B GIO DC V O TO
TRNG I HC THNG LONG
NGUYN TH MAI HNG C00273
CÔNG TáC Xã HộI NHóM TRONG Hỗ TRợ ĐờI SốNG
CủA LAO ĐộNG Nữ DI CƯ Từ NÔNG THÔN RA THàNH PHố
TạI PHƯờNG YÊN HòA, QUậN CầU GIấY, THàNH PHố Hà NộI
TểM TT LUN VN THC S
CHUYấN NGNH
: CễNG TC X HI
M S
: 60 90 01 01
NGI HNG DN KHOA HC: GS.TS Lấ TH QUí
H NI - 2016
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, dòng lao động di cư từ nông
thôn ra thành thị và các KCN-KCX ngày càng gia tăng. Quá trình này đã diễn ra ở tất
cả các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Ở nước ta xu hướng người lao
động di cư từ nông thôn ra thành thị đang diễn ra mạnh mẽ. Theo thống kê hiện nay,
của lao động di cư hay để nâng cao chất lượng sống cho người lao động di cư. Tuy
nhiên, dưới góc độ công tác xã hội chưa có nhiều nghiên cứu về người lao động di cư
từ nông thôn ra thành phố. Do đó, cần phải có biện pháp can thiệp hỗ trợ giải quyết
những khó khăn cho người lao động tại thành phố nói chung và lao động nữ di cư nói
riêng, điều này là rất cần thiết.
Công tác xã hội bao gồm 3 phương pháp cơ bản: phương pháp với cá nhân,
phương pháp với nhóm và phương pháp tổ chức và phát triển cộng đồng. Với mục đích
là đưa ra những biện pháp can thiệp, phòng ngừa nhằm giảm những rủi ro cho nhóm nữ
lao động di cư và có biện pháp hỗ trợ giải quyết những khó khăn của đối tượng này một
2
cách bền vững. tôi lựa chọn đề tài “Công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ đời sống của
lao động nữ di cư từ nông thôn ra thành phố tại phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy,
thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn tốt nghiệp góp phần vào sự phát triển ổn định
và bền vững cho xã hội.
2.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ thực trạng di cư từ nông thôn ra thành phố Hà Nội, những khó khăn và
các vấn đề gặp phải của nữ lao động di cư từ nông thôn ra thành phố Hà Nội tại Phường
Yên Hòa, Quận Cầu Giấy
- Trình bày ctxh nhóm để hỗ trợ phụ nữ di cư từ nông thôn ra thành phố Hà Nội
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thông qua việc phân tích tài liệu thứ cấp và tiến hành điều tra xã hội học để
phân tích thực trạng và những khó khăn gặp phải của nhóm nữ lao động di cư từ nông
thôn ra thành phố Hà Nội.
- Vận dụng các lý thuyết CTXH liên quan đặc biệt là ctxh nhóm với nhóm nữ
lao động di cư để hỗ trợ họ giải quyết vấn đề đang gặp phải góp phần làm nâng cao chất
lượng cuộc sống cho người lao động di cư tại thành phố Hà Nội.
làm, thu nhập đối với người lao động nhưng nó cũng tạo ra những thách thức trong sự
phát triển, như tình trạng mất trật tự xã hội, sức ép của di dân đối với các đô thị...
Trong nước:
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về di cư từ nông thôn ra thành thị đã được đề cập
khá nhiều, dưới nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau. Nội dung của các nghiên cứu
là thực trạng về số lao động di cư từ nông thôn ra thành thị; ảnh hưởng của di cư lao
động đến sự phát triển kinh tế; những khó khăn người lao động di cư gặp phải; chính
sách của nhà nước về hỗ trợ cho lao động di cư… Hiện tại, có một số nghiên cứu tiêu
biểu như sau:
Thứ nhất, bàn về thực trạng của lao động di cư ở nước ta và di cư từ nông thôn
ra thành thị có các tác giả nghiên cứu:
Tác giả Đặng Nguyên Anh, Trong bài “Di cư và phát triển trong bối cảnh đổi
mới kinh tế xã hội của đất nước” đăng tại Tạp chí Xã hội học, số 1(68), năm 1998. Tác
giả đã nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia châu Á, như: Trung Quốc, Malaixia,
Philippin… về chính sách di cư và quá trình di cư trong biến đổi kinh tế - xã hội ở Việt
Nam. Tác giả phân tích vai trò của các yếu tố phát triển đối với di cư ở nước ta. Đặc
biệt, tác giả đã đưa ra mô hình hồi quy trong di cư.
