LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC VẤN ĐỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO ĐỐI VỚI ĐẠO CAO ĐÀI Ở TÂY NINH HIỆN NAY - Pdf 61

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN PHÖC LỘC

VẤN ĐỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO ĐỐI VỚI
ĐẠO CAO ĐÀI Ở TÂY NINH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN PHÖC LỘC

VẤN ĐỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO ĐỐI VỚI
ĐẠO CAO ĐÀI Ở TÂY NINH HIỆN NAY

Ngành

: Chính trị học

Mã số

: 8.31.02.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. CHU VĂN TUẤN

Hà Nội, tháng 3 năm 2019
Học viên

Phan Phúc Lộc


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 1
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẠO CAO ĐÀI VÀ CÔNG TÁC QUẢN

LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TÔN GIÁO Ở TÂY NINH HIỆN NAY……………………..8
1.1. Khái quát về đạo Cao Đài trên địa bàn tỉnh Tây Ninh ................................................ 8
1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của đạo Cao Đài .............................................. 8
1.1.2. Hệ thống giáo lý, giáo luật, giáo lễ của đạo Cao Đài ...........................................15
1.1.3. Thực trạng đạo Cao Đài ở Tây Ninh hiện nay .......................................................24
1.2. Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở Tây Ninh hiện nay ..................................28
1.2.1. Tổ chức bộ máy ........................................................................................................28
1.2.2. Ưu điểm, hạn chế .....................................................................................................31
Tiểu kết chương 1 ...............................................................................................................36
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO ĐỐI VỚI
ĐẠO CAO ĐÀI Ở TÂY NINH HIỆN NAY ................................................................37
2.1. Khái quát chính sách tôn giáo đối với đạo Cao Đài ở Việt Nam hiện nay. .............37
2.2. Thành tựu và hạn chế của việc thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Cao Đài ở
tỉnh Tây Ninh hiện nay ….. ...............................................................................................41
2.2.1. Khái quát việc thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Cao Đài ở Tây Ninh
hiện nay ...............................................................................................................................41
2.2.2. Một số thành tựu, hạn chế .......................................................................................49
2.3. Những yếu tố tác động đến thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Cao Đài ở
Tây Ninh .............................................................................................................................51
2.3.1. Yếu tố chính sách, pháp luật do Đảng và Nhà nước đề ra ....................................51

3.3.3 . Tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh kịp thời giải quyết những vấn đề
cấp bách về mặt tổ chức, nhân sự và cơ sở vật chất của đạo Cao Đài đồng thời đẩy
mạnh phát triển kinh tế, xã hội nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho quần
chúng tín đồ, nhất là ở vùng sâu vùng xa .........................................................................70
Tiểu kết Chương 3 ..............................................................................................................76
KẾT LUẬN .......................................................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ANQG : An ninh quốc gia
ANTT : An ninh, trật tự
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
CBCC: Cán bộ công chức
LLAN : Lực lượng An ninh
LLCA : Lực lượng Công an
MTTQ : Mặt trận Tổ quốc
QLNN : Quản lý nhà nước
QLNV : Quản lý nghiệp vụ
UBND : Ủy ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội mà còn là một thực thể xã hội,
ra đời và phát triển hàng ngàn năm nay và sẽ tồn tại lâu dài cùng với loài người. Trong
quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị,
văn hoá, xã hội, đến tâm lý, đạo đức, lối sống, tập quán của nhiều dân tộc, quốc gia.

Cao Đài Tây Ninh có khoảng 557.827 tín đồ trên toàn tỉnh [8, tr.2], tình hình tôn giáo
trong tỉnh khá phức tạp, công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở Tây Ninh đã được các
cấp, các ngành quan tâm và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Song, bên cạnh
đó vẫn còn những tồn tại, hạn chế.
Từ lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Vấn đề thực hiện chính sách tôn giáo đối
với đạo Cao Đài ở Tây Ninh hiện nay’’ để làm đề tài Luận văn cao học chuyên ngành
Chính trị học. Thông qua việc phân tích thực trạng tình hình tôn giáo, công tác quản lý
nhà nước về tôn giáo đối với đạo Cao Đài ở tỉnh Tây Ninh, nhằm đánh giá, phân tích
những thành tựu và bất cập của chính sách tôn giáo hiện nay, từ đó đề xuất những giải
pháp, kiến nghị, góp phần hoàn thiện lý luận, đổi mới chính sách tôn giáo, khơi dậy và
phát huy các giá trị tích cực của đạo Cao Đài Tây Ninh, nhằm thực hiện tốt công tác
quản lý nhà nước về tôn giáo, góp phần ổn định an ninh, chính trị và phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Tây Ninh hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Các công trình về việc ban hành chính sách tôn giáo ở Việt Nam
Chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta được khẳng định trong phiên họp
đầu tiên của Chính phủ ngày 03/9/1945, với tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Tín
ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết". Sau đó, Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp sửa
đổi năm 1959, Sắc lệnh 234/SL năm 1955 của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều khẳng định,
tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân. Các chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà
nước ở các giai đoạn tiếp theo đã động viên và tập hợp tín đồ, chức sắc tôn giáo trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Đường lối đó đã chứng minh tính đúng đắn
trong thực tiễn góp phần đem lại thành công cho cách mạng Việt Nam hơn 7 thập kỷ
qua. Trước đây các triều đại phong kiến Việt Nam đều có chính sách đối với tôn giáo
và thiết lập mối quan hệ với tôn giáo, lịch sử đã để lại những bài học kinh nghiệm quý
2


báu cho chúng ta ngày hôm nay. Năm 1986, đất nước ta bước vào đổi mới toàn diện
trên các mặt của đời sống kinh tế, xã hội. Nhưng nói đến tôn giáo, phải đến năm 1990,
Đảng, Nhà nước ta mới có sự thay đổi, với nhận thức mới, quan điểm chủ trương mới

