ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐINH THỊ MAI
ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG VIỆC HỖ
TRỢ DẠ HỌC CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI TRƢỜNG
MẦM NON THĂNG LONG KIDSMART
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
Năm 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐINH THỊ MAI
ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG VIỆC HỖ
TRỢ DẠ HỌC CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI TRƢỜNG
MẦM NON THĂNG LONG KIDSMART
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Thị Hoàng ến
Năm 2015
kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào.
Tác giác luận văn
Đinh Thị Mai
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTXH
:
Công tác xã hội
GD
:
Giáo dục
GDHN
:
Giáo dục hoà nhập
GV
:
Phương pháp
TKT
:
Trẻ khuyết tật
GDMN
:
Giáo dục mầm non
GDĐB
:
Giáo dục đặc biệt
GVCB
:
Giáo viên chuyên biệt
MN
1.2.2.2.Bản chất của giáo dục hòa nhập .............................................................. 15
1.2.2.3.Đặc điểm giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật lứa tuổi mầm non ................ 16
1.3.Phương pháp công tác xã hội nhóm............................................................... 17
1.3.1.Khái niệm công tác xã hội và công tác xã hội nhóm .................................. 17
1.3.2.Tiến trình công tác xã hội nhóm ................................................................. 18
1.3.3.Mô hình giáo dục tâm lý trong công tác xã hội nhóm ................................ 24
1.4.Ứng dụng CTXH nhóm trong việc trợ giúp trẻ khuyết tật ............................ 24
1.4.1.Mục tiêu ứng dụng CTXH nhóm trong việc trợ giúp TKT ........................ 24
1.4.2.Nội dung ứng dụng CTXH nhóm trong trợ giúp TKT ............................... 24
1.4.3.Ứng dụng Công tác xã hội nhóm trong việc trợ giúp trẻ khuyết tật ........... 25
1.4.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng công tác xã hội nhóm trong
việc hỗ trợ trẻ khuyết tật……………………………………………………26
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG TRỢ GIÚP TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI
TRƢỜNG MẦM NON THĂNG LONG KIDSMART .................................. 27
2.1.Vài nét về địa bàn và đối tượng khảo sát ....................................................... 27
2.1.1.Cơ sở vật chất của Thăng Long Kidsmart .................................................. 27
2.1.2.Sơ đồ hoạt động của trường ........................................................................ 28
2.2.Thực trạng ứng dụng CTXH nhóm trong việc hỗ trợ trẻ KT học HN tại
trường MN Thăng Long KidSmart ...................................................................... 29
2.2.1.Giới thiệu khái quát về quá trình khảo sát .................................................. 29
2.2.2.Kết quả khảo sát thực trạng và phân tích kết quả ....................................... 30
2.2.2.1.Thực trạng về mức độ phát triển của trẻ khuyết tật tại trường mầm non
Thăng Long Kidsmart .......................................................................................... 30
2.2.2.2.Thực trạng nhận thức của giáo viên, phụ huynh về việc hỗ trợ trẻ khuyết
tật tại trường mầm non Thăng Long Kidsmart .................................................... 31
2.2.2.3.Thực trạng trợ giúp trẻ khuyết tật tại trường mầm non Thăng Long
Kidsmart………………………………………………………………………...32
2.2.3.Nhận xét kết quả khảo sát ........................................................................... 34
3.4.4.2.Chuẩn bị thực nghiệm .............................................................................. 65
3.4.4.3.Tiến trình và theo dõi thực nghiệm.......................................................... 66
