Pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm tại việt nam - Pdf 60

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN THỊ HỒNG NHUNG

PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH
TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM
TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2013

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN THỊ HỒNG NHUNG

PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH
TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM
TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số

: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
1

MỞ ĐẦU

Chương 1:

KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH TRONG

8

KINH DOANH BẢO HIỂM

1.1.

Khái niệm, ý nghĩa của cạnh tranh

8

1.2.

Khái niệm và vai trò của bảo hiểm

11

1.2.1. Khái niệm bảo hiểm


24

2.1.2. Pháp luật về cạnh tranh theo các quy định của Luật Kinh
doanh bảo hiểm

38

2.2.

49

Thực tiễn áp dụng pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực kinh
doanh bảo hiểm tại Việt Nam

5


2.2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến cạnh tranh trong lĩnh vực kinh
doanh bảo hiểm

49

2.2.2. Thực trạng kiểm soát các hành vi cạnh tranh phổ biến trong
lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

54

2.2.3. Những vướng mắc, bất cập trong các quy định của pháp luật
về cạnh tranh và pháp luật về kinh doanh bảo hiểm

3.2.

Hoàn thiện các quy định của luật cạnh tranh và pháp luật về
cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

86

3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh

86

3.2.2. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong luật cạnh tranh và luật kinh doanh
bảo hiểm

93

3.3.

97

Đề xuất/khuyến nghị các giải pháp khác nhằm hạn chế và
kiểm soát các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

3.3.1. Khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước

97



CTKLM

: Cạnh tranh không lành mạnh

WTO

: Tổ chức Thương mại Thế giới

8


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng

Trang

Các hình thức xử lý vi phạm đối với thỏa thuận hạn chế

30

bảng
2.1

cạnh tranh
2.2


9

49


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thời gian qua, có thể nhận thấy hoạt động kinh doanh bảo hiểm (KDBH)
tại Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ, không chỉ ở sự gia tăng số lượng
các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) mà điều này còn biểu hiện ở tốc độ tăng
trưởng doanh thu của toàn thị trường. Nếu như năm 1999 mới chỉ có 10
DNBH hoạt động thì đến cuối năm 2010, trên thị trường đã có 29 DNBH phi
nhân thọ và 12 DNBH nhân thọ, 11 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và 01
doanh nghiệp tái bảo hiểm. Tổng doanh thu phí bảo hiểm ước tính cả năm
2010 đạt khoảng 30.201 tỷ đồng (đạt tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm/GDP
khoảng 1,7%), trong đó doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ khoảng 16.547
tỷ đồng, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ khoảng 13.654 tỷ đồng. Tổng số
tiền bồi thường và trả tiền bảo hiểm ước khoảng 11.347 tỷ đồng đảm bảo sự
phát triển ổn định của các tổ chức, cá nhân không may gặp rủi ro, qua đó góp
phần vào sự phát triển của nền kinh tế xã hội [35]. Quá trình phát triển của thị
trường bảo hiểm trong nước đã cho thấy sự cạnh tranh gay gắt giữa các
DNBH trong việc tăng trưởng doanh thu và chiếm lĩnh thị trường.
Bên cạnh đó, hiện nay các cam kết của Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) trong lĩnh vực bảo hiểm đã có hiệu lực, cùng với sự ra đời của Luật
sửa đổi Luật KDBH năm 2010 cho phép các DNBH nước ngoài sẽ được phép
cung cấp các dịch vụ bảo hiểm như bảo hiểm vận tải quốc tế, tái bảo hiểm và
môi giới bảo hiểm, dịch vụ đánh giá rủi ro, giải quyết khiếu nại và tư vấn bảo
hiểm và đặc biệt là được phép cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các dự án,
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mà không cần thành lập

hợp với tình hình mới về cam kết của Việt Nam khi gia nhập các điều ước
quốc tế, trong đó có cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Có thể nhận thấy, chưa có thời điểm nào việc nghiên cứu đồng bộ các quy
định về cạnh tranh cũng như bảo hiểm để hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh

11


liên quan đến bảo hiểm lại đặt ra cấp thiết như thời điểm hiện nay. Xuất phát
từ thực tế này, đề tài nghiên cứu "Pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực
kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam" được người viết lựa chọn làm luận văn
thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Để các hành vi cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm thật sự lành mạnh,
tạo tiền đề cho sự phát triển không ngừng đi lên của thị trường bảo hiểm Việt
Nam thì trước tiên đòi hỏi phải có cơ sở pháp lý cơ bản đầy đủ và đồng bộ
làm tiền đề hoạt động kinh doanh mang tính cạnh tranh của các DNBH, đồng
thời phải xác định rõ được các hành vi hạn chế cạnh tranh, CTKLM chủ yếu
của thị trường này cũng như các chế tài pháp lý để xử lý nghiêm các hành vi
vi phạm.
Cùng với sự ra đời của Luật Cạnh tranh năm 2004, các quy phạm pháp
luật liên quan đến cạnh tranh cũng đã dần được cụ thể hóa vào từng lĩnh vực
cụ thể của nền kinh tế, trong đó có hoạt động KDBH. Trong thời gian vừa qua
đã có rất nhiều các bài viết phản ánh trên các tạp chí về hoạt động cạnh tranh
và các hành vi CTKLM trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, đặc biệt trong giai
đoạn vụ việc xử lý hành thỏa thuận ấn định về phí bảo hiểm vật chất xe được
coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh như đã nói ở trên được Hội đồng xử lý vụ
việc cạnh tranh đưa ra xem xét, xử lý. Bên cạnh đó còn có các nghiên cứu
tổng quan mang tính chuyên sâu hơn như nghiên cứu về "Những hành vi hạn
chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực bảo hiểm ở Việt