Phan Đức Dư (1998), Những giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo an ninh quốc gia
đối với Cao Đài Tây Ninh trong tình hình mới, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học an
ninh nhân dân, Hà Nội. Luận văn nghiên cứu những vấn đề phức tạp, có liên quan đến
an ninh quốc gia của đạo Cao Đài Tây Ninh, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm đảm
bảo an ninh quốc gia đối với đạo Cao Đài Tây Ninh trong tình hình mới.
Trần Xuân Thanh (1998), Đạo Cao Đài Tây Ninh – Thực trạng và giải pháp
nhằm đảm bảo an ninh quốc gia, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học an ninh nhân dân,
Hà Nội. Luận văn nghiên cứu những vấn đề phức tạp của đạo Cao Đài Tây Ninh như:
Lịch sử chống phá cách mạng, hoạt động đòi phục hồi tổ chức Hội thánh như trước
năm 1945, hoạt động lợi dụng đạo Cao Đài của các thế lực thù địch, vấn đề Cao Đài ly
khai…từ đó đưa ra những giải pháp nhằm đảm bảo an ninh quốc gia trong tình hình
mới.
Nguyễn Triều Phong (2013), Xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật trong đấu
tranh chống hoạt động lợi dụng đạo Cao Đài ở địa bàn tỉnh Tây Ninh, Luận văn thạc
sĩ, Học viện an ninh nhân dân. Luận văn nghiên cứu về công tác xây dựng và sử dụng
mạng lưới bí mật của lực lượng an ninh trong đấu tranh chống hoạt động lợi dụng đạo
Cao Đài Tây Ninh, qua đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác
này trong tình hình mới.
Tô Thành Chung (2014), Công tác quản lý nghiệp vụ hệ đối tượng Cao Đài trên
địa bàn tỉnh Tây Ninh, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học an ninh nhân dân. Luận văn
tập trung nghiên cứu và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý
nghiệp vụ của lực lượng an ninh Công an tỉnh Tây Ninh đối với đối tượng thuộc diện
quản lý nghiệp vụ trong đạo Cao Đài trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.
Những đề tài nêu trên chủ yếu nghiên cứu về công tác đấu tranh chống địch lợi
dụng đạo Cao Đài Tây Ninh xâm phạm an ninh quốc gia, hoặc một mặt công tác
nghiệp vụ của lực lượng công an đối với đạo Cao Đài như mạng lưới bí mật, quản lý
nghiệp vụ. Qua nghiên cứu cho thấy đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về
“Vấn đề thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Cao Đài ở Tây Ninh hiện nay”.

4

quản lý.
5


5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, Luận văn sử dụng các phương pháp như:
phân tích, tổng hợp, khảo sát thực tế, thống kê, mô tả, so sánh.
6. Ý nghĩa của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu về chính sách tôn giáo và công tác quản lý
Nhà nước về tôn giáo trên địa bàn tỉnh Tây Ninh hiện nay, do vậy, luận văn góp phần
nêu lên được bức tranh tổng thể về hoạt động của đạo Cao Đài Tây Ninh, quy định của
pháp luật với hoạt động của các tổ chức tôn giáo như: Pháp lệnh, Luật, Nghị định và
các văn bản pháp luật liên quan khác, phân tích được những thành tựu, hạn chế và bài
học kinh nghiệm trong việc ban hành và thực thi chính sách tôn giáo nhìn từ phía chính
quyền địa phương và từ phía Giáo hội. Luận văn đã đưa ra các khái niệm, quan điểm
chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và của Tỉnh Uỷ Tây Ninh về việc xây dựng và thực thi
chính sách tôn giáo đối với đạo Cao Đài ở Tây Ninh hiện nay, mối quan hệ giữa Đảng,
Nhà nước và Giáo hội, quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo ở tỉnh Tây Ninh trong
xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và thời kỳ mở cửa hiện nay từ đó đề xuất một số giải
pháp trước mắt và lâu dài cho việc xây dựng và thực thi chính sách tôn giáo.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn phân tích và làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân đạt
được trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách tôn giáo ở Tây Ninh, nghiên cứu
tổng quan về đạo Cao Đài trên địa bàn Tây Ninh và những vấn đề lý luận của công tác
quản lý Nhà nước về tôn giáo đối với hoạt động của đạo Cao Đài. Dự báo tình hình có
liên quan đến công tác quản lý Nhà nước, qua đó đưa ra, đề xuất và luận giải những
giải pháp để hoàn thiện chính sách tôn giáo riêng cho đạo Cao Đài và có một số kiến
nghị để thực hiện có hiệu quả chính sách tôn giáo ở Tây Ninh trong thời gian tới. Đề
tài: "Vấn đề thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Cao Đài ở Tây