Trong bài “Di dân và quản lý di dân trong giai đoạn phát triển mới: Một số suy
nghĩ từ góc độ nghiên cứu”, Tạp chí xã hội học số 3 và 4, năm 1999, tác giả đã đề cập
đến loại hình di cư tự phát, hiện phát triển với quy mô ngày càng lớn, đặt ra nhiều cơ
hội và thách thức hiện nay. Bài viết xem xét quá trình này trên bình diện quản lý.
Những suy nghĩ, trao đổi trong bài là những ý kiến đóng góp cho công tác đổi mới
chính sách di dân và quản lý dân cư ở Việt Nam.
Theo tác giả Khuất Thu Hồng, trong nghiên cứu về “Di cư trong nước: Cơ hội và
thách thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam”, tháng 7 năm 2010. Tác
giả đã phân tích về tình hình di cư trong nước, trong đó có luồng di cư nông thôn – đô
thị, từ đó đưa ra một số kiến nghị và giải pháp. Tác giả chỉ ra rằng các tác động này sẽ
phụ thuộc vào các môi trường chính trị, kinh tế xã hội đồng thời phụ thuộc vào hành vi
và nguồn lực của cá nhân người di cư và gia đình của họ. Để có thể tận dụng tối đa lợi
ích của quá trình di cư, Chính phủ, chính quyền địa phương và khu vực tư nhân đều có
ra thành thị để giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động nông thôn. Quá trình di
cư này đã có tác động tích cực, tiêu cực về mặt kinh tế, xã hội đối với cả thành thị và
nông thôn.
Tác giả Trần Nguyệt Minh Thu, Viện Xã hội học, trong bài viết “Vài nét về nhóm
lao động di cư tự do nông thôn – đô thị trong vai trò hỗ trợ kinh tế gia đình”. Nghiên
cứu phân tích về đặc điểm của nhóm lao động di cư tự do từ nông thôn – đô thị. Sự
tham gia vào thị trường lao động tại đô thị của nhóm lao động này và dòng thu nhập
của nhóm lao động đối với hỗ trợ kinh tế gia đình của họ. Nghiên cứu cũng đặt ra
những vấn đề xã hội đối với nhóm người lao động tự do và đô thị.
Trong bài viết khác của tác giải Nguyễn Đình Cử về “Thúc đẩy di cư nông thôn
– đô thị góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội”, tác giả lý giải một trong những
nguyên nhân của quá trình di cư nông thôn – đô thị là lao động ở nông thôn –khu vực
đất chật, người đông, thiếu việc làm, nhiều rủi ro, năng suất thấp. Tác giả cũng phân
tích dường như cả dư luận xã hội và các nhà hoạch định chính sách đều không mấy
thiện cảm với dòng di cư nông thôn – thành thị, luôn coi nó là tự phát, là làm quá tải cơ
sở hạ tầng, gây tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm môi trường, khó đáp ứng dịch vụ xã hội
cơ bản...Chính vì vậy, cho đến nay, các chính sách thường nghiêng về phía hạn chế
nhập cư đô thị chứ chưa tạo điều kiện cho quá trình này diễn ra trôi chảy. Dựa trên thực
tế Việt Nam và những kinh nghiệm từ Trung Quốc, Hàn Quốc, tác giả luận giải rằng,
quan niệm như vậy là không chính xác, tiếp cận như vậy là thụ động và gợi mở sự thay
đổi tư duy, chính sách đối với dòng di dân nông thôn – thành thị ở Việt Nam.
Hay trong nghiên cứu của tác giả Đinh Quang Hà về “Di dân tự do nông thôn –
đô thị với trật tự xã hội”, năm 2010, tác giả lại nghiên cứu những tác động của người
nhập cư tại Hà Nội đến trật tự xã hội, nghiên cứu và phân tích những vấn đề xã hội như
nhập cư bất hợp pháp, các tệ nạn xã hội nảy sinh tại thành thị khi có người di cư đến.Từ
đó, đưa ra các giải pháp về quản lý người nhập cư tại thành phố
Thứ 3, các nghiên cứu về rủi ro của những người lao động di cư tại thành phố và
giải pháp:
Tác giả Nguyễn Huyền Lê, Viện Khoa học và xã hội, Rủi ro của lao động di cư
và một số kiến nghị. Tác giả đã chỉ ra rằng dòng lao động di cư từ nông thôn ra thành
đảm những điều kiện sống tối thiểu cho người di cư; Bỏ những rào cản đối với các dịch
vụ xã hội, đặc biệt là giáo dục và y tế cho những đối tượng này...
Những thống kê, nghiên cứu này đã đưa ra một bức tranh tổng quát về chính sách
của Nhà nước về người di cư, thực trạng dòng lao động di cư từ nông thôn ra thành thị
và những vấn đề xã hội đặt ra cũng như những khó khăn thách thức của người lao động
di cư đang gặp phải.