3.4.4.4.Đánh giá kết quả thực nghiệm ................................................................. 67
3.5.Đánh giá kết quả của thực nghiệm................................................................. 67
3.6.Các kỹ năng đã sử dụng trong quá trình hoạt động nhóm ............................. 68
KẾT LUẬN
ết luận ............................................................................................................. 70
PHỤ LỤC ........................................................................................................... 71
BẢNG HỎI THU THẬP THÔNG TIN VỀ GIA ĐÌNH TRẺ KHUYẾT TẬT
ĐANG HỌC HÒA NHẬP TẠI TRƢỜNG MẦM NON THĂNG LONG
KIDSMART ....................................................................................................... 74
BẢNG TÌM HIỂU KHẢ NĂNG HÕA NHẬP TẠI LỚP CỦA TRẺ GDĐB
NĂM HỌC 2014-2015………………………………………………………..79
BI N BẢN PHỎNG VẤN S U SỐ 01
BI N BẢN PHỎNG VẤN S U SỐ 2 ................................................................ 81
BI N BẢN PHỎNG VẤN S U SỐ 3 ................................................................ 83
DENVER II……………...…………………………………………………....85
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 86
MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Trẻ em là mầm non tương lai của đất nước. Chính vì vậy, trẻ cần được chăm
sóc và giáo dục ngay từ lứa tuổi đầu đời để tiếp bước cha anh làm chủ xã hội. Tuy
nhiên, không phải mọi trẻ em sinh ra đều có cuộc sống bình thường, bên cạnh
những ―Bé khoẻ, bé ngoan‖ vẫn còn những em bé khuyết tật, sinh ra với những
dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật mang ý nghĩa nhân văn to lớn nhằm giúp đỡ những
trẻ khuyết tật có khả năng học hòa nhập. Tuy nhiên đây là trường học mới thành
lập, đội ngũ giáo viên chuyên ngành giáo dục đặc biệt còn mỏng, trong khi giáo
viên mầm non lại chưa có nhiều kinh nghiệm, phương pháp làm việc với trẻ khuyết
tật, cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động chuyên biệt còn thiếu, số trẻ khuyết tật
cùng độ tuổi còn chưa tập trung vào một lớp, những phụ huynh có trẻ khuyết tật vẫn
1
chưa nhận rõ vai trò và trách nhiệm của mình, nhiều phụ huynh của trẻ bình thường
cũng tỏ thái độ không hài lòng khi con của họ học cùng các bạn khuyết tật.
Bắt nguồn từ những thực trạng khó khăn của trẻ khuyết tật nói chung và
những khó khăn của trẻ khuyết tật tại trường mầm non Thăng Long Kidsmart nói
riêng, là một người được đào tạo chuyên ngành Công tác xã hội, tôi xin lựa chọn
đề tài: ― Ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ dạy học cho trẻ khuyết
tật tại trường mầm non Thăng Long Kidsmart” nhằm tìm ra những phương pháp
phù hợp hỗ trợ cho trẻ trong các hoạt động tại trường hòa nhập từ đó có những giải
pháp kịp thời giúp cho trẻ khuyết tật học hòa nhập ngày càng có cơ hội hơn trong
chính môi trường xã hội mà trẻ đang sống.
2.
Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Nghiên cứu về TKT nói chung và công tác xã hội nhóm với trẻ khuyết tật
nói riêng ở Việt Nam hầu như mới chỉ được bắt đầu vào khoảng thập kỷ 80 của thế
kỷ XX. Từ năm 2000 trở lại đây, vấn đề TKT đã được nhiều ngành quan tâm
nghiên cứu như tâm lý học, giáo dục học, y học... Một loạt các trung tâm nuôi dạy
TKT ra đời, các bệnh viện mở ra các khoa để can thiệp cho TKT, các Trường học
mở ra các lớp học chăm sóc – GDTKT là những điều kiện thuận lợi cho các nghiên
cứu này.
dạy học các nhóm trẻ khuyết tật khác nhau.
Năm 2007, Năm 2008, tác giả Đào Thu Thủy với đề tài ―Xây dựng bài tập
phát triển giao tiếp tổng thể cho trẻ Tự kỷ tuổi mầm non‖ [24]. Đề tài đã thiết kế 20
bài tập phát triển giao tiếp cho trẻ Tự kỷ 24 – 36 tháng dành cho phụ huynh. Tuy
nhiên chưa tiến hành thực nghiệm để kiểm nghiệm tính khả thi của các bài tập phát
triển giao tiếp tổng thể.
