Luận văn tiến sĩ lịch sử quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của cộng hòa ấn độ từ năm 1991 đến năm 2015 - Pdf 61

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN VĂN DƢƠNG

QUÁ TRÌNH CỦNG CỐ VÀ BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC
CỦA CỘNG HÒA ẤN ĐỘ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
và giải phóng dân tộc

Hà Nội - 2018


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN VĂN DƢƠNG

QUÁ TRÌNH CỦNG CỐ VÀ BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC
CỦA CỘNG HÒA ẤN ĐỘ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: Lịch sử Phong trào cộng sản,
công nhân quốc tế và giải phóng dân tộc
Mã số : 62.22.03.12

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS Nguyễn Tất Giáp

Hà Nội - 2018



hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2015 ................................................... 125
4.3. Một số bài học kinh nghiệm đối với các nước đang phát triển ......... 133
KẾT LUẬN ........................................................................................................................... 147
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN.................................................................................................................... 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 152
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Tên Tiếng Anh
Asia - Pacific Economic

Di n đàn hợp tác kinh tế

Cooperations

Châu Á - Thái Bình Dương

ASEAN Free Trade Area

Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN

APEC
AFTA

Tên Tiếng Việt


Hiệp định hợp tác kinh tế toàn diện

EAS

East - Asia Summit

Hội nghị cao cấp Đông Á

EU

European Union

Liên minh châu Âu

FDI

Foreign Direct Investment

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FTA

Free Trade Agreement

Hiệp định thương mại tự do

GDP

Gross Domestic Product


North Atlantic Treaty

NATO

Hợp tác sông Hằng -sông Mêkong
Khối Bắc Đại Tây Dương

Organization
Oraganization Security
OSCE

Di n đàn an ninh và Hợp tác Châu Âu

and Cooperation Europer
Rs
SAARC

SCO

Rupees
South Asian Association for
Regional Cooperation
Shanghai Cooperation
Organization

Đồng Rupee (Đơn vị tiền tệ Ấn Độ)
Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á

Tổ chức hợp tác Thượng Hải


quan trọng và có những đóng góp tích cực cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân
tộc, góp phần giữ gìn và bảo vệ nền hòa bình thế giới.
Trong Chiến tranh lạnh, Ấn Độ cũng là nước chịu tác động, ảnh hưởng
không nhỏ của sự đối đầu Đông Tây. Mặc dù, Ấn Độ đã lựa chọn cho mình một con
đường riêng, con đường “Không liên kết” để xây dựng và phát triển đất nước nhưng
những hạn chế trong chính sách đối nội và đối ngoại ngày càng bộc lộ, có nguy cơ
làm suy yếu sức mạnh tổng hợp của một cường quốc khu vực.
Sau Chiến tranh lạnh, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp
đổ, Ấn Độ không còn sự hậu thuẫn vững chắc vốn có. Ấn Độ mất đi sự viện trợ và
đầu tư chủ yếu của Liên Xô là một tổn thất rất lớn, nhất là trong lĩnh vực quân sự,
chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực. Tình hình thế giới sau Chiến
tranh lạnh có nhiều di n biến phức tạp, làn sóng toàn cầu hóa và sự phát triển như
vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã tác động sâu sắc đến công cuộc
củng cố và bảo vệ độc lập của các nước đang phát triển, trong đó có Ấn Độ. Vì vậy,
việc lựa chọn con đường củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc phù hợp với xu thế của
thời đại và đặc thù của quốc gia dân tộc là một nhiệm vụ sống còn đối với Ấn Độ
cũng như các nước đang phát triển khác.
Trong bối cảnh quốc tế đầy biến động nhanh chóng, khó đoán định, cho nên
nhận thức, quan niệm và cách tiếp cận về độc lập dân tộc, củng cố và bảo vệ độc lập
dân tộc của các nước đang phát triển cũng buộc phải điều chỉnh và có các tiếp cận
mới; phương pháp đấu tranh, cách thức mới. Độc lập dân tộc trong bối cảnh toàn