Như vậy, vấn đề lao động di cư từ nông thôn ra thành thị đã được nhiều nhà khoa
học trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ và cách tiệp cận khác
nhau. Tuy nhiên, những vấn đề xã hội, khó khăn của người lao động di cư nói chung và
đặc biệt là nữ laod động di cư đang gặp phải và biện pháp can thiệp trợ giúp cho họ thì
chưa có công trình nào đề cập đến.
4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
4.1. Ý nghĩa khoa học
Vận dụng các lý thuyết của công tác xã hội vào việc đánh giá nhu cầu, vấn đề
gặp phải của nhóm lao động nữ di cư từ nông thôn ra thành phố Hà Nội và biện pháp hỗ
trợ can thiệp cho nữ lao động di cư từ nông thôn ra thành phố.
Thực hành công tác xã hội với nhóm lao động nữ di cư từ nông thôn ra thành phố
Hà Nội để giải quyết những khó khăn của họ.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết nối nguốn lực để hỗ trợ giải quyết những khó khăn, vấn đề của người lao
động di cư từ nông thôn ra thành phố tại Phường Yên Hòa
6
Xây dựng mô hình câu lạc bộ “Cùng tương trợ” của nhóm lao động nữ di cư từ
nông thôn ra thành phố tại Phường Yên Hòa để hỗ trợ họ giải quyết những khó khăn và
vấn đề gặp phải để từ đó có thể nhân rộng mô hình này trong cộng đồng.
5. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ đời sống của lao động nữ di cư từ nông thôn ra
thành phố tại phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
lao động di cư trong đó có nữ lao động di cư từ nông thôn ra thành phố, những khó
khăn trong đời sống, lao động và việc làm cũng như những chính sách và sự hỗ trợ đối
với nhóm người này.
10.2. Phương pháp điều tra xã hội học:
- Điều tra bằng bảng hỏi: 100 nữ lao động di cư tại phường Yên Hòa
- Phỏng vấn sâu: cán bộ quản lý, người lao động, người dân
Qua phương pháp điều tra xã hội học đã cho thấy tình hình nữ lao động di cư tại
phường Yên Hòa. Định lượng được số lao động nữ di cư đang sống và làm việc tại
phường. Việc làm và đời sống của nhóm nữ lao động di cư tại đây.
7
Qua điều tra tình hình nữ lao động di cư tại phường có thể thấy rằng, những
nguyên nhân, tình hình di cư hay cuộc sống của những người này khá giống, tương
đồng với các nghiên cứu của các tác giả khác, hoặc ở các địa bàn khác trên thành phố
Hà Nội.
10.3. Phương pháp Công tác xã hội: công tác xã hội nhóm
Thông qua thành lập nhóm tự tạo là những người nữ lao động di cư ra thành phố
đang sinh sống và làm việc tại Phường Yên Hòa để nhằm trợ giúp cho nhóm phụ nữ di
cư được sinh hoạt trong nhóm có thể thảo luận, chia sẽ những vấn đề gặp phải để tự trợ
giúp giải quyết cho những khó khăn họ gặp phải trong cuộc sống.
Mặt khác, thông qua mô hình nhóm này cũng đề xuất, đưa ra những kiến nghị
giúp họ tăng cường nhận thức về những vấn đề di cư tại thành phố; giúp họ trao đổi,
động viên nhau vượt qua những khó khăn trong cuộc sống.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ LÝ THUYẾT ÁP DỤNG
1.1. Khái niệm nghiên cứu
1.1.1. Khái niệm di cư và người lao động di cư
1.1.1.1. Di cư
Hiện nay, đã và đang tồn tại hai thuật ngữ: di cư và di dân.
1.1.2. Công tác xã hội và phương pháp công tác xã hội nhóm
Có nhiều tổ chức, tác giả nghiên cứu về CTXH dưới các góc độ khác nhau.
Theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH Hoa Kỳ (NASW): Công tác xã hội là hoạt
động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay
khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều
kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ. CTXH tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã
hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội
giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc sống.
Theo đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ: CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối
quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao
chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng,
hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến.
Khái niệm công tác xã hội nhóm
CTXH nhóm: là một phương pháp của CTXH nhằm tạo dựng và phát huy sư
tương tác, chia sẻ kinh nghiệm, nguồn lực giữa các thành viên, giúp củng cố, tăng
cường chức năng xã hội và khả năng giải quyết vấn đề, thỏa mãn nhu cầu của nhóm.
Thông qua sinh hoạt nhóm, mỗi cá nhân hòa nhập, phát huy tiềm năng, thay đổi thái độ,
hành vi và khả năng đương đầu với nan đề của cuộc sống, tự lực và hợp tác giải quyết
vấn đề đặt ra vì mục tiêu cải thiện hoàn cảnh một cách tích cực. [22]
1.2. Phương pháp luận:
1.2.1. Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Biện chứng là khái niệm dùng để chỉ những mối liên hệ, tương tác, chuyển hóa
và vận động, phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong giới tự
nhiên, xã hội và tư duy.