Năm 2012, Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến trong cuốn ―Giáo dục đặc biệt
và những thuật ngữ cơ bản”, cũng đã nghiên cứu về Giáo dục hòa nhập (GDHN)
và đưa ra định nghĩa giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục trong đó trẻ
khuyết tật cùng học với trẻ bình thường, trong trường phổ thông ngay tại nơi mình
sinh sống [28, trg.221]. Giáo dục hòa nhập nhìn nhận trẻ khuyết tật dựa trên quan
điểm xã hội, khi cho rằng khiếm khuyết không phải chỉ do khiếm khuyết của bản
thân cá thể mà còn là khiếm khuyết của xã hội. Mọi trẻ khuyết tật đều có những
năng lực nhất định, do đó mà trẻ khuyết tật được coi là chủ thể chứ không phải là
đối tượng thụ động trong quá trình tiếp nhận các tác động giáo dục. GDHN có bản
chất riêng so với các phương thức giáo dục khác như: Giáo dục cho mọi đối tượng
trẻ. Đây là tư tưởng chủ đạo, yếu tố đầu tiên thể hiện bản chất của GDHN. Trong
giáo dục hoà nhập không có sự tách biệt giữa trẻ khuyết tật với trẻ không khuyết
tật. Mọi trẻ đều được tôn trọng và đều có giá trị như nhau [28, trg.221].
- Nghiên cứu về phương pháp công tác xã hội nhóm
Trong bài viết của T.S. Trần Văn Kham: ―Mô hình xã hội về khuyết tật và
áp dụng trong công tác xã hội với người khuyết tật ở Việt Nam” đăng gửi tạp trí
nhân lực xã hội, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam. Số 2/2015 cũng đã nói
lên được thực trạng người khuyết tật trên thế giới và ở Việt Nam, mặc dù điều kiện
sống của xã hội có nhiều biến đổi mạnh mẽ nhưng người khuyết tật vẫn đang phải
đối mặt với những khó khăn và thách thức để hướng tới cuộc sống hòa nhập.
Đề tài luận văn thạc sĩ: ―Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc
giải quyết vấn đề của người khuyết tật” của ThS. Nguyễn Thị Huyền, tìm hiểu về
vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc tìm hiểu những khó khăn của người
khuyết tật và gia đình người khuyết tật và giải quyết những khó khăn đó thông qua
học hòa nhập tại trường mầm non Thăng Long KidSmart
3.2.
Khách thể nghiên cứu
Quá trình trợ giúp trẻ khuyết tật trong trường mầm non hòa nhập
4.
Ý nghĩa của nghiên cứu
4.1. Về mặt lí luận
Nghiên cứu công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ trẻ khuyết tật tại trường
mầm non Thăng Long Kidsmart nhấn mạnh tới việc nhìn nhận vấn đề khả năng tiếp
cận cơ hội học hòa nhập của trẻ khuyết tật dựa trên năng lực của trẻ và những rào
cản xã hội mà trẻ đang gặp phải trong quá trình tiếp cận với giáo dục hòa nhập.
Nghiên cứu góp phần hệ thống hóa các khái niệm, quan điểm liên quan đến ứng
dụng công tác xã hội nhóm trong việc trợ giúp trẻ khuyết tật học hòa nhập. Đây là
nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên chuyên ngành công tác xã hội.
4.2. Về mặt thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu cung cấp những thông tin giá trị về thực trạng việc trợ
giúp trẻ khuyết tật học hòa nhập tại trường mầm non Thăng Long KidSmart.
- Nghiên cứu này đề xuất các biện pháp ứng dụng CTXH nhóm trong việc
trợ giúp trẻ khuyết tật tại trường mầm non hòa nhập, từ đó giúp trẻ khuyết tật tự tin
và phát triển tốt
5.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc
KidSmart đã được quan tâm, tuy nhiên còn nhiều khó khăn, hạn chế. Nếu đề xuất
được biện pháp ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc trợ giúp trẻ khuyết tật
học hòa nhập tại trường mầm non Thăng Long KidSmart phù hợp và đưa vào áp
dụng sẽ giúp trẻ khuyết tật phát triển các khả năng và hòa nhập được với các trẻ
bình thường.
7.
Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1.
