Tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng trong luật hình sự việt nam - Pdf 60

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
------------

NGUYỄN THỊ HÀ

TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ CHO VAY
TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự
Mã số: 60 38 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS Trịnh Quốc Toản

HÀ NỘI - 2013


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
luận văn đảm bảo tính chính xác, trung thực và tin cậy. Tôi đã hoàn
thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩ vụ tài
chính theo quy định của Khoa Luật Đại Học Quốc Gia Hà Nội.
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật Đại Học
Quốc Gia Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn

Nghiên cứu và so sánh với pháp luật hình sự của một số nước
quy định về tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động
của các tổ chức tín dụng.....................................................................13

Kết luận chương 1...........................................................................................15
Chương 2: TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ CHO VAY TRONG
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG TRONG
BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
............................................................................................................18


2.1.

Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng và đường lối xử lý hình sự đối
với tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ
chức tín dụng theo Điều 179 BLHS năm 1999..................................18

4


2.1.1. Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội vi phạm quy định về cho
vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng theo Điều 179
BLHS năm 1999.................................................................................18
2.1.2. Đường lối xử lý tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt
động của các tổ chức tín dụng............................................................31
2.2.

Phân biệt tội vi phạm về quy định cho vay trong hoạt động của
các tổ chức tín dụng với một số tội khác............................................36



Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT
HÌNH SỰ VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ CHO VAY
TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG...........65
3.1.

Nhu cầu và quan điểm hoàn thiện các quy định pháp luật về tội
vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức
tín dụng và nâng cao hiệu quả áp dụng..............................................65

3.2.

Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật quy định về cho vay
trong hoạt động của các tổ chức tín dụng...........................................74

3.2.1. Hoàn thiện pháp luật chuyên ngành về hoạt động cho vay của
các tổ chức tín dụng............................................................................74
3.2.2. Hoàn thiện các quy định về tội vi phạm quy định về cho vay
trong hoạt động của các tổ chức tín dụng trong Bộ luật hình sự
............................................................................................................89
3.3.

Một số giải pháp khác nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về tội
vi phạm về quy định cho vay trong hoạt động của cá tổ chức tín dụng
............................................................................................................95

Kết luận chương 3.........................................................................................100
KẾT LUẬN..................................................................................................101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................103


Trang

định của pháp luật
Báo cáo thống kê thụ lý giải quyết vụ án sơ thẩm các tội

19

xâm phạm trật tự quản lý kinh tế từ năm 2007-2012

51

1.2


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số hiệu Tên biểu đồ
Trang
2.1
Thống kê thụ lý giải quyết vụ án sơ thẩm về Tội vi phạm
2.2

quy định cho vay của các TCTD từ năm 2007-2012
Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành từ 2004-2012 theo báo cáo của

52

Thanh tra Nhà nước

57

1


các tổ chức tín dụng mà chưa quy định cụ thể về trách nhiệm pháp lý cụ thể đối
với từng hành vi vi phạm trong hoạt động tín dụng. Việc ban hành các quy định
mới phù hợp để ngăn ngừa và điều chỉnh các vi phạm trong hoạt động cho vay
là vấn đề cấp bách và cần được quan tâm trong tình hình tội phạm ngày càng
tăng và phức tạp như hiện nay. Vì vậy, tác giả chọn vấn đề “Tội vi phạm quy
định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng trong Luật hình sự
Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Hành vi vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động tín dụng cho đến
nay vẫn là mới chưa được nghiên cứu nhiều trong các công trình nghiên cứu
khoa học. Chỉ có một số tài liệu nghiên cứu về hành vi này như trong sách
bình luận khoa học bộ luật hình Bộ Luật Hình Sự - Nxb Chính trị quốc gia,
hay một số tài liệu nghiên cứu về các hoạt động vi phạm trong lĩnh vực liên
quan như: “Tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động ngân hàng” Theo Luật sư Phan Văn Lãng - Tạp chí Ngân hàng (số 18/2009); “Tội lạm
dụng chiếm đoạt tài sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng” Luật sư
Phan Văn Lãng- Nguôn: Tạp chí Ngân hàng tháng 12/2009.
Trên thực tế chưa có công trình cụ thể nào đi sâu nghiên cứu quy định
của Luật hình sự về “Tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của
các tổ chức tín dụng trong Luật hình sự Việt Nam”. Tác giả lựa chọn nghiên
cứu đề tài này nhằm làm sáng tỏ các quy định của Luật hình sự và đưa các
giải pháp kiến nghị phù hợp về việc phòng chống, ngăn ngừa tội phạm xảy ra
trong lĩnh vực tín dụng trong tình hình hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Mục đích của đề tài: trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật
hình sự và thực trạng tình hình của “Tội vi phạm quy định về cho vay trong
hoạt động của các tổ chức tín dụng” để đưa ra các giải pháp nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng ngừa loại tội phạm này.

lượng tham gia phòng, chống loại tội phạm này trong cả nước và ở từng địa
phương nói riêng.

