốc, theo thống kê có tới 322/333
VƯDN thuộc loại hình phi lợi nhuận và vì lợi nhuận (chiếm khoảng 97% tổng số
VƯDN). Trong khi Anh, phần lớn các VƯDN do chính phủ thành lập và vận hành
dưới mô hình Công ty TNHH.
Thậm chí, tại Malaysia, các tổ chức tư nhân cũng quan tâm đến việc thành
lập VƯDN với mục đích phi lợi nhuận nhằm đáp ứng nhu cầu ươm tạo của các
doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu kinh doanh hiện đại với những đặc điểm như
tăng tốc độ thâm nhập thị trường, hiệp đồng và liên kết, ươm tạo nhân tài và liên
kết chiến lược.
Đối với mô hình VƯDN vì lợi nhuận (mô hình này chỉ có ở Malaysia, Thái
Lan và các nước đang phát triển khác mô hình VƯDN vì lợi nhuận ít hình thành).
Các doanh nghiệp hay tập đoàn thường đầu tư thành lập VƯDN vì lợi nhuận thông
qua các hoạt động ươm tạo, họ tham gia mua cổ phẩn từ những công ty công nghệ
đang ở giai đoạn đầu phát triển.
Từ kinh nghiệp quốc tế, việc phân loại VƯDN theo tổ chức sáng lập có
các hình thức như sau:
- VƯDN thuộc trường đại học/viện nghiên cứu/học viện/công viên khoa
học:
Mục tiêu của VƯDN trực thuộc trường đại học/viện nghiên cứu/công viên
khoa học là hỗ trợ phát triển công nghệ và chuyển giao công nghệ. Các trường
đại học được coi như một công cụ chiến lược để hỗ trợ phát triển các doanh
nghiệp khoa học/công nghệ mới (RTBFs). Các VƯDN dạng này thường được
phân loại là VƯDN công nghệ. Đây là nơi chắp nối, kết hợp các yếu tố tài năng,
vốn, công nghệ nhằm phát triển các công ty dựa vào công nghệ mới và đẩy
nhanh tốc độ thương mại hóa công nghệ. Mô hình này tồn tại ở cả Thái Lan và
thâm nhập thị trường, hiệp đồng và liên kết, ươm tạo nhân tài và liên kết chiến
lược.
- VƯDN do các doanh nghiệp hoặc tập đoàn thành lập vì mục tiêu lợi
nhuận:
Mô hình này chỉ có ở Malaysia, không có ở Thái Lan. Các doanh nghiệp
hay tập đoàn thường đầu tư thành lập vườn ươm, thông qua các hoạt động ươm
tạo. Họ tham gia mua cổ phần từ những công ty công nghệ đang ở giai đoạn đầu
phát triển.
1.2.6. Tài chính cho hoạt động của các VƯDN
20
Tại Anh, phần lớn các VƯDN do các trường đại học thành lập, và trong
thời gian đầu chủ yếu dựa vào tài trợ từ các nguồn vốn ngân sách của Chính
phủ. Xấp xỉ 70% trong tổng số khoảng 270 dự án VƯDN là do các trường đại
học, hội đồng thành phố và các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp sở hữu và tài trợ
một phần. Trong khi đó, các VƯDN do tư nhân sở hữu và quản lý tạo ra kinh
phí từ một số nguồn bao gồm việc thu phí dịch vụ và hưởng tỷ lệ phần trăm lợi
nhuận của các doanh nghiệp được ươm tạo. Mục đích của các VƯDN tư nhân là
nhanh chóng tạo ra các doanh nghiệp công nghệ mới, và đổi lại họ có được cổ
phần ở những doanh nghiệp này.
Tại Hàn Quốc, đến nay nguồn vốn từ ngân sách Chính phủ vẫn là nguồn
tài trợ chính cho các VƯDN và phần lớn các cơ sở ươm tạo này là do Chính
phủ thành lập. Có nhiều biện pháp hỗ trợ VƯDN khác nhau và tùy thuộc vào cơ
quan thực hiện tài trợ. Ví dụ, Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn
Quốc (gọi tắt là MOCIE) thông qua Cục Doanh nghiệp nhỏ và vừa hỗ trợ tới
80% kinh phí cần thiết cho các VƯDN của mình, với giới hạn trần là 1 tỷ won
cho các lĩnh vực sau: (i) Kinh phí để xây dựng hoặc cải tạo VƯDN; (ii) Tiền
thuê nhà để phục vụ cho VƯDN với thời gian trên 10 năm, (iii) Chi phí mở rộng
lên tới 0,5 tỷ won, khi các doanh nghiệp trong vườn ươm đòi hỏi phải mở rộng
cơ sở; và (iv) Kinh phí để mua sắm thiết bị sản xuất, thử nghiệm và đo lường.
, ươm tạo cho 4.143
doanh nghiệp, trong đó có 1.989 doanh nghiệp đã rời VƯDN và hơn 50 doanh
nghiệp đã niêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK). Đáng lưu ý là, trong
vòng 20 năm, các VƯDN Trung Quốc trên đã tạo ra số việc làm lớn hơn nhiều
so với Mỹ, tương ứng 792.590 người (giai đoạn 2001-2008) so với khoảng
500.000 (giai đoạn 1980-2001).
22
Theo Kế hoạch phát triển KH&CN, đầu tư cho R&D của Trung Quốc đạt
mức 360 tỷ NDT vào năm 2010 và sẽ đạt mức 900 tỷ NDT vào năm 2020, tương
đương 2% GDP vào năm 2010 và 2,5% GDP vào năm 2020. Đầu tư xã hội cho
KH&CN đạt 730 tỷ NDT vào năm 2010 và sẽ đạt 1800 tỷ NDT vào năm 2020.
Đầu tư tài chính của Nhà nước sẽ được sử dụng để hỗ trợ chủ yếu cho nghiên
cứu cơ bản, nghiên cứu mũi nhọn, nghiên cứu các công nghệ then chốt, các lĩnh
vực vốn không thể giải quyết theo cơ chế thị trường. Chính phủ đóng vai trò chủ
đạo trong việc tăng đầu tư cho KH&CN thông qua các chính sách thuế và tài
chính.
1.2.7. Một số nhận xét rút ra từ kinh nghiệm của các nước trong phát triển
các VƯDN
Trên cơ sở khảo cứu các kinh nghiệm quốc tế, nhóm thực hiện đề án nhận
thấy một số vấn đề đáng lưu tâm trong việc thực hiện hỗ trợ phát triển các
VƯDN như sau:
- Về cơ bản, mô hình các vườn ươm chủ yếu là “phi lợi nhuận”, nhằm
mục đích chính tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội thông qua việc phát
triển KH&CN gắn với sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Các trường Đại học, Viện nghiên cứu có vai trò hết sức quan trọng
trong việc hình thành và phát triển các VƯDN (như trường hợp tại
Anh, Thái Lan hay Thượng Hải, Trung Quốc); bên cạnh đó các VƯ do
cơ quan chính phủ (trung ương và địa phương) hay các công ty tư
nhân đứng ra thành lập cũng có những vai trò nhất định.