vi CTKLM trong hoạt động KDBH phi nhân thọ vì đây là lĩnh vực tập trung
nhiều vấn đề liên quan đến cạnh tranh nhất trong thời gian vừa qua.
Luận văn cũng đưa ra đánh đánh giá một cách tổng quát dưới góc
độ pháp lý về sự tương đồng giữa Luật Cạnh tranh và Luật KDBH trong
việc điều chỉnh các hành vi cạnh tranh trong lĩnh vực KDBH.
Trên cơ sở đó luận văn cũng đưa ra một số gợi ý và đề xuất để hoàn
thiện khung pháp luật điều chỉnh hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực bảo
hiểm và đảm bảo cho khung pháp luật đó được khả thi trên thực tế.

14


5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận để nghiên cứu đề tài này là chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp song song với các phương pháp
tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, sơ đồ.
Phương pháp phân tích được dùng để làm rõ khái niệm bảo hiểm, bản
chất và những đặc thù của bảo hiểm, khái niệm về cạnh tranh, bản chất và ý
nghĩa của cạnh tranh, làm rõ thực trạng điều chỉnh của pháp luật Việt Nam về
hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm.
Phương pháp thống kê, so sánh được sử dụng để làm rõ sự phát triển
của thị trường bảo hiểm Việt Nam, hệ thống các hành vi được xem là
CTKLM, hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm. Ngoài ra, luận văn
cũng sử dụng các bảng biểu, số liệu thống kê để phân tích, chứng minh các
nội dung liên quan.
Trên cơ sở đó, phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát hóa
nhằm đưa ra những đề xuất, kiến nghị của luận văn.
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn có những đóng góp khoa học như sau:
a) Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về cạnh tranh trong lĩnh vực bảo


Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái
niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm cạnh tranh được sử dụng rất
rộng ở nhiều phạm vi khác nhau như trong phạm vi doanh nghiệp, phạm vi
ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi liên quốc gia…và điểm khác nhau là
mục tiêu đặt ra của việc cạnh tranh này như thế nào. Nếu như ở phạm vi quốc
gia, mục tiêu đặt ra là nâng cao mức sống và các chế độ phúc lợi cho nhân
dân thì đối với doanh nghiệp, mục tiêu cuối cùng là tồn tại và tìm kiếm lợi
nhuận và các lợi ích tối đa mang lại quá trị cho doanh nghiệp.
Theo Các Mác thì "cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa
các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và
tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch" [Dẫn theo 50]. Nghiên
cứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa
Mac đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy
luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống
giá cả thị trường. Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí
sản xuất và khả năng có thể bán hàng hóa dưới giá trị của nó nhưng vân thu
được lợi nhuận.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) thì:
Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa
những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà
kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung
cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi
nhất [Dẫn theo 50].

17


Cho đến thời điểm hiện nay, vẫn chưa ó một định nghĩa là về "cạnh
tranh" được thừa nhận đầy đủ nhất. Do đó, cạnh tranh được nhìn nhận ở nhiều

bất bình đẳng trong kinh doanh.
Vai trò của cạnh tranh đối với người tiêu dùng: Trên thị trường, nếu
sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra càng gay gắt thì người được
hưởng lợi ích đầu tiên chính là người tiêu dùng. Cạnh tranh tạo ra sự lựa chọn
rộng rãi hơn, bảo đảm cho cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng không thể áp
đặt giá cả tùy tiện. Khi đó, những lợi ích mà người tiêu dùng có thể nhận
được từ sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường như chất lượng
sản phẩm tốt hơn, giá bán thấp hơn, chất lượng phục vụ cao hơn.
Vai trò của cạnh tranh đối với các doanh nghiệp: Trong nền kinh tế thị
trường, cạnh tranh là điều tất yếu đối với các doanh nghiệp. Cạnh tranh đòi
hỏi các doanh nghiệp phải luôn tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm dịch
vụ, thay đổi kiểu dáng mẫu mã để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng. Cạnh
tranh trở thành động lực khuyến khích các doanh nghiệp phải áp dụng các
công nghệ mới, hiện đại, tạo sức ép buộc các doanh nghiệp phải sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực của mình để giảm giá thành, nâng cao chất lượng dịch
vụ, cải tiến mẫu mã để tạo ra các sản phẩm mới khác biệt có sức cạnh tranh
cao trên thị trường.
Vai trò của cạnh tranh trên bình diện quốc tế: chính cạnh tranh đã
thúc đẩy các doanh nghiệp mở rộng tìm kiếm thị trường với mục đích tiêu
thụ, đầu tư huy động nguồn vốn, lao động, công nghệ, kỹ năng lao động, quản
lý trên thị trường quốc tế. Thông qua cạnh tranh quốc tế các doanh nghiệp
thấy được lợi thế so sánh cũng như các điểm yếu kém của mình để hoàn thiện,
xây dựng các chiến lược kinh doanh, cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Như
vậy, cạnh tranh góp phần thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng thị trường ra khu
vực và thế giới, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài, qua đó
tham gia sâu vào phân công lao động và hợp tác kinh tế quốc tế, tăng cường
giao lưu vốn. lao động, khoa học công nghệ với các nước trên thế giới.