3


5. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hô Chí Minh về vấn đề tội phạm nói chung, các văn kiện của Đảng và văn
bản pháp luật của Nhà nước về quan điểm đấu tranh chống tội phạm trong quá
trình xây dựng nhà nước pháp quyền tại Việt Nam. Các công ước quốc tế về
cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình
sự và tội phạm học như: phương pháp thống kê hình sự, phương pháp phân
tích và so sánh, phương pháp liệt kê. Ngoài ra, còn một số phương pháp khác
cũng được áp dụng như: phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp
chuyên gia...Trong quá trình nghiên cứu các phương pháp này được vận dụng
một cách linh hoạt và đan xen lẫn nhau để tạo ra kết quả nghiên cứu.
6. Kết cấu của luận văn
Luận văn gôm 3 chương với các nội dung như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tội vi phạm quy định về cho vay
trong hoạt động của các tổ chức tín dụng trong Luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Tội vi phạm về quy định cho vay trong hoạt động của các tổ
chức tín dụng trong Bộ luật hình sự năm 1999 và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp
dụng các quy định của luật hình sự về tội vi phạm quy định về cho vay trong
hoạt động của các tổ chức tín dụng.

4



một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm trả vô diều
kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán”
Trong thực tế tín dụng hoạt động rất phong phú và đa dạng nhưng ở bất
cứ dạng nào tín dụng cũng thể hiện 2 mặt cơ bản:
• Người sở hữu 1 số tiền hoặc hàng hóa chuyển giao cho người khác sử
dụng trong 1 thời gian nhất định.
• Đến thời hạn do 2 bên thỏa thuận, người sử dụng hoàn lại cho người
sở hữu 1 giá trị lớn hơn. Phần tăng thêm được gọi là phần lời hay nói theo
ngôn ngữ kinh tế là lãi suất.
Theo quy định tại Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010
thì Tổ chức tín dụng được hiểu “là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc
tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ
chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân
dân.”Theo điều luật này thì các khía niệm về các lại hình tổ chức tín dụng
được hiểu như sau [23]:
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các
hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu
hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gôm ngân hàng thương mại, ngân
hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực
hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các
hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài
khoản của khách hàng. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gôm công ty tài
chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác.
Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện
một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia
đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ.

6

7


hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; góp phần đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống của
nhân dân.” (Điều 5 - Luật các tổ chức tín dụng).
1.1.2. Hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng
Trong các hoạt động này thì hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng
là chủ yếu và quan trọng đặc biệt là hoạt động cho vay của loại hình tổ chức tín
dụng là Ngân Hàng được Nhà nước trao quyền rộng rãi vì liên quan đến tiền,
tài sản của Nhà nước, cá nhân, liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của các
bên khi tham gia quan hệ này. Vì vậy, đây là hoạt động phát sinh nhiều vấn đề,
mâu thuẫn, tranh chấp và có nhiều vi phạm của các tổ chức tín dụng trong hoạt
động cho vay khi chưa có đủ cơ sở pháp lý để điều chỉnh nó. [24]
Cho vay theo nghĩa chung là việc 1 người thỏa thuận để cho người khác
được quyền sử dụng tài sản của mình trong 1 thời gian nhất định với điều kiện
có hoàn trả, dựa trên cơ sở sự tín nhiệm của mình đối với người đó.. Hoạt
động cho vay gôm các yếu tố cấu thành cơ bản sau: Về chủ thể, gôm 2 bên
tham gia bên vay và bên cho vay. Hình thức pháp lý của việc cho vay là hợp
đông tín dụng. Sự kiện cho vay phát sinh bởi 2 hành vi cơ bản là hành vi ứng
trước và hành vi hoàn trả một số tiền nhất định là các vật cùng loại.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì có các định nghĩa sau về cho vay:
“Cho vay là đưa tiền cho vay trong một thời hạn nhất định rồi trả cả
vốn lẫn tỷ suất lãi theo quy định cho vay tiền để phát triển sản xuất.”
“Cho vay cầm chứng từ là hình thức cho vay dựa vào những chứng từ
sở hữu hàng hóa (vận đơn, phiếu lưu kho làm đảm bảo….).”
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi một tổ chức hay cá nhân đều phải có
hoặc tự tìm kiếm cho mình một nguôn vốn nhất định để tham gia vào các
quan hệ mua bán, trao đổi hay đầu tư...Tuy nhiên, không phải bất cứ lúc nào
hoặc không phải bất cứ chủ thể nào cũng có vốn hoặc có đủ vốn tiền tệ kinh

