ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HÀ
VAI TRÒ CỦA CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC
BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO
ĐỘNG
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
1
HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HÀ
VAI TRÒ CỦA CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC
BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO
ĐỘNG
2
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
1
MỞ ĐẦU
Chương 1:
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG ĐOÀN VÀ VAI TRÒ
6
CỦA CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN VÀ
LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
1.1.
Khái quát chung về Công đoàn
6
1.1.1
.
Vị trí của Công đoàn
6
.
1.2.2
.
Nội dung về vai trò của Công đoàn
17
1.2.3
.
Những đảm bảo thực hiện vai trò của Công đoàn trong việc
bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động tại các doanh
nghiệp ở Việt Nam
19
1.2.4
.
Vai trò của Công đoàn trong pháp luật một số nước trên thế
giới và kinh nghiệm cho Việt Nam
21
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ VAI TRÒ CỦA CÔNG ĐOÀN TRONG
28
VIỆC BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO
2.3.2
.
Công đoàn vận động người lao động thực hiện tốt công tác an
toàn lao động - vệ sinh lao động tại nơi làm việc
41
2.3.3
.
Công đoàn với vấn đề kỷ luật lao động và xử lý kỷ luật lao động
44
2.4.
Trong việc tổ chức và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
cho người lao động
46
6
2.5.
Vai trò của Công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động và
đình công
3.1.
Những yêu cầu đặt ra nhằm tăng cường vai trò của Công đoàn
trong việc bảo đảm quyền và lợi ích của người lao động tại
các doanh nghiệp ở Việt Nam
62
3.1.1
.
Thể chế hóa đường lối của Đảng về vai trò của Công đoàn
trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động
62
3.1.2
.
Hoàn thiện, đồng bộ các quy định của pháp luật về công đoàn
trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động trong
quan hệ lao động
64
3.1.3
.
Bảo đảm vai trò, tăng cường trách nhiệm của Công đoàn
trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động trong
Về quá trình thực hiện
77
KẾT LUẬN
86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
88
8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh
tế và khu vực, Đảng ta chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế cùng phát triển. Đảng
và Nhà nước ta đã khẳng định kinh tế doanh nghiệp là bộ phận đặc biệt quan
trọng của nền kinh tế quốc dân, đồng thời là chiến lược lâu dài trong phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tình hình phát triển kinh tế nhiều thành phần trong những năm qua
cho thấy, kinh tế doanh nghiệp ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều
sâu, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu kinh tế, góp phần tạo động lực
mạnh mẽ cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Sự phát triển nhanh của
các doanh nghiệp trong thời gian qua đã mang lại hiệu quả to lớn. Đặc biệt, là
số công nhân lao động trong doanh nghiệp nhà nước giảm.
Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp
công nhân và người lao động, với chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người lao động. Trước sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp,
việc thành lập công đoàn cơ sở ở các doanh nghiệp này để đảm bảo lợi ích
cho người lao động là một nhiệm vụ trọng tâm của tổ chức công đoàn nhằm
tập hợp đông đảo giai cấp công nhân, nâng cao nhận thức cho công nhân lao
động về đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo vệ lợi
ích người lao động, đồng thời xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn
định nhằm phát triển sản xuất kinh doanh tiến tới công bằng, dân chủ, văn
minh.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn mới của tổ
chức công đoàn phải đổi mới nội dung và phương pháp hoạt động, nhanh
10
chóng mở rộng phạm vi, đối tượng tập hợp đông đảo công nhân lao động
trong các thành phần kinh tế và tổ chức công đoàn. Đây là yêu cầu khách
quan của tổ chức công đoàn và hoàn toàn phù hợp với chủ trương đường lối
đổi mới của Đảng và Nhà nước ta.
Xuất phát từ những điều nói trên, tác giả chọn đề tài: "Vai trò của
Công đoàn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động tại các
doanh nghiệp ở Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ Luật học của mình với mong
muốn nâng cao vai trò của Công đoàn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của
người lao động tại các doanh nghiệp ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, xuất
phát từ tầm quan trọng của việc nâng cao vị trí, vai trò và chức năng của Công
đoàn Việt Nam để đáp ứng đòi hỏi của thời kỳ hội nhập, có nhiều công trình,
Lao động (sửa đổi, bổ sung năm 2012). Chính vì vậy, việc nghiên cứu một
cách sâu sắc, hệ thống và đầy đủ về vấn đề: "Vai trò của Công đoàn trong
việc bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động tại các doanh nghiệp ở Việt
Nam" là việc làm mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu, các tài liệu đã có, luận văn
khái quát, hệ thống vấn đề mang tính lý luận về công đoàn, trong đó tập trung:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về vai trò của tổ chức công đoàn trong việc
bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động.