19



20


Theo Dennis Kessler thì "Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự
bất hạnh của số ít" [10] hay theo quan điểm khác thì:
Bảo hiểm là hình thức mà người được bảo hiểm cam kết góp
một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để thực hiện mong muốn cho
mình hoặc một bên thứ 3 nhận được đền bù được chi trả bởi người
bảo hiểm (đơn vị đứng ra nhận trách nhiệm với toàn bộ rủi ro và
đứng ra đền bù các thiệt hại mà mình cam kết với người được bảo
hiểm) khi xảy ra các tổn thất, thiệt hại [10].
Theo định nghĩa của Tập đoàn AIG của Mỹ thì:
Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một
doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty
bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các
tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa
tất cả những người được bảo hiểm [10].
Có thể nói các định nghĩa trên hoặc quá thiên về góc độ xã hội, hoặc
thiên về góc độ kinh tế - kỹ thuật, chưa phải là một khái niệm bao quát và
hoàn chỉnh nhất về bảo hiểm. Dưới góc độ pháp lý, có thể tìm thấy định nghĩa
của Monique Gaullier như sau:
Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được
bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện
mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp
xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả
bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách
nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương
pháp của thống kê [39].
Theo quy định tại Điều 3 Luật KDBH năm 2000 của Việt Nam thì:

hiện những rủi ro mới mà con người không thể lường trước hết được, ngoài
những rủi ro thiên nhiên là những rủi ro liên quan đến chính trị, xã hội, kinh tế
hết sức phức tạp. Với mục đích chình là bù đắp tổn thất, bảo hiểm chính là
một giải pháp hữu hiệu tạo tâm lý an tâm cho sản xuất kinh doanh và cho
cuộc sống của con người.

23


* Góp phần kiểm soát rủi ro, tăng cường công tác đề phòng và hạn
chế tổn thất
Việc kiểm soát rủi ro, tăng cường công tác đề phòng để hạn chế tổn
thất của các DNBH được thực hiện song song với quá trình hoạt động của các
công ty bảo hiểm và được thể hiện qua một số nội dung sau:
Về phía các DNBH: Dựa trên cơ sở các rủi ro hàng năm, các tổ chức
KDBH sẽ tiến hành thống kê, nghiên cứu và đánh giá các rủi ro, từ đó xác
định nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến tổn thất. Trên cơ sở đó,
các tổ chức bảo hiểm sẽ đề xuất biện pháp phòng ngừa hữu hiệu nhất nhằm
giảm đến mức thấp nhất những tổn thất có thể xảy ra. Việc các công ty bảo
hiểm tích cực thực hiện các biện pháp phòng tránh rủi ro không chỉ để giảm
bớt chi phí bồi thường nhằm nâng cao lợi nhuận cho mình, mà quan trọng
hơn, nó góp phần giảm bớt những hậu quả đáng tiếc về vật chất cũng như tinh
thần khi xảy ra tổn thất.
Về phía người tham gia bảo hiểm: Song song với việc đánh giá rủi ro
đối với đối tượng được bảo hiểm, các công ty bảo hiểm cũng luôn đôn đốc các
cá nhân, tổ chức tham gia mua bảo hiểm tăng cường các biện pháp bảo vệ tài sản
của chính mình. Người tham gia bảo hiểm muốn được hưởng quyền lợi bồi
thường khi có tổn thất xảy ra, bên cạnh trách nhiệm đóng phí, họ còn phải thực
hiện trách nhiệm đề phòng và hạn chế tổn thất. Nếu người tham gia bảo hiểm
thực hiện không tốt công tác bảo vệ và phòng tránh tổn thất do đối tượng bảo

pháp luật sẽ được sử dụng như một công cụ đầu tiên để tạo ra hành lang pháp
lý cho các doanh nghiệp hoạt động và cạnh tranh trên thị trường. Như vậy,
pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực KDBH có thể được định nghĩa là khung
pháp luật quy định và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khi tiến hành các
hoạt động kinh doanh trên thị trường bảo hiểm được cạnh tranh một cách tự
do, công bằng bằng cách quy định và xử lý nghiêm các hành vi có tính chất
phản cạnh tranh.
Đối với các chủ thể kinh doanh trên thị trường bảo hiểm Việt Nam,
trong hoạt động có liên quan đến tính cạnh tranh của mình sẽ phải tuân thủ các
quy định của pháp luật chuyên ngành trong lĩnh vực hoạt động của mình, đồng

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status