cho thuê tài chính thì khoản tiền vay chính là khoản tiền mà các ngân hàng

9


dùng để mua tài sản để cho thuê. Trong trường hợp bảo lãnh ngân hàng, khoản
tiền vay mà bên đi vay (bên được bảo lãnh) nhận được chính là khoản tiền mà
ngân hàng (bên bảo lãnh) phải trả cho bên có quyền trong trường hợp bên được
bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Việc cho vay
dựa trên sự tín nhiệm giữa người cho vay đối với người đi vay về khả năng
hoàn trả tiền vay. Ngoài những dấu hiệu chung trên, hoạt động cho vay của
TCTD còn có những tính đặc thù sau: Là hoạt động nghề nghiệp mang tính
chức năng; Hoạt động cho vay của TCTD ko chỉ là 1 nghề kinh doanh mà hơn
nữa còn là 1 nghề nghiệp kinh doanh có điều kiện.
Ngoài việc tuân thủ các quy định chung của pháp luật về hợp đông, hợp
đông cho vay của TCTD còn chịu sự điều chỉnh của đạo luật về ngân hàng, và
các tập quán thương mại
Cho vay trong các tổ chức tín dụng được phân loại thành nhiều hình thức
vay khác nhau như: cho vay dựa vào thời hạn vay; cho vay dựa vào tính chất có
bảo đảm của khoản vay; cho vay dựa vào mục đích sử dụng vốn vay; việc phân
loại cho vay của TCTD có ý nghĩa quan trong cả về lý luận và thực tiễn. Điều
đó thể hiện ở chỗ dựa vào kết quả phân loại cho vay mà các nhà làm luật có thể
xây dựng thành những quy chế cho vay phù hợp với hoạt động thực tiễn nghiệp
vụ của các tổ chức tín dụng. Mặt khác cũng dựa trên kết quả phân loại cho vay
mà mỗi TCTD có thể xây dựng, hoạch định cho mình chiến lược kinh doanh
phù hợp, mang tính khả thi và hiệu quả. Đặc biệt việc phân loại cho vay còn
giúp cho các TCTD ở cơ sở lý luận để xây dựng thành các quy tắc kỹ thuật
nghiệp vụ tương thích với từng loại hình nghiệp vụ cho vay nhằm phục vụ cho
việc triển khai các hoạt động cho vay của mình trong thực tiễn.
Theo các hoạt động ở trên và với tính chất của các hoạt động này thì

hưởng, thiệt hại đến hoạt động của tổ chức. Các quy định đó có thể là quy
định pháp luật của nhà nước hay là các quy định cụ thể của các tổ chức tín
dụng mà mỗi nhân viên, cán bộ của TCTD đều biết và phải làm theo khi thực
hiện nghiệp vụ của mình. Thực tế cho thấy có thể do nhiều nguyên nhân khác