Theo Ph.Ăngghen: “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những
quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người
và của tư duy” (C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2002, t.20, tr.20).
Phương pháp luận duy vật biện chứng là xem xét sự vật trên nền tảng của thế
giới quan duy vật khoa học. Các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy
* Lý thuyết hệ thống
Hê ̣ thố ng xã hô ̣i ảnh hưởng lên cá nhân mô ̣t cách sâu sắ c và ở nhiề u khía ca ̣nh.
Hê ̣ thố ng chính thức trong cô ̣ng đồ ng là nguồ n lực hỗ trơ ̣ tích cực cho con người, đă ̣c
biêṭ là những người yế u thế . Tuy nhiên trên thực tế không phải tấ t cả mo ̣i người trong
cô ̣ng đồ ng đề u có khả năng tiế p câ ̣n sự hỗ trơ ̣ như nhau về nguồ n lực từ các hê ̣ thố ng
trong cô ̣ng đồ ng. Viêc̣ tiế p câ ̣n các nguồ n lực phu ̣ thuô ̣c vào nhiề u yế u tố , trong đó có
quyề n lực, khả năng của bản thân và cơ hô ̣i khác nhau của mỗi cá nhân.
* Quan điểm sinh thái
Quan điểm sinh thái đề cập đến các tương tác tương hỗ, phức tạp và rộng lớn
giữa cơ thể sống và môi trường xung quanh. Nói cách khác, quan điểm sinh thái nhấn
mạnh đến sự tương tác giữa con người với môi trường xã hội mà họ đang sống, và tìm
kiếm nguyên nhân nảy sinh vấn đề cũng nhu phương hướng giải quyết vấn đề từ phía
môi trường. Quan điểm này cho rằng con người sống trong môi trường xã hội, và phải
chịu tác động từ những thay đổi của các yếu tố trong môi trường này, vì vậy khi vấn đề
nảy sinh không nhất thiết là do khiếm khuyết của cá nhân mà có thể do những bất hợp
lý từ phía môi trường.
1.3.2. Lý thuyết hút – đẩy trong hỗ trợ người lao động di cư từ nông thôn ra thành
phố
Các lý thuyết về di dân đều có điểm chung lý giải nguồn gốc của di dân nông
thôn - đô thị theo nhiều chiều cạnh, với các cấp độ và khái quát lại thành lý thuyết “hút
- đẩy”. Khu vực nông thôn với những điều kiện về kinh tế - xã hội có nhiều khó khăn:
thiếu việc làm, thu nhập thấp, điều kiện bảo đảm cho cuộc sống bấp bênh tạo ra “lực
đẩy” người dân sống ở khu vực này di dân ra khu vực đô thị. Khu vực đô thị thiếu lao
động, lao động có thu nhập cao và cơ sở hạ tầng bảo đảm cuộc sống cho người dân tốt
hơn tạo “lực hút” người dân ở nông thôn đến với đô thị. Bất bình đẳng về việc làm, thu
nhập và điều kiện sống tạo động lực cho việc di dân nông thôn - đô thị. Quá trình này
diễn ra mạnh trong thời kỳ công nghiệp hóa và đô thị hóa.
Trong các yếu tố tác động đến di dân nông thôn - đô thị, các nghiên cứu cũng
như các lý thuyết đều nhấn mạnh đến yếu tố kinh tế, yếu tố lợi ích. Kỳ vọng có việc
10
1.2. Khái quát địa bàn nghiên cứu
1.2.1. Sự chuyển đổi từ “xã” nông thôn thành “phường” đô thị ở phường Yên Hòa
Phường Yên Hòa là một trong tám phường thuộc quận Cầu Giấy, được thành lập
theo Nghị định số 74/CP ngày 22/11/1996 của Chính phủ và chính thức đi vào hoạt
động từ ngày 1/9/1997, với diện tích tự nhiên là 206,17 ha, phía Bắc giáp với phường
Quan Hoa, phía Nam giáp phường Trung Hòa, phía Tây giáp Phường Mễ Trì, Mỹ Đình
thuộc quận Nam Từ Liêm và phía Đông giáp với phường Láng Thượng quận Đống Đa.
1.2.2. Tình hình di cư trên địa bàn phường Yên Hòa
1.2.2.1. Di cư của người nước ngoài
Ngoài những người thuộc diện sang học tập, hợp tác làm việc tại các cơ quan,
đơn vị thì còn một lượng lớn người nước ngoài đến Hà Nội với mục đích làm ăn, kinh
doanh. Trong đó, chiểm tỷ lệ đông đảo là người Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản.