- Nghiên cứu thực trạng vai trò của tổ chức công đoàn trong việc bảo
vệ quyền và lợi ích của người lao động.
Từ đó, khẳng định vai trò của Công đoàn trong các doanh nghiệp,
đồng thời đưa ra một số phương hướng và đề xuất biện pháp để phát huy vai
12
trò của tổ chức công đoàn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của người lao
động trong doanh nghiệp.
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những vấn đề sau:
- Nghiên cứu hệ thống pháp luật về vai trò của tổ chức công đoàn
trong các doanh nghiệp tại Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng vai trò của tổ chức công đoàn trong các doanh
nghiệp tại Việt Nam.
- Đưa ra các giải pháp và đề xuất một số kiến nghị nhằm phát huy vai
trò của tổ chức công đoàn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của người lao
động tại các doanh nghiệp ở Việt Nam.
4. Phương pháp tiếp cận
4.1. Phương pháp lý luận
Luận văn sử dụng phương pháp biện chứng của chủ nghĩa duy vật
VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN
VÀ LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG ĐOÀN
1.1.1. Vị trí của Công đoàn
Nhìn lại lịch sử, công đoàn đã ra đời từ những thập niên cuối thế kỷ
XVIII, khi mà nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, cơ chế tự do cạnh
tranh đang bộc lộ rất nhiều khuyết tật. Công đoàn ra đời vì yêu cầu lợi ích của
công nhân, lao động và để thống nhất lực lượng giai cấp công nhân, đấu tranh
cho sự phát triển xã hội. Và ngày nay, ở hầu hết các quốc gia có nền kinh tế
thị trường phát triển, có rất nhiều tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức từ
thiện hoạt động nhưng chỉ có tổ chức công đoàn mới trực tiếp tham gia giải
quyết quan hệ lao động.
Ở Việt Nam, trong quá trình phát triển của lịch sử và cách mạng, vị trí
của Công đoàn trong mỗi giai đoạn có khác nhau. Trong chủ nghĩa tư bản,
dưới sự lãnh đạo của Đảng, công đoàn đại diện cho người lao động đấu tranh
với giai cấp bóc lột đòi quyền lợi kinh tế cho người lao động, tiến tới đánh đổ
chế độ thực dân phong kiến, thành lập chính quyền nhân dân.
Trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa, người lao động đang từ vị trí bị bóc
lột, làm thuê nay trở thành người làm chủ xã hội, tổ chức công đoàn là đại
diện cho người lao động và là thành viên trong hệ thống chính trị - xã hội, do
đó vị trí công đoàn trong chủ nghĩa xã hội khác với thời kỳ chủ nghĩa tư bản,
đó là trung tâm tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ giai
15
cấp công nhân, lao động. Công đoàn Việt Nam là chỗ dựa vững chắc của
Đảng, là sợi dây nối liền giữa Đảng với quần chúng. Công đoàn Việt Nam là
của mình, tham gia quản lý kinh tế, quản lý nhà nước, quản lý xã hội, thuyết
phục quần chúng phát huy tính chủ động, sáng tạo trong công cuộc xây dựng
xã hội mới, thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng.
Công đoàn vận động công nhân, viên chức, lao động thực hiện chính
sách, pháp luật của Nhà nước, ủng hộ Nhà nước triển khai các kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội. Không có sự ủng hộ của Công đoàn - cơ sở xã hội của
Nhà nước thì chính quyền nhà nước sẽ bị lung lay. Nhà nước tôn trọng và giải
quyết những kiến nghị của Công đoàn một cách hữu hiệu; tạo điều kiện pháp
lý cho Công đoàn hoạt động. Công đoàn phát huy vai trò tham gia, kiểm tra,
giám sát hoạt động của Nhà nước.
Công đoàn là thành viên của Mặt trận Tổ quốc, cùng các thành viên
khác của Mặt trận Tổ quốc tạo nên cơ sở chính trị - xã hội vững chắc bảo đảm
vai trò lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Công
đoàn tham gia vào Mặt trận Tổ quốc với tư cách là một tổ chức độc lập, có
đối tượng vận động cụ thể là công nhân, viên chức, lao động, có chức năng,
nhiệm vụ, phương pháp hoạt động riêng của mình.