11


nhau mà trong quá trình thực hiện nghiệp vụ các cán bộ, nhân viên của các
TCTD đã cố tình làm sai, cố tình thực hiện các hành vi vi phạm gây ảnh
hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của tổ chức.
Để kịp thời ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm và do tính chất của
hành vi vi phạm về cho vay của các TCTD thì pháp luật hình sự đã hình sự
hóa quy định này thành tội riêng biệt quy định trong Luật hình sự năm 1999
đó là “Tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các Tổ chức tín
dụng” tại điều 179. Tội vi phạm quy định về cho vay là các hành vi nguy
hiểm, xâm hại nghiêm trọng đến các quan hệ xã hội, chính sách kinh tế tài
chính của Đảng, Nhà nước ta. Thực tế, báo chí thế giới đã đăng nhiều bài viết
về tội phạm xâm phạm hoạt động của các ngân hàng mà hành vi phạm tội hết
sức tinh vi, người bình thường thật khó mà hình dung và tưởng tượng nổi như
việc đào một đường hầm xuyên qua các phố đến két ngân hàng, dùng cần cẩu
nhấc cả cụm máy ATM của ngân hàng… Còn ở Việt Nam, việc hàng loạt vụ
vi phạm về quy định cho vay như cho vay không có bảo đảm, cho vay quá
giới hạn quy định, lập hô sơ ma để nhằm vay vốn thực hiện hành vi bất chính
của các cán bộ nhân viên các tổ chức tín dụng đã được đăng liên tiếp trên báo
trong thời gian qua như một hôi chuông gióng lên về mức độ nguy hiểm cũng
như sự táo bạo, tinh vi, nhanh nhạy của bọn tội phạm liên quan đến hoạt động
ngân hàng. Đặc biệt đó lại là là những vụ phạm tội lại do chính người trong
ngành thực hiện. Hậu quả của tội phạm trong lĩnh vực này là rất lớn. Ở mức
độ vĩ mô, tội phạm trong lĩnh vực tài chính, tín dụng ngân hàng xâm hại chế

Trong Luật hình sự của Liên Bang Nga có quy định về hình phạt đối với
việc vi phạm hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng quy định hình phạt
đối với cả hai bên là bên đi vay và cả bên cho vay. Đối với bên đi vay (các cá
nhân, tổ chức) đến vay tại ngân hàng nếu có hành vi gian lận, đệ trình lên ngân
hàng các chứng từ, tài liệu không đúng với tình hình kinh tế của cá nhân, công
ty, cố tình lừa dối ngân hàng để vay mà gây thiệt hại nghiêm trọng sẽ bị xử phạt

13


tiền từ 200-500 tiền lương tối thiểu, hoặc trong số tiền lương, tiền công mà
người phạm tội được hưởng, hoặc bất kỳ khoản thu nhập nào khác người phạm
tội được hưởng trong khoảng thời gian từ 2 đến 5 tháng hoặc bị bắt giữ từ bốn
đến sáu tháng hoặc bị tước quyền tự do từ 2-5 năm. Đối với bên cho vay là
TCTD nếu cho vay nguôn vốn của tổ chức, nhà nước với mục đích riêng bất
hợp pháp nào đó mặc dù không trực tiếp sử dụng tài sản đó mà gây thiệt hại
nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, của cá nhân, tổ chức thì người thực
hiện hành vi phạm tội sẽ bị phạt tiền với số tiền từ 500-700 mức tiền lương tối
thiểu, hoặc số tiền trong tiền lương, tiền công mà người phạm tội được hưởng,
hoặc các khoản thu nhập khác mà người phạm tội được hưởng trong khoảng
thời gian từ 5-7 tháng, hoặc bị tước quyền tự do từ 2-5 năm. [11]
Theo pháp luật của Cộng hòa Bungari thì tín dụng là hoạt động ảnh
hưởng lớn đến tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tài sản của
nhà nước nên việc quy định thành lập và hoạt động của các TCTD rất chặt
chẽ theo Luật các tổ chức tín dụng ban hành năm 2006. Luật quy định tổ chức
tín dụng bao gôm Ngân hàng nhà nước Bungari và các Ngân hàng thương mại
và chỉ được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần có đầy đủ các điều kiện
được quy định tại Chương 2 như: có vốn pháp định là 10 triệu BGN, có các
cổ phần, cổ phiếu rõ ràng, quy định về người đại diện… các tổ chức tín dụng
sẽ nằm dưới sự quản lý của Ngân hàng nhà nước và chịu trách nhiệm báo cáo

luật được áp dụng chỉ cho một bên là tổ chức tín dụng. Đây là sự khác biệt lớn
giữa pháp luật của Việt Nam với pháp luật của một số nước trên về cách thức
xử lý đối với tội phạm trong hoạt động tín dụng.
Kết luận chương 1
Hoạt động cho vay của các TCTD là hoạt động quan trọng trong lĩnh
vực tài chính, tiền tệ, quan hệ cho vay cũng rất đặc biệt và ngày càng đa dạng
cùng với sự phát triển kinh tế thị trường hiện nay, hoạt dộng cho vay diễn ra

15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status