2.1.2.2. Dòng di cư của tầng lớp trung lưu tại các khu đô thị mới
Phường Yên Hòa là phường đô thị hóa với cơ sở hạ tầng mới được nâng cấp mở
rộng, trong khi đất đai mặc dù đã tăng rất nhiều so với trước khi chuyển thành phường
nhưng so với các phường trong nội thị thì giá cả vẫn thấp hơn nhiều. Do vậy phường có
11
sức hút lớn với các luồng nhập cư đến mua đất, mua nhà. Trên địa bàn phường tập
trung nhiều những người trung lưu mới nổi. Đó là những cán bộ công chức ngoại tỉnh
sau một thời gian thuê nhà tích góp được tiền; những doanh nghiệp mới nổi; những
người giàu ngoại tỉnh và cả những hộ gia đình trẻ trong khu vực nội thành tách ra ở
riêng; v.v… mua căn hộ tại các tòa chung cư, nhà phân lô và các biệt thực tại các khu
đô thị mới.
2.1.2.3. Dòng di cư của người nông dân nghèo
Tìm bến đỗ tại phường còn có một lượng lớn lao động nghèo ngoại tỉnh làm thuê
trên các phố trung tâm. Họ là những người nông dân di cư lên thành phố với mục đích
kiếm sống. Phần đông họ là những người lao động nghèo, không có khả năng thay đổi
chỗ ở, đành phải chấp nhận một nơi ở chật chột, ẩm thấp và rất kém tiện nghi.
8
(Nguồn: Số liệu thống kê dân số Hà Nội qua các năm [12]).
2.2.2. Đặc điểm của nhóm lao động nữ di cư từ nông thôn ra thành phố tại phường
Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
2.1.2.1. Hình thái di cư và tình trạng pháp lý
Biểu 2.1. Thời gian sinh sống, làm ăn của nữ lao động di cư tại phường Yên Hòa
(Nguồn: Theo điều tra trong đề tài)
12
2.2.2.2. Giới tính
Người di dân tự do nông thôn - đô thị ở phường Yên Hòa là nam giới có tỷ lệ
không đăng ky tạm trú nhiều hơn nữ giới (54,14% và 48,71%). Và mức độ phạm tôi,
ảnh hưởng của nam giới với trật tự xã hội là cao hơn.
2.2.2.3. Độ tuổi và trình độ
Về độ tuổi dân cư và lao động của nhóm nữ di cư tự do tới phường Yên Hòa chủ
yếu là người trong độ tuổi lao động trẻ, khỏe từ 15 – 55 tuổi; khoảng 50% người di dân
là vào độ tuổi từ 15-29, độ tuổi từ 30-39 chiếm 35%; độ tuổi 40-55 chiếm 15%, chủ yếu
họ làm nghề giúp việc
2.2.2.4. Trình độ học vấn
Trình độ học vấn của nhóm nữ lao động di cư tự do nông thôn - đô thị ở phường
Yên Hòa trong mẫu điều tra của tác giả là không cao: Tiểu học 50người chiếm 50%;
trung học cơ sở chiếm 30 %; trung học phổ thông chiếm 20%. Đa phần số người được
hỏi cho biết họ không qua đào tạo về chuyên môn, tay nghề; họ phần lớn là lao động
giản đơn, nông dân ở nông thôn (chiếm 72%), một số có nghề phụ và thực hiện nghề
phụ làm nghề kiếm sống tại thành phố (chiếm 22%). Khi di chuyển vào Hà Nội, sự thay
đổi cơ cấu nghề là điều tất yếu, do vậy, những người lao động này gặp nhiều khó khăn
khi tìm những việc làm có thu nhập cao ở thành phố.
2.2.2.5. Việc làm của người lao động di cư
Bảng 2.2: Một số chi tiêu đời sống của lao động nữ nông thôn làm việc tự do tại Hà
Nội [12]
Chỉ tiêu
Đơn vị tính
Giúp việc Bán hàng Chờ việc
(n=35)
rong
ở
chợ
(n=35)
lao động
(n=35)
1. Tổng chi tiêu bình Nghìn
293.57
1.405,56
1.056,28
quân/tháng
đồng/người/tháng
Chỗ ở (gồm cả điện, Nghìn
0
323,86
266
nước)
đồng/người/tháng
Ăn uống
Nghìn
87,14
897,14
641
đồng/người/tháng
5,1
6
nghỉ, giải trí
(Nguồn: Phạm Bảo Dương, Nguyễn Thị Tình “Việc làm và đời sống của lao động nữ
nông thôn làm việc tự do tại Hà Nội”, năm 2011)
(Nguồn2.6 và 2.7: Điều tra trong đề tài)
nhập trung bình hàng tháng mà nhóm giúp việc nhận được khi chưa tính khoản ăn, ở, quà cáp
được hưởng
1
: thu
15
2.3.2. Khó khăn của nữ lao động di cư tại thành phố trong tiếp cận các dịch vụ bảo
hiểm xã hội, y tế và giáo dục
2.3.2.1. Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểm y tế
(Nguồn: Điều tra trong đề tài)
2.3.2.2. Về chăm sóc sức khỏe
(Nguồn: Điều tra trong đề tài)
2.3.2.3. Giáo dục cho trẻ em trong các hộ gia đình di cư
2.3.2.4. Nhóm nữ lao động di cư khó khăn trong nhận hỗ trợ pháp lý và chính sách trợ
giúp giảm nghèo tại địa bàn cư trú
2.3.3. Vấn đề về tâm lý và sự kỳ thị đối với nữ lao động di cư tại thành phố
2.3.3.1. Về vấn đề tâm lý
(Nguồn: Điều tra trong đề tài)
Tiểu kết chương 2.