Với các đoàn thể chính trị - xã hội khác (Đoàn Thanh niên, Hội Phụ
nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh), Công đoàn có quan hệ bình đẳng,
phối hợp, nhằm hoàn thành mục tiêu chính trị của Đảng, của Nhà nước và của
các tổ chức chính trị - xã hội.
1.1.2. Chức năng của Công đoàn
17
Trong từng điều kiện lịch sử xã hội khác nhau, chức năng của tổ chức
công đoàn cũng có những khác biệt. Bởi chức năng của Công đoàn gắn chặt
với môi trường xã hội, sản xuất, kinh doanh, quản lý kinh tế, chính trị tư
tưởng, văn hóa xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của người lao động.
Hiến pháp năm 2013 đã xác định, Công đoàn có chức năng:
quyền tìm việc làm và tạo điều kiện làm việc cho người lao động. Cụ thể như
tham gia vào lĩnh vực tiền lương, tiền thưởng, phân phối sử dụng quỹ phúc lợi
tập thể; hướng dẫn, giúp đỡ người lao động ký kết hợp đồng lao động, đại
diện cho người lao động thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể,
thương lượng giải quyết tranh chấp lao động; kiểm tra, giám sát việc thực
hiện các chính sách đối với người lao động; tham gia giải quyết khiếu nại, tố
cáo của người lao động, phát huy dân chủ, bình đẳng và công bằng xã hội; tổ
chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, du lịch, tham quan
nghỉ mát.
Trong cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập kinh tế quốc tế, vấn đề quan trọng hàng đầu là các cấp Công đoàn và
mỗi cán bộ Công đoàn cần nhận thức đúng đắn về chức năng đại diện, bảo vệ
quyền, lợi ích của Công đoàn, công đoàn viên, từ đó lan tỏa nhận thức ra toàn
xã hội về chức năng và mục tiêu hoạt động của tổ chức công đoàn.
Thực tế đã chứng minh, ở đâu Công đoàn cơ sở hoạt động mạnh, làm
tốt vai trò đại diện của mình thì được người lao động tin tưởng, đồng thời
thuyết phục được người sử dụng lao động, giúp người sử dụng lao động và
người lao động hiểu và chia sẻ với nhau hơn, từ đó tìm được tiếng nói chung,
giải quyết kịp thời những mâu thuẫn phát sinh, hạn chế và không để xảy ra
tranh chấp lao động. Xây dựng được mối quan hệ lành mạnh, hài hòa giữa
19
người lao động - Công đoàn - người sử dụng lao động sẽ là nguồn nội lực
quan trọng để xây dựng và phát triển doanh nghiệp, là biểu hiện sinh động của
văn hóa doanh nghiệp.
Công đoàn cơ sở phải dựa vào đoàn viên, sâu sát đoàn viên, nắm bắt
kịp thời tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người lao động, trên cơ sở đó
chủ động đàm phán, thương lượng với người sử dụng lao động đáp ứng
hội. Muốn có lợi ích và lợi ích của mình được bảo vệ, trước hết phải thực hiện
tốt nghĩa vụ của người lao động đối với công ty và nghĩa vụ công dân đối với
xã hội. Trên cơ sở đó xây dựng ý thức lao động có kỷ luật, có tác phong công
nghiệp; nâng cao tinh thần học tập văn hóa, chính trị, nâng cao đạo đức nghề
nghiệp, chuyên môn, nghiệp vụ, rèn luyện tay nghề, xây dựng lối sống văn
hóa, sống và làm việc theo pháp luật, góp phần xây dựng giai cấp công nhân
hiện đại đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Phổ biến đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.
Tuyên truyền giáo dục cho người lao động tin vào đường lối xây dựng chủ
nghĩa xã hội, phát triển kinh tế của đất nước mà Đảng ta đã vạch ra và lãnh
đạo; giáo dục truyền thống cách mạng của dân tộc, của địa phương (nhất là
đối với lao động trẻ).
Nêu cao tinh thần thường xuyên cảnh giác và đấu tranh chống lại
những âm mưu thù địch đi lệch mục tiêu chủ nghĩa xã hội của Đảng ta.