2
cầu hóa không chỉ bao hàm quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi chủ quyền
lãnh thổ. Mà nó còn có mối quan hệ chặt chẽ với việc củng cố sức mạnh tổng hợp
quốc gia, dân chủ, bình đẳng, hòa bình và phát triển trong quan hệ quốc tế. Chúng
có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau.
Đối với Ấn Độ, độc lập dân tộc là mục tiêu cao cả, là giá trị thiêng liêng, tinh
thần cao quý của một dân tộc có bề dày lịch sử; khát vọng hòa bình, tự do, bình

tâm cao của các lãnh tụ và các nhà lãnh đạo đất nước qua các thời kỳ đã đưa Ấn Độ
trở thành cường quốc, có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế.
Bước sang thế kỷ XXI, Ấn Độ không chỉ mở rộng tầm ảnh hưởng mạnh mẽ
ở khu vực Nam Á, Ấn Độ Dương mà còn gia tăng sức mạnh ở khu vực Đông Nam
Á, Châu Á - Thái Bình Dương, thể hiện năng lực cạnh tranh với các nước lớn; sẵn
sàng cạnh tranh gay gắt, không khoan nhượng với Trung Quốc. Ấn Độ đã triển khai
mạnh mẽ Chính sách Hướng Đông để khẳng định sự xuất hiện của nước này tại khu
vực trên cả phương diện lý thuyết lẫn thực ti n; bảo vệ lợi ích quốc gia luôn song
hành gắn kết với an ninh chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, bản sắc dân tộc và luật
pháp quốc tế.
Ấn Độ đã phát huy sức mạnh truyền thống văn hóa, tinh thần dân tộc bằng
tất cả nội lực, sự đoàn kết thống nhất ý chí của cả dân tộc để ghi đậm thêm dấu ấn
lịch sử vĩ đại đầy tự hào, kiêu hãnh và phát triển. Đây là di sản nổi bật, đặc điểm
riêng biệt của nhân dân Ấn Độ đã đứng dậy từ thuộc địa đến độc lập, từ phụ thuộc
đến tự do; để có thể tham dự hoặc can dự và có ảnh hưởng lớn đến mọi hoạt động
của đời sống quốc tế; chủ động xử lý tốt mối quan hệ với các quốc gia láng giềng
mâu thuẫn và các quốc gia láng giềng trong khu vực.
Trên đây là một số bài học kinh nghiệm quý báu và mang tính cấp thiết đối
với các nước đang phát triển để có thể tham chiếu, áp dụng, nhằm xử lý những vấn
đề trong nước và quốc tế một cách có hiệu quả.
Đối với Việt Nam, Ấn Độ là quốc gia Nam Á có mối quan hệ gắn bó lâu đời,
hai nước đã từng bị chủ nghĩa đế quốc áp bức và nô dịch, cùng đoàn kết gắn bó,
giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.
Trong lịch sử và hiện tại hiếm có mối quan hệ nào như Ấn Độ và Việt Nam theo lời
của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đó là mối quan hệ “như bầu trời không gợn
bóng mây”. Mối quan hệ giữa chính phủ và nhân dân hai nước được Chủ tịch Hồ
Chí Minh, cố Thủ tướng J.Nehru đặt nền móng luôn được Đảng, Nhà nước Việt


4



5
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế trong quá trình củng cố và bảo vệ độc
lập dân tộc giai đoạn 1991 - 2015 và rút ra một số bài học kinh nghiệm đối với các
nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng
Đề tài tập trung nghiên cứu về quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc
của Cộng hòa Ấn Độ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc
phòng và văn hóa - xã hội từ năm 1991 đến năm 2015.
3.2. Phạm vi
- Về nội dung, đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu chính sách cải cách trên
các lĩnh vực kinh tế, chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng và văn hóa - xã hội
nhằm củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của nền Cộng hòa Ấn Độ.
- Về thời gian, đề tài tập trung nghiên cứu trong thời gian từ năm 1991 đến năm
2015: Năm 1991, Ấn Độ tiến hành cải cách kinh tế và đổi mới toàn diện đất nước; năm
2015 có ý nghĩa tổng kết lịch sử, đánh giá những thành tựu đã đạt được trong 65 năm
kể từ khi Ấn Độ tuyên bố độc lập ngày 26/1/1950 và 25 năm sau cải cách.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Đề tài dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc, quan điểm của Đảng cầm quyền Ấn
Độ, các lý thuyết về quan hệ quốc tế đương đại, các văn bản của Nhà nước và Chính
phủ Ấn Độ.
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận án là phương pháp lịch sử, phân
tích, tổng hợp, thống kê, logic, đối chiếu, so sánh…
5. Những đóng góp mới của luận án
5.1. Về lý luận