Qua phân tích thực trạng những vấn đề và khó khăn trong đời sống của nữ lao
động di cư từ nông thôn ra thành phố tại phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố
Hà Nội và tìm hiểu, đánh giá những nhu cầu của họ trong cuộc sống và nhu cầu trợ
giúp của công tác xã hội. Tác giả nhận thấy rằng, để giải quyết những khó khăn của
những người lao động nữ di cư ra thành phố cần có tổng thể các biện pháp, sự kết hợp
của các ban ngành, tổ chức đoàn thể, chính quyền sở tại… và đặc biệt là của chính sự
nỗ lực của những nữ lao động di cư tại thành phố. Và dưới góc độ, tiếp cận của công
tác xã hội thì sẽ góp phần giải quyết được phần nào những khó khăn trong cuộc sống
của bản thân họ. Nhân viên công tác xã hội với việc vận dụng kiến thức và kỹ năng sẽ
có vai trò trợ giúp như sau: Là người giáo dục để góp phần nâng cao nhận thức, kỹ
năng cho những người lao động đang làm việc tại thành phố; là người trung gian, kết
nối các nguồn lực để hỗ trợ họ giải quyết các vấn đề; là người biện hộ, đứng về phía
người lao động để bảo vệ các quyền và lợi ích cho họ; đồng thời là nhà tham vấn tâm lý
… Tóm lại sẽ giúp họ tăng năng lực để giải quyết những vấn đề trong chính cuộc sống
của họ.
Những phương pháp công tác xã hội cơ bản sẽ được áp dụng là công tác xã hội
với cá nhân, công tác xã hội với nhóm hoặc có thể thông qua dự án phát triển cộng
đồng. Tuy nhiên, trong đề tài này tác giả vận dụng phương pháp công tác xã hội với
nhóm được triển khai ở chương 3.
CHƯƠNG 3. MÔ HÌNH NHÓM “CÙNG TƯƠNG TRỢ” CỦA LAO ĐỘNG NỮ
DI CƯ TỪ NÔNG THÔN RA THÀNH PHỐ TẠI PHƯỜNG YÊN HÒA, QUẬN
CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1. Đề xuất xây dựng mô hình nhóm “Cùng tương trợ” của nữ lao động di cư ra
thành phố tại Phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Mô hình nhóm “Cùng tương trợ” của những nữ lao động di cư ra thành phố
ở phường Yên Hòa.
Nữ
Tuổi – Quê quán
28 tuổi – Thái
Bình
30 tuổi – Nam
Định
32 tuổi – Thanh
Hóa
38 tuổi – Yên Bái
Công việc
Nhân viên gội đầu
Bán hàng rong
Bán hàng rong
Giúp việc gia
đình
35 tuổi – Thái Buôn bán nhỏ
Bình
(làm đậu)
29 tuổi – Phú Thọ Phục vụ nhà hàng
3.1.1.2. Đặc điểm, loại hình nhóm
- Đặc điểm: nhóm nữ lao động di cư ra thành phố. Cụ thể trong nhóm có các
thành viên làm các công việc khác nhau, có người bán hàng rong: bóng bay cho trẻ em,
bán hoa quả, có người làm nghề giúp việc gia đình theo giờ, có người làm nhân viên
phục vụ nhà hàng và nhân viên gội đầu và có người kinh doanh buôn bán nhỏ. Điều này
đã tạo nên sự phong phú, đa dạng trong nhóm.