Phương pháp phân tích tài liệu:
Nghiên cứu này sử dụng các nguồn tài liệu khác nhau, các sách về công tác xã
hội, công tác xã hội nhóm …Các bài viết đăng trên tạp chí xã hội, Internet đề cập
đến những cách thức tương tác với trẻ khuyết tật đặc biệt là phương pháp công tác
xã hội nhóm. Các tài liệu về Công tác xã hội
Mặt khác, đề tài cũng sử dụng những thành quả nghiên cứu của các đề tài đi
trước về vấn đề công tác xã hội nhóm với trẻ khuyết tật. Tuy nhiên, cũng phải thừa
nhận rằng những tài liệu đề cập đến công tác xã hội nhóm với trẻ khuyết tật trong
trường học hiện nay không nhiều, vẫn còn rất hạn chế. Từ trước đến nay, mọi
5
nghiên cứu chỉ tập trung chủ yếu vào người khuyết tật cũng như cách thức hỗ trợ họ
trong việc giúp đỡ về thể chất mà không tìm hiểu khía cạnh tương tác nhóm cũng
như làm việc nhóm với trẻ khuyết tật để mang lại hiệu quả cao nhất cho trẻ khuyết
tật
Phương pháp quan sát:
Phương pháp quan sát sử dụng trong luận văn nhằm thu thập những thông tin
có liên quan đến thái độ, hành vi, nhận thức của người chăm sóc trực tiếp cho trẻ
trường đang thực hiện để có cái nhìn bao quát hơn về đề tài
6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI
NHÓM TRONG VIỆC TRỢ GIÖP TRẺ KHU ẾT TẬT TRƢỜNG MN
THĂNG LONG KIDSMART
1.1.
Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.1.1. Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (1908 – 1970)
Abraham Maslow (1908 – 1970) nhà tâm lí học người Mỹ được thế giới biết
đến như là tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn bởi hệ thống lý thuyết
về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người.
Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu
của con người vào những năm 1950. Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu
cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng
đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần.
Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của
con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu. Ông đã đem các
loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó
và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang
bậc về nhu cầu của con người tư thấp đến cao.[12]
Sơ đồ 1: lý thuyết Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs – Maslow
Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người
như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục.
Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người.
tật có thể không được gia đình chấp nhận và yêu thương như những trẻ em bình
thường bởi vì có thể do quan niệm sai lầm về sự sinh ra đứa trẻ tật nguyền trong
cuộc đời.
Nhu cầu được tôn trọng:Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng
giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự,… Tôn
trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ. Khi được người khác tôn trọng cá
nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao. Do đó nhu cầu được tôn trọng
là điều không thể thiếu đối với mỗi con người. Thái độ của gia đình và hàng xóm có
thể giúp đỡ hoặc làm trẻ chậm tiến. Điều quan trọng là phải thấy được năng lực của
trẻ, đánh giá được cái mà trẻ đóng góp, đánh giá được vai trò của trẻ trong gia đình
hơn là nhìn đứa trẻ như một gánh nặng, tỏ lòng thương hại.
Nhu cầu được thể hiện mình: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong
cách phân cấp về nhu cầu của ông. Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm
năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào
đó.Nội dung nhu cầu bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên
cứu,…) nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,…), nhu cầu thực hiện mục đích
của mình bằng khả năng của cá nhân. Trẻ khuyết tật cần được đi học, vì nhà trường
là một môi trường hòa nhập tốt nhất, nơi có điều kiện cần thiết để trẻ có thể phát
triển. Điều quan trọng nhất là làm thế nào để trẻ khuyết tật trở thành những thành
viên đầy đủ của cộng đồng và sự có đóng góp cho cộng đồng đó phát triển.
Đối với nhóm học sinh đang theo học hòa nhập tại trường mầm non Thăng
Long KidSmart, nhìn chung các cá nhân được đáp ứng đầy đủ về các nhu cầu.
8
1.1.2. Lý thuyết hệ thống
Theo định nghĩa của Lý thuyết công tác xã hội hiện đại: ―Hệ thống là một
tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống
nhất‖. Một hệ thống có thể gồm nhiểu tiểu hệ thống, đồng thời là một bộ phận của
tiểu hệ thống lớn hơn.
1.2. Trẻ khuyết tật, giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trong trƣờng mầm non
1.2.1. Trẻ khuyết tật
1.2.1.1.