Chương 4: Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm đối với các nước đang
phát triển


7
Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về Ấn Độ đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu, chính trị gia và các học
giả tại Ấn Độ và trên thế giới. Ở những nước lớn như Nga, Mỹ, Pháp, Anh, Úc… đã
hình thành ngành Ấn Độ học và có các cơ quan nghiên cứu chuyên sâu về Ấn Độ. Tại
Ấn Độ, có nhiều Trung tâm nghiên cứu lớn, các Viện nghiên cứu, các Trường Đại
học, một số cơ quan như Hội đồng nghiên cứu về quan hệ kinh tế quốc tế Ấn Độ
(ICRIER), Viện nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS), Viện nghiên cứu và phân tích
quốc phòng (IDSA), Viện nghiên cứu xung đột và hòa bình (IPCS),....
Ở Việt Nam, các cơ quan nghiên cứu như: Viện nghiên cứu Ấn Độ và Tây
Nam Á thuộc Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu Ấn
Độ thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các trường Đại học và các cơ
quan nghiên cứu khác trên cả nước.
Để đảm bảo tính khoa học, trong quá trình nghiên cứu, tác giả có sử dụng một
số tư liệu gốc như Hiến pháp Ấn Độ, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm
của chính phủ Ấn Độ; báo cáo thường niên của chính phủ Ấn Độ và đặc biệt là các
bài phát biểu của các Thủ tướng Ấn Độ trong các ngày l lớn của đất nước và ngày
Quốc khánh.
Bên cạnh đó, tác giả cũng tiếp cận một số lượng lớn các nguồn tài liệu của các
nhà nghiên cứu, các học giả ở Việt Nam nghiên cứu về Ấn Độ; các học giả ở Ấn Độ
và trên thế giới nghiên cứu về Ấn Độ trên các lĩnh vực khác nhau như: lịch sử, văn
hóa - xã hội, chính trị - ngoại giao, kinh tế, an ninh - quốc phòng.... Đây là cơ sở và tư
liệu khoa học quan trọng để tác giả kế thừa tham khảo trong quá trình viết luận án:
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA CÁC HỌC GIẢ Ở ẤN ĐỘ VÀ

Cuốn sách “A history of India” (1998) (Lịch sử Ấn Độ) [109] của hai giáo sư
người Đức Hurmann Kulke và Dietmar Rothermund. Ấn ph m đã giới thiệu khái quát
về lịch sử Ấn Độ bắt đầu từ thời tiền sử đến quá trình bị xâm chiếm và cai trị bởi chủ
nghĩa thực dân; quá trình đấu tranh giành độc lập của nhân dân Ấn Độ; sự chia cắt đất
nước Ấn Độ sau khi giành độc lập. Tác giả cũng nhấn mạnh đến những sức mạnh về
chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa đã tạo nên một lịch sử của tiểu lục địa Ấn Độ trong
thời kỳ đầu của nền cộng hòa. Tác ph m thiên về đề cập đến yếu tố cấu trúc hơn là liệt
kê các sự kiện theo thời gian.
Tiếp theo cuốn “India’s struggle for Independence 1857 - 1947”, sử gia nổi