- Loại hình nhóm: CTXH nhóm giáo dục, nhóm tự tạo
19
- Mục tiêu chính: Những thành viên tham gia câu lạc bộ có được các kiến thức, kĩ
năng cơ bản cho cuộc sống khi di cư tại thành phố.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Cung cấp các thông tin cơ bản về thực trạng lao động, việc làm và đời sống của
những nữ lao động di cư tại Hà Nội
+ Cung cấp các kiến thức, thông tin pháp luật liên quan đến người lao động di cư và
những kinh nghiệm khi xảy ra các tranh chấp hoặc vi phạm quyền
+ Tập huấn các kĩ năng sống cơ bản cho các thành viên
+ Tạo điều kiện cho các thành viên trong câu lạc bộ vui chơi, giải trí; tăng cường các kĩ
năng xã hội, giúp các thành viên nâng cao giá trị của bản thân.
Đối tượng và cơ cấu nhân sự của nhóm
- Đối tượng thành viên:
+ Những nữ lao động di cư đang sinh sống tại phường Yên Hòa
+ Các thành viên tham gia trên cơ sở tự nguyện.
- Cơ cấu nhân sự của nhóm
+ Ban chủ nhiệm câu lạc bộ: gồm 3 người
Chủ nhiệm câu lạc bộ: chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ hoạt động của câu lạc bộ
như xây dựng kế hoạch hoạt động, quản lý thu chi,…
Phó chủ nhiệm phụ trách nội dung hoạt động, các buổi sinh hoạt của câu lạc bộ;
xây dựng mạng lưới cộng tác viên,…
Phó chủ nhiệm phụ trách kinh phí, chuyên trách về mảng vật chất, hậu cần cho
các buổi sinh hoạt của câu lạc bộ;
+ Mạng lưới cộng tác viên: là những người có chuyên môn về các lĩnh vực liên
quan đến các nội dung hoạt động của câu lạc bộ như chuyên viên pháp luật, người làm
công tác xã hội
+ Mạng lưới hỗ trợ: đại diện các ban ngành, lãnh đạo chính quyền phường, tổ dân
phố…
Buổi 10: Đánh giá, tổng kết Tổng kết
3.1.2.2. Giai đoạn 2: Khởi động và bắt đầu hoạt động
3.1.2.3. Giai đoạn 3: Tập trung hoạt động – giai đoạn trọng tâm
Dựa trên kế hoạch – dự thảo chương trình hoạt động của nhóm, tôi tiến hành 10 buổi
sinh hoạt nhóm với những nội dung cụ thể.
Thời gian: 19h30 – 20h30 thứ 4 hàng tuần
Địa điểm: Khu nhà trọ tổ 10
Thành phần tham dự:
- Các thành viên trong nhóm nữ lao động di cư
- Tôi - NVXH
* Tổ chức các buổi sinh hoạt nhóm
Bước 1: Công tác chuẩn bị cho một buổi sinh hoạt nhóm:
- Họp Ban chủ nhiệm:
Trước các buổi sinh hoạt, Ban chủ nhiệm cần có sự họp bàn kĩ lưỡng để thảo luận
về mục tiêu buổi sinh hoạt, những hoạt động cần triển khai trong buổi sinh hoạt và sự
phối hợp giữa các thành viên điều phối buổi sinh hoạt (co-leadership).
- Các phương tiện bổ trợ: bàn ghế, bảng, giấy, bút, tài liệu, học liệu sử dụng trong buổi
sinh hoạt;
Bước 2: Tổ chức buổi sinh hoạt (theo nội dung đã thống nhất trong kế hoạch tổng thể)
Ví dụ về chương trình của một buổi sinh hoạt đầu tiên
Hoạt động
Mục tiêu
Cách thức
Hoạt động1: Giới thiệu Nhằm đảm bảo tất cả các Người điều hành sẽ trình
mục đích và ý nghĩa của thành viên có sự hiểu bày ý nghĩa và mục đích
sinh hoạt nhóm
biết chung về ý nghĩa và của việc sinh hoạt nhóm
ghi những mong đợi về
của thành viên khi sinh
những buổi họp tiếp
Hoạt động 4: Chia sẻ
hoạt nhóm
theo
mong đợi về những buổi
- Tạo bầu không khí vui
- Thu lại những ý kiến
họp nhóm
vẻ, thoải mái để mọi
của các thành viên và
người chia sẻ
dán lên bảng (tường)
- Đọc to những mong đợi
trước cả nhóm
- Thống nhất thời gian,
- Thảo luận với các
Hoạt động 5: Kế hoạch
địa điểm, nội dung và
thành viên về các vấn
cho những buổi sinh hoạt cách thức tổ chức cho
đề cho buổi sinh hoạt
tiếp theo
những buổi sinh hoạt
tiếp theo
tiếp theo
Có thể tham khảo mẫu
Hoạt động 6: Đánh giá
- Rút kinh nghiệm cho
thành phố
3.2.2.2. Hỗ trợ cá nhân nữ lao động di cư tại thành phố
3.3. Một số giải pháp nhằm giải quyết vấn đề lao động nữ di cư từ nông thôn ra
thành phố
3.3.1. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, tích cực
đào tạo nghề, tạo việc làm ở khu vực nông thôn.