Khái niệm trẻ khuyết tật
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), khái niêm khuyết tật gắn với 3 yếu
tố sau
- Những thiếu hụt về cấu trúc cơ thể và sự suy giảm các chức năng
- Những hạn chế trong hoạt động của cá thể
- Môi trường sống: những khó khăn, trở ngại do môi trường sống mang
lại cho họ không thể tham gia đẩy đủ và có hiệu quả mọi hoạt động trong
cộng đồng.[21,Tr34-35]
Trẻ khuyết tật là những trẻ có những khiếm khuyết về cấu trúc hoặc
các chức năng cơ thể hoạt động không bình thường dẫn đến trẻ gặp khó khăn
9
nhất định và không theo được chương trình giáo dục phổ thông nếu không
được hỗ trợ đặc biệt về phương pháp giáo dục – dạy học và những trang
thiết bị hỗ trợ cần thiết.[21,Tr34-35]
Trong khuôn khổ nghiên cứu, khái niệm trẻ khuyết tật đề tài sử dụng
là khái niệm theo luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam (2001):
Trẻ khuyết tật là trẻ bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc
chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng
hoạt động, khiến cho sinh hoạt học tập và lao động gặnhiều khó khăn[22]
1.2.1.2.
Phân loại trẻ khuyết tật
Tuỳ theo những tiêu chí khác nhau, có nhiều cách phân loại khuyết tật như
cách phân loại của Tổ chức Y tế thế giới (1989), Hội đồng giáo dục Hoa Kỳ
ngôn ngữ và giao tiếp; (6) Rối loạn hành vi, cảm xúc và (7) Đa tật. Trải qua nhiều
thập kỉ của giáo dục đặc biệt, Việt Nam đã phát triển được hệ thống giáo dục đặc
10
biệt hỗ trợ cho trẻ khiếm thính, khiếm thị và chậm phát triển trí tuệ; đã bắt đầu quan
tâm đến đối tượng khuyết tật về ngôn ngữ và giao tiếp. Tuy nhiên, cũng có sự nhầm
lẫn trong việc sử dụng thuật ngữ chậm phát triển trí tuệ với khuyết tật về học và
trong nhóm chậm phát triển trí tuệ thì bao gồm cả nhiều dạng khuyết tật khác như
tăng động giảm tập trung, tự kỉ.vv
Trẻ khiếm thị
Trẻ khiếm thị là trẻ dưới 18 tuổi có khuyết tật thị giác, khi đã có phương tiện
trợ giúp nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn trong các hoạt động cần sử dụng mắt. Trẻ
khiếm thị có những mức độ khác nhau về thị lực và thị trường cùa thị giác. Người
bình thường, có thị lực bằng 1 Vis; thị trường ngang (góc nhìn bao quát theo chiều
ngang) một mắt là 150°; cả hai mắt là 180°; thị trường dọc (góc nhìn bao quát theo
chiều đứng) là 110°.
-
Trẻ khiếm thính
Trẻ khiếm thính là trẻ bị suy giảm sức nghe ở những mức độ khác nhai dẫn
tới khó khăn về ngôn ngữ và giao tiếp, ảnh hưởng đến quá trình nhận thúcl và các
chức năng tâm lí khác. Tuỳ theo mức độ suy giảm thính lực, trẻ khếm thính được
phân chia ra các mức độ khác nhau.
Trẻ khuyết tật vận động
Là những trẻ cố sự tổn thất các chức năng vận động làm cản trở đến việc di
chuyển, sinh hoạt và học tập,...
Trẻ khuyết tật vận động cố thế phân ra làm hai dạng:
+ Trẻ bị hội chứng não nặng dẫn đến khuyết tật vân động. Những trẻ thuộc
khi khuyết tật của trẻ ở mức độ nặng và có ảnh hưởng nghiêm trọng đến trẻ. [21,
tr35-39]
1.2.1.3.