9
tiếng người Ấn Độ BiPan Chandra lại cho ra đời ấn ph m “India after
independence” (2008) (Ấn Độ kể từ khi giành độc lập) [90]. Tác ph m đã phân tích
những khó khăn, thách thức và những thành tựu Ấn Độ đã đạt được trong cuộc đấu
tranh giành độc lập dân tộc. Cuốn sách cũng miêu tả quá trình soạn thảo hiến pháp
Ấn Độ và những chính sách về kinh tế, chính trị trong thời đại của J.Nehru được
phát triển như thế nào. Tác giả tập trung đi sâu vào phân tích quá trình củng cố độc
lập dân tộc, những vấn đề còn nhiều tranh cãi giữa các đảng phái chính trị ở chính
quyền trung ương với các bang, vấn đề Punjab... Đồng thời, tác giả cũng mang tới
cho độc giả những thông tin về sự thất bại của Liên minh dân chủ quốc gia trong
cuộc tổng tuyển cử 2004, sự vươn lên cầm quyền của Liên minh cấp tiến quốc gia
và thỏa thuận hạt nhân giữa Ấn Độ và Mỹ. Ngoài việc phân tích những cải cách
kinh tế từ năm 1991, cải cách ruộng đất và cuộc cách mạng xanh, phiên bản mới
này còn đưa ra bức tranh tổng quan về nền kinh tế Ấn Độ trong thiên niên kỷ mới.
Đặc biệt, ấn ph m còn khái quát vai trò lãnh đạo của các lãnh tụ qua các thời kỳ như
Jawaharlal Nehru, Indira Gandhi, Jayaprakash Narayan, Lal Bahadur Shastri, Rajiv
Gandhi, Vishwanath Pratap Singh, Atal Bihari Vajpayee and Manmohan Singh.
Đây là nguồn tài liệu có giá trị quý báu, tham khảo rất lớn cho luận án.
Cuốn “The emergence of modern India” (1981) (sự trỗi dậy của Ấn Độ hiện

gây dựng hình ảnh ấn tượng của mình trên toàn thế giới.
“Jawaharlal Nehru: A biograph - Vol 2: 1947 - 1956, Vol 3: 1956 - 1964”
(Tiểu sử Jawaharlal Nehru Tập 2, Tập 3) [158] của tác giả Sarvepalli Gopal. Vol 2
thuật lại chín năm đầu của Thủ tướng Jawaharlal Nehru cầm quyền; miêu tả và phân
tích những vấn đề của Ấn Độ và thế giới; cuộc đấu tranh giữa Ấn Độ và Pakistan về
vấn đề Kashmir; cuộc bầu cử tự do đầu tiên của Ấn Độ, khủng hoảng vấn đề Triều
Tiên và kênh đào Suye. Đồng thời, tác giả cũng nhấn mạnh đến vai trò của J.Nehru
đối với sự nghiệp dân tộc của Ấn Độ và trên trường quốc tế. Ông được đánh giá là
ánh sáng của châu Á, đạt tới đỉnh cao của quyền lực. Vol3 là tập cuối cùng về tiểu
sử và cuộc đời của Jawaharlal Nehru. Ấn ph m số 3 này nói về tám năm cuối cùng
của cuộc đời ông trên cương vị là Thủ tướng Ấn Độ với những nỗ lực, hy sinh để
duy trì sự phát triển của nền kinh tế và sự tiến bộ xã hội của người dân Ấn Độ
nhưng không làm mất đi những nguyên tắc trong chính sách ngoại giao của ông
ngay cả khi quan hệ với Trung Quốc xấu đi, mà đỉnh cao là cuộc xâm lược với quy
mô lớn ở Phía Đông và Phía Tây của biên giới hai nước.


11
“Mahatma Gandhi: Người đã giải phóng Ấn Độ và dẫn dắt thế giới vào cuộc
đổi thay bất bạo động” (2000) [39] của tác giả Michael Nicholson. Cuốn sách tổng
hợp những câu chuyện về cuộc đời và sự nghiệp của vĩ nhân Mahatma Gandhi, cái
chết của ông và những cống hiến của Gandhi cho Ấn Độ và thế giới.
Cuốn “The Politics of India since Independence” (1994) (Tình hình chính trị
Ấn Độ kể từ khi giành độc lập) [147] của giáo sư người Mỹ Paul R. Brass, được tác
giả viết vào giữa những năm 1986 - 1989 phản ánh những lo ngại của tác giả về bộ
máy chính quyền thời kỳ hậu J.Nehru trong việc hoạch định chính sách và kiểm soát
các nguồn lực kinh tế. Tất cả những nỗ lực của nhà lãnh đạo thời kỳ này đang tạo ra
những phản ứng ngược. Các tổ chức chính trị bị xói mòn về tư tưởng, bạo lực và
xung đột sắc tộc, tôn giáo, giai cấp, văn hóa giữa các vùng miền đang có nguy cơ
gia tăng. Trước tình hình đó, tác giả đặt ra một vấn đề cần tranh luận là: Nên chăng

vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế của Ấn Độ như tác động của toàn cầu hóa
đến nền kinh tế Ấn Độ, khu vực dịch vụ, hệ thống ngân hàng. Phần 3 gồm 7 chương
đề cập đến chính sách đối ngoại và chính sách an ninh của Ấn Độ. Phần 4 gồm 4
chương nhấn mạnh đến mối quan hệ Ấn Độ - Liên minh Châu Âu (EU).
Cuốn “India’s Foreign Policy: Retrospect and Prospect” (Chính sách đối
ngoại của Ấn Độ: Nhìn lại và triển vọng) (2010) [159] là tập hợp những nghiên cứu
của 15 tác giả trên thế giới và do giáo sư Sumit Ganguly chủ biên. Cuốn sách cung
cấp cho độc giả những nghiên cứu sâu sắc về chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ
năm 1947 đến nay và được thể hiện qua mối quan hệ của Ấn Độ với các nước láng
giềng cũng như các nước lớn trên thế giới như Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc và Nga.
Tất cả các chương của cuốn sách được các tác giả sử dụng phương pháp tiếp cập lý
thuyết cấp độ trong quan hệ quốc tế (cấp độ hệ thống, cấp độ quốc gia và cấp độ cá
nhân), các yếu tố này tác động đến chính sách đối ngoại của Ấn Độ như thế nào? Từ
việc phân tích mối quan hệ của Ấn Độ với các nước, ba chương cuối của ấn ph m,
tác giả đưa ra phân tích vấn đề cốt lõi trong chính sách hạt nhân, chính sách kinh tế
và chính sách năng lượng của Ấn Độ được định hình và phát triển như thế nào. Đây
là một công trình nghiên cứu rất hữu ích cho các học giả nghiên cứu về Ấn Độ.
Tiến sĩ Harish Kapur, chuyên gia về quan hệ quốc tế người Thụy Sỹ với tác
ph m “Foreign policies of India’s Prime Ministers” (2013) (Chính sách đối ngoại của
các Thủ tướng Ấn Độ) [108]. Cuốn sách là một công trình chuyên khảo nghiên cứu


13
về chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ khi giành độc lập năm 1947. Công trình là bức
tranh toàn cảnh về chính sách đối ngoại của các Thủ tướng Ấn Độ qua các thời kỳ từ
nhà lãnh đạo đầu tiên Jawaharlal Nehru đến Thủ tướng Momanhan Singh. Mỗi đời
Thủ tướng tương ứng một chương của cuốn sách trong đó tập trung vào phân tích
chính sách đối ngoại của họ, bắt đầu từ việc nhận thức của họ về tình hình quốc tế,
khu vực đến việc định hình chính sách và cách thức triển khai. Kết thúc mỗi chương
là sự đánh giá vai trò của các thủ tướng và chính sách của họ đối với sự phát triển của