3.1.2. Đảm bảo an sinh xã hội khu vực nông thôn
PHẦN KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN
KHUYẾN NGHỊ
* Đối với các cơ quan ban ngành, chính quyền sở tại:
Hiện nay, những chính sách với người lao động di cư nói chung và di cư tự do ra
thành phố còn rất hạn chế, thiếu. Điều này dẫn đến việc giải quyết những vấn đề gặp
phải của người lao động di cư tự do tại thành phố gặp nhiều khó khăn vì không có thệ
thống văn bản pháp luật hướng dẫn . Do đó, nhà nước và các cơ quan ban ngành cần
hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách với người lao động di cư đặc biệt là lao động
di cư tự do ra thành phố.
Việc hỗ trợ giải quyết những khó khăn trong đời sống của nhóm nữ lao động di
cư tự do ra thành phố cần có sự kết hợp của nhiều đơn vị, tổ chức xã hội. Địa bàn sở tại
là nơi tiếp nhận những người nhập cư vào thành phố nên chính quyền địa phương ở đây
phải có sự quản lý về nhân khẩu, tạm trú. Cần quan tâm hơn nữa đến đời sống của họ
và có những chính sách tạo điều kiện cho những người lao động sống và làm việc tại
đây. Chính quyền địa phương vận động, tuyên truyền người dân sở tại có cái nhìn thiện
cảm, hòa đồng với những người lao động di cư đến đây.
Chính quyền địa phương kết hợp, tạo điều kiện cho các tổ chức, ngành CTXH
thực hiện hoạt đồng trợ giúp giải quyết những khó khăn của nữ lao động di cư đang
sinh sống tại đây.
* Đối với nhân viên công tác xã hội
Dưới góc độ CTXH, cúng ta có thể thấy người di cư có quyền được hưởng an
sinh xã hội, quyền được hưởng các chính sách và sự quan tâm của nhà nước, chính
quyền. Thông qua mô hình CTXH nhóm, nhân viên CTXH nêu lên tiếng nói của những
định cuộc sống…Chính quyền cần có các chính sách về vay vốn ưu đãi, giao đất nông
nghiệp tạo điều kiện cho người dân ổn định làm ăn lâu dài. Hỗ trợ dạy nghề, giới thiếu
việc làm ngay trên quê hương để giúp họ có cuộc sống tốt không có ý định di cư lên
thành phố.
KẾT LUẬN
Dòng lao động di cư nông thôn – thành thị là xu hướng tất yếu trong sự phát triển
kinh tế - xã hội hiện nay ở nước ta. Những tác động tích cực của dòng di cư này trong
việc đáp ứng nhu cầu lao động cho các khu công nghiệp, khu vực kinh tế chính thức và
phi chính thức là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, những người lao động di cư ra thành
phố hiện nay, đặc biệt là lao động nữ đang phải đối mặt với những khó khăn, nguy cơ
về sức khỏe, giáo dục, nhà ở, an sinh xã hội, sự xâm hại... ảnh hưởng đến cuộc sống và
sự phát triển của họ. Mặt khác những chính sách của Nhà nước trong hỗ trợ cho nhóm
đối tượng này còn rất chung chung, chưa có những quy định cụ thể. Trong thời gian tới
xu hướng di cư lao động nông thôn ra thành thị vẫn diễn ra và người lao động sẽ phải
đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp hơn.
Trong nghiên cứu của luận văn này, tác giả đã phân tích làm rõ hơn về các khái
niệm di cư, người lao động di cư từ nông thôn ra thành phố, đặc biệt là những đặc điểm
của nhóm nữ lao động di cư. Có thể thấy, nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy quá trình di cư
của nhóm nữ lao động nói riêng và những người lao động tự do từ nông thôn ra thành
phố là nguyên nhân kinh tế. Mục tiêu tìm kiếm việc làm và các cơ hội tốt hơn cho cuộc
sống của họ, nâng cao thu nhập cho bản thân và gia đình là yếu tố quyết định. Cũng cần
nhận thấy rằng các điều kiện khó khăn ở nông thôn, người nông dân mất đất nông
nghiệp, điều kiện môi trường là lực đẩy khiến họ ra đi. Tuy nhiên, quá trình ra đi đó là
24
tự phát, không có tổ chức đặc biệt hiện nay nhà nước ta chưa có những chính sách cụ
thể với các đối tượng này. Điều này dẫn đến những khó khăn của họ khi ra thành phố.
Tại các thành phố lớn, cụ thể tại địa bàn luận văn nghiên cứu về cuộc sống của