Một số nguyên nhân gây khuyết tật ở trẻ em
Những nguyên nhân khách quan
Di truyền: Lỗi nhiễm sắc thể (NST), lỗi gen gây dị tật bẩm sinh (Hội chứng
đao, Hội chứng Relt liên quan đến NST giới tính, thường xảy ra ở các bé gái, nếu
bé trai mắc phải bé sẽ chết trước sinh; Hội chứng Williams Beuren là cặp NST số 7
bị mất một phần) hoặc rối loạn do nhiều yếu tố (Nứt đốt sống, thiếu một phần não,
tràn dịch màng não, đầu nhỏ, rối loạn chức năng tuyến giáp)
Do các yếu tố ngoại sinh như lây nhiễm rubenlla, giang mai, HIV; do nhiễm
độc một số loại thực phẩm do người mẹ dùng như thuốc động kinh, các chất do
rượu cồn, do chụp tia X quang, hoặc do suy dinh dưỡng ở mẹ hoặc thiếu Iốt trong
thức ăn hay trong nước uống.
Một số nguyên nhân trong khi sinh cũng ảnh hưởng tới khả năng gây nên
khuyết tật như thiếu ôxi, vấn đề này thường xuất hiện do nhau thai, thời gian sinh
quá lâu, trẻ không thở hoặc không khóc ngay sau khi sinh.
-
Những nguyên nhân chủ quan
Do môi trường sống
- Đói nghèo, suy dinh dưỡng, tật bệnh không được phát hiện và chữa trị, phục
hồi chức năng kịp thời
- Điều kiện ăn ở chật chội, yếu kém, mất vệ sinh
về kiểu trí nhớ. Tuy vậy, cũng có tính quy luật chung: Những giác quan nào hoạt
ñộng mạnh sẽ bù đắp lượng thông tin thiếu hụt do khuyết tật thì trí nhớ của trẻ sẽ
thiên về những hình tượng do trí giác của những giác quan đó mang lại. Hầu hết trẻ
khuyết tật đều có những ―vấn đề‖ khác nhau trong ngôn ngữ. Những khó khăn đó
đều gây nên những trở ngại trong việc triển khai tư duy ngôn ngữ logic. Điều đặc
biệt là, khó khăn trong ngôn ngữ tạo nên rào cản về mặt giao tiếp, đây chính là khó
khăn về mặt xã hội đối với hoạt động nhận thức của trẻ khuyết tật.
Đối với trẻ khiếm thị thường có những đặc điểm tâm lý nổi bật như về đặc
điểm chú ý: chú ý của trẻ khiếm thị chủ yếu là chú ý nghe và sờ, trẻ mù thường khó
điều chỉnh hai quá trình phân tán và tập trung chú ý. Về tri giác, biểu tượng ghi nhớ,
tư duy, tưởng tượng và ngôn ngữ trẻ khiếm thị cũng có những ñặc ñiểm riêng khác
biệt với trẻ bình thường. Đặc biệt là cảm giác nghe và cảm giác xúc giác của trẻ
khiếm thị có những đặc điểm nổi bật: độ nhạy cảm âm thanh của trẻ mù tốt hơn trẻ
bình thường, ngưỡng phân biệt các ngón trỏ của tay trẻ mù giảm xuống hai lần so
với trẻ bình thường.
Đối với trẻ khiếm thính, đặc điểm tâm lý nổi bật của các trẻ này là đặc điểm
tri giác thị giác. Các nhà nghiên cứu về đặc điểm tâm lý của trẻ điếc cho rằng đây là
13
những trẻ có khả năng quan sát rất tốt bởi chúng nhận ra một cách chính xác những
chi tiết hoặc những đổi thay ở người khác cũng như các sự vật, hiện tượng xung
quanh… Tuy nhiên, những trẻ khiếm thính thường gặp rất nhiều khó khăn trong quá
trình phát triển ngôn ngữ cả về ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết: giọng nói yếu,
không có hơi; viết thường sai ngữ pháp, bỏ sót từ, dùng từ không ñúng nghĩa…
Cũng giống như trẻ khiếm thị và trẻ khiếm thính, trẻ chậm phát triển trí tuệ
cũng có những đặc điểm tâm lý nổi bật và khác với trẻ em bình thường. Trẻ gặp
nhiều khó khăn trong việc phân biệt hóa, thiếu tính tích cực trong quá trình tri giác;
tư duy mang tính cụ thể - trực quan, yếu về khái quát hóa, thiếu tính liên tục, yếu
vai trò điều chỉnh trong tư duy; ngôn ngữ nghèo nàn; trí nhớ máy móc. [29]
Trong GDHN gia đình, nhà trường, xã hội và cộng đồng cần tạo ra sự hợp
tác và giúp đỡ trẻ trong mọi hoạt động. Trẻ khuyết tật là trung tâm của quá trình
giáo dục, được tham gia đầy đủ và bình đẳng trong mọi công việc của Nhà trường,
Gia đình, Xã hội và cộng đồng.