Phần cuối của cuốn sách tác giả đề cập đến những thách thức trước mắt mà Ấn Độ
phải đối mặt trong đó có yếu tố Trung Quốc.
Học giả người Pháp Isabelle Saint-Mézard với ấn ph m “Eastward Bound:
India’s New Positioning in Asia” (2006) (Hướng về phía Đông: vị trí mới của Ấn
Độ ở châu Á) [118]. Trong cuốn sách này, tác giả phân tích Chính sách hướng
Đông một cách toàn diện, xâu chuỗi sự phát triển với những đặc trưng của nó trong
vòng hơn một thập kỷ rưỡi qua. Tác giả tập trung vào phân tích khía cạnh kinh tế chính trị của chính sách. Đồng thời, bà nhấn mạnh đến tính nhiều mặt của nó liên
quan đến ý thức hệ, văn hóa và khía cạnh an ninh. Nghiên cứu của bà cũng đề cập
đến phản ứng của các quốc gia và tổ chức khu vực ở Đông Á đối với chính sách này
của Ấn Độ. Công trình nghiên cứu khẳng định rằng Chính sách hướng Đông đem
lại sự gắn kết về chiến lược, thể chế, chính trị, kinh tế với Đông Á và rộng hơn là
khu vực châu Á. Cuối ấn ph m, tác giả khẳng định Chính sách hướng Đông trở
thành một hướng đối ngoại mới của Ấn Độ thời kỳ sau Chiến tranh lạnh.
Tiến sỹ David.A.Robinson, Viện nghiên cứu Future Directions International,
AustraliaFuture Directions International, Australia với bài nghiên cứu “India’s Rise
as a Great Power” (2011) (Ấn Độ - một cường quốc trỗi dậy) [94],. Đây là công trình
nghiên cứu về sự “trỗi dậy” của Ấn Độ về mặt kinh tế, những thay đổi về chính sách
đối ngoại trong mối tương quan cân bằng chiến lược với Mỹ, Trung Quốc, Nga và
triển vọng tương lai của Ấn Độ hướng tới trở thành cường quốc thế giới.
Ấn ph m “India’s rise as Asian power, Nation, Neighborhood and Region”
(2014) (Ấn Độ nổi lên như là một cường quốc châu Á, các vấn đề trong nước, láng
giềng và khu vực) [155] của tác giả Sandy A Gordon. Ông không đi sâu vào phân
tích sự trỗi dậy của Ấn Độ như thế nào mà tác giả phân tích những thách thức mà
Ấn Độ phải đối mặt cả trong nước cũng như trong khu vực trong quá trình trỗi dậy
như tình trạng khủng bố, bạo lực, tranh chấp biên giới, thiếu nước. Gordon nhấn


15
mạnh rằng Ấn Độ muốn khoác lên mình một tấm áo choàng của một cường quốc
khu vực và thế giới, Ấn Độ phải tìm cách cải thiện tình hình chính trị - an ninh của

quan đến phát triển kinh tế ở Ấn Độ và một số quốc gia đang phát triển khác.
“India foreign and security policy in South Asia: Regional power strategies”
(2012) (Chính sách đối ngoại và an ninh ở khu vực Nam Á: Chiến lược cường cuốc
khu vực) [156] của tác giả Sandra Destradi. Cuốn sách đã phân tích sâu sắc chính
sách đối ngoại của Ấn Độ đối với ba nước láng giềng phía đông là Sri Lanka, Nepal
và Bangladesh. Đặc biệt, ấn ph m đề cập đến vai trò của Ấn Độ trong những năm
cuối cùng của cuộc nội chiến ở Sri Lanka, tiến trình hòa bình và dân chủ hóa tại
Nepal; những đe dọa về an ninh từ phía Bangladesh... Cuối tác ph m, tác giả đã
đánh giá và đưa ra những bài học từ khu vực Nam Á này.
Năm 2014, khi Thủ tướng Modi lên nắm quyền đã có rất nhiều các bài nghiên
cứu của các chuyên gia trên thế giới về chính sách của nhà lãnh đạo mới này. Điển
hình là những công trình nghiên cứu sau: Bản báo cáo “The evolving domestic
drivers of India foreign policy” (2016) (Những nhân tố trong nước tác động đến
chính sách đối ngoại của Ấn Độ) [129] của hai giáo sư Jason Miklian (Trường Đại
học Na uy) và Atul Misha (Trường Đại học Jawaharlal Nehru) đề cập đến những
nhân tố trong nước tác động đến chính sách đối ngoại của Ấn Độ. Bài viết nhấn
mạnh về thắng lợi của ông Narendra Modi trong cuộc bầu cử năm 2014. Với thắng
lợi này, ông trở thành thủ tướng của Ấn Độ với một sự ủy thác lớn là định hình lại
chính sách đối ngoại của Ấn Độ. Các chuyên gia chính trị và nhân dân Ấn Độ trông
đợi những gì ông đã cam kết thực hiện trong lúc tuyển cử để đưa đất nước Ấn Độ
thoát khỏi những trì trệ trong nhiều năm dưới sự lãnh đạo của Đảng Quốc đại. Ấn
ph m không phân tích những chính sách đối ngoại của Thủ tướng Modi mà đi sâu
phân tích năm yếu tố trong nước tác động đến việc hoạch định chính sách đối ngoại
của Ấn Độ cũng như đưa ra năm thách thức quan trọng mà năm yếu tố này ảnh
hưởng đến khả năng thực hiện “tham vọng toàn cầu” của Ấn Độ.
Ấn ph m “India’s foreign policy toward East Asia and the neighborhood under
Modi: Implications for Europe” (2015) ( Chính sách đối ngoại của Ấn Độ hướng tới
Đông Á và các nước láng giềng: một vài gợi mở cho châu Âu) [93] của Tiến sỹ Daniel
Twining. Bài nghiên cứu phản ánh về chính phủ mới của Ấn Độ do Thủ tướng
Narenda Modi điều hành đang mang lại sức sống mới cho chính sách kinh tế và ngoại

Indonesia và các nước Cộng hòa Trung Á. Đây là một ấn ph m phân tích sâu về
chính sách đối ngoại của Ấn Độ - một cường quốc đang lên và so sánh những chiến
lược ngoại giao để làm sáng tỏ những thay đổi về bản chất của chính sách đối ngoại


18
và quá trình định hình nó trong tương lai.
Cuốn sách “Ấn Độ và Đông Nam Á: Hướng đến nền an ninh chung” (2015)
[56] của tác giả Sudhir Devare do Lê Thị Sinh Hiền và Phạm Thị Ngọc Hiếu dịch
sang tiếng Việt. Với 281 trang, tác ph m giới thiệu về tình hình an ninh - chính trị ở
Nam Á và Đông Nam Á; vấn đề hợp tác về an ninh chung cũng như những triển
vọng cho hợp tác biển, hội nhập kinh tế; yếu tố con người đóng vai trò quan trọng
trong việc hợp tác an ninh toàn diện; giải quyết vấn đề biên giới Myanmar như là
một vấn đề thiết yếu ảnh hưởng đến hợp tác an ninh của Ấn Độ với Đông Nam Á.
Cuốn “Ấn Độ sự trỗi dậy của một cường quốc” (2013) của nhóm tác giả Tarun
Das, Colette Mathur, Frank - Jurggen Richter [57]. Cuốn sách gồm 3 phần: Phần 1,
các tác giả nói về những thành tựu đáng kinh ngạc của nền kinh tế Ấn Độ thời gian
qua và từ đó thúc đ y các điều kiện xã hội của đất nước cũng phát triển. Phần 2, tác
giả đề cập đến 10 trụ cột của tăng trưởng bền vững để tạo nên một Ấn Độ hùng
mạnh. Phần 3, là cái nhìn về vi n cảnh tương lai đầy hứa hẹn của Ấn Độ. Theo các
tác giả, với điều kiện kinh tế bền vững, kết cấu dân số trẻ, tình hình chính trị ổn
định, vị thế của Ấn Độ trên trường quốc tế hiện nay, triển vọng phía trước của Ấn
Độ là hết sức khả quan. Viết về sự trỗi dậy của Ấn Độ còn có cuốn “Nghịch lý Ấn
Độ: Bất chấp thần thánh Ấn Độ trỗi dậy” (In spite of the Gods: The rise of Modern
India) của tác giả Edward Luce (2013) [17]. Với 362 trang, cuốn sách là một cái
nhìn sinh động, chiếu rọi vào những thế lực định hình của Ấn Độ khi nước này cố
cân bằng truyền thống ương ngạnh của quá khứ với một hiện tại hiện đại hóa thất
thường. Nhà báo Edward Luce đã thực hiện bản tường trình sắc nét với những ý
kiến và nhận định về Ấn Độ từ mọi ngóc ngách cuộc sống của một Ấn Độ chứa
đựng đầy mâu thuẫn. Ông miêu tả hai chính đảng của Ấn Độ thắng cử như thế nào,

những cống hiến của J. Nehru cho phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ.
- Nghiên cứu về độc lập dân tộc và những chính sách trên các lĩnh vực kinh tế,
chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng... mà Ấn Độ triển khai để củng cố và bảo
vệ độc lập dân tộc:
Cuốn chuyên khảo “Mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế ở
Việt Nam hiện nay” (2015) do Nguy n Hoàng Giáp, Nguy n Thị Quế, Mai Hoài
Anh đồng chủ biên. [30]. Ấn ph m cung cấp cho bạn đọc những luận giải về lý
luận, thực ti n của mối quan hệ giữa độc lập dân tộc, tự chủ và hội nhập quốc tế;



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status