Như vậy, ba chức năng công đoàn là một thể thống nhất, đồng bộ, có
mối quan hệ mật thiết với nhau trong hoạt động công đoàn. Chức năng đại
diện và bảo vệ là mục tiêu hoạt động công đoàn, vừa mang tính hiện thực vừa
thể hiện tính truyền thống của Công đoàn; chức năng tham gia quản lý là
phương tiện để đạt được mục tiêu do công đoàn đề ra; chức năng giáo dục có
21
ý nghĩa tạo động lực tinh thần cho người lao động và đoàn viên công đoàn
hoạt động để đạt được mục tiêu trên.
1.1.3. Cơ cấu của tổ chức công đoàn
Cơ cấu tổ chức là vấn đề cơ bản nhất trong công tác tổ chức. Công tác
tổ chức phản ánh sự phân công lao động trong một tổ chức, hoặc là sự phân
bổ nhiệm vụ của bộ máy tổ chức cho các cơ sở tổ chức trực thuộc. Khi nhìn
vào cơ cấu tổ chức đó có thể thấy được các nhiệm vụ chủ yếu của tổ chức,
ban kiểm tra công đoàn ngành địa phương, các công đoàn trực thuộc địa
phương quản lý. Hướng dẫn công tác phát triển đoàn viên, xây dựng công
đoàn cơ sở và nghiệp đoàn vững mạnh, công nhận và đề nghị Tổng Liên đoàn
Lao động Việt Nam khen thưởng những công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn
vững mạnh. Ngoài ra, Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố còn quản lý các cán
bộ công đoàn chuyên trách liên đoàn lao động tỉnh, thành phố, công đoàn
ngành địa phương, liên đoàn lao động cấp huyện, công đoàn cơ sở thực hiện
kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, thực hiện chế độ, chính sách đối với cán
bộ thuộc diện quản lý.
Công đoàn ngành trung ương trực tiếp quản lý và chỉ đạo công đoàn
cơ quan trung ương, công đoàn tổng công ty và tương đương thuộc bộ, ngành,
theo quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Công đoàn ngành
trung ương có trách nhiệm phối hợp với Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố
chỉ đạo, hướng dẫn công đoàn ngành, địa phương các nội dung thuộc ngành,
nghề. Nhiệm vụ của Công đoàn ngành trung ương được quy định trong điều
lệ Công đoàn Việt Nam và trong các Nghị quyết được ban hành ở nhiệm kỳ
đại hội công đoàn Việt Nam.
23
Công đoàn cấp trên cơ sở chịu sự chỉ đạo trực tiếp hoặc chi phối của
Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, công đoàn ngành
trung ương, công đoàn tổng công ty trực thuộc tổng liên đoàn. Đối tượng chỉ
đạo trực tiếp của Công đoàn cấp này là các công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn
đã được phân cấp quản lý theo Điều lệ Công đoàn Việt Nam.
Công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn có đối tượng chỉ đạo trực tiếp là các
công đoàn bộ phận, tổ công đoàn. Công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn ra quyết
định thành lập và công nhận Ban Chấp hành Công đoàn bộ phận và tổ công
đoàn; chỉ đạo công đoàn bộ phận và tổ công đoàn thực hiện có hiệu quả công
đoàn được mở rộng hơn. Công đoàn là trường học lớn của giai cấp công nhân,
viên chức, lao động. Là trường học quản lý, công đoàn giúp cho người công
nhân, viên chức và lao động biết quản lý mà trước mắt là tham gia quản lý sản
xuất, quản lý xí nghiệp, quản lý các công việc xã hội. Là trường học kinh tế,
công đoàn vận động công nhân, viên chức và lao động tham gia tích cực vào
việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, hoàn thiện các chính sách kinh tế, nâng
cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
Công đoàn giáo dục công nhân, viên chức, lao động thái độ lao động mới.
Vấn đề giáo dục lao động là một bước phát triển mới của vai trò công đoàn và
chỉ có trong chủ nghĩa xã hội. Cùng với giáo dục lao động, công đoàn tiến
hành giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục pháp luật, giáo dục văn hóa, giáo
dục lối sống, giáo dục nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, hình thành
nhân sinh quan, thế giới quan khoa học cho công nhân, viên chức và lao động.
Sự mở rộng vai trò của Công đoàn là phù hợp với tính tất yếu khách quan,
tính quy luật vận động và phát triển của tổ chức công đoàn, phù hợp với quy
luật chung của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản [25].
25