GDHN là một xu thế, là một sự tất yếu của thời đại. Xu hướng giáo dục này
đáp ứng mục tiêu giáo dục trẻ khuyết tật mà UNESCO đã đưa ra là tiến tới giáo dục
trẻ khuyết tật phải đạt trình độ phổ cập. Mô hình giáo dục này đảm bảo giáo dục đa
trình độ, đa phương pháp và phát huy được tính độc lập, khuyến khích sự tham gia
tích cực của mọi trẻ. Được giáo dục trong môi trường hòa nhập trẻ đều có tiến bộ
hơn, các tiềm năng của trẻ được khơi dậy và phát triển.
GDHN ở trường mầm non được tổ chức tùy theo điều kiện cụ thể của từng
trường, từng lớp để phù hợp với trẻ khuyết tật, các hoạt động trong lớp cần chú ý
quan tâm tới khả năng và nhu cầu của trẻ khuyết tật.
Số lượng trẻ khuyết tật học ở mỗi lớp hòa nhập trong trường mầm non có thể
là 1 hoặc 2 trẻ khuyết tật/ lớp học, trẻ tham gia học hòa nhập với các bạn bình
thường ở tất cả các hoạt động hằng ngày.
Ở một số trường mầm non có phòng học cá nhân dành cho trẻ khuyết tật.
Bên cạnh các tiết học hòa nhập chung với các bạn, trẻ khuyết tật được can thiệp cá
nhân ngay tại trong trường. Có một số trường thì Nhà trường kết hợp với phụ huynh
tổ chức có một giáo viên Giáo dục đặc biệt kèm, hỗ trợ trẻ khuyết tật ngay tại lớp
học hòa nhập từ sang đến chiều.
Đối với những trẻ khuyết tật học hòa nhập ở trường mầm non, mà vẫn còn
thiếu một số kĩ năng mà ở trường không có phòng học cá nhân hoặc giáo viên giáo
dục đặc biệt thì phụ huynh phải cho trẻ đi học thêm các tiết học can thiệp ở các
trung tâm can thiệp sớm bên ngoài trường.
Trong phạm vi đề tài, khái niệm Giáo dục hòa nhập được hiểu như sau: Giáo
dục hòa nhập là phương thức giáo dục trong đó trẻ khuyết tật cùng học với trẻ bình
thường, trong trường phổ thông có sự điều chỉnh nội dung, phương pháp, hình
thức… cho phù hợp với khả năng và nhu cầu của trẻ
1.2.2.2.
về mặt này hay mặt khác trong học tập.
- Hướng tới phát hiện và giảm thiểu những rào cản trong quá trình học.
- Phạm vi rộng hơn phạm vi nhà trường và bao gồm cả môi trường gia đình,
cộng đồng và các cơ hội giáo dục ngoài phạm vi nhà trường.
- GDHN tức là có sự thay đổi trong thái độ, hành vi, phương pháp dạy học,
chương trình học và môi trường xung quanh nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi học
sinh.
- Là một quá trình năng động và luôn biến đổi tuỳ theo nền văn hoá và bối
cảnh địa phương, đó là một phần của chiến lược rộng lớn hơn nhằm thúc đẩy một
xã hội hoà nhập.
1.2.2.3. Đặc điểm giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật lứa tuổi mầm non
Giáo dục hòa nhập là phương pháp giáo dục cho mọi trẻ em, trong đó có trẻ
có nhu cầu đặc biệt trong lớp học bình thường của trường phổ thông. Giáo dục hòa
nhập dựa trên những quan điểm tích cực, đánh giá đúng trẻ có nhu cầu đặc biệt và
các em được nhìn nhận như những trẻ em khác. Theo quan điểm này giáo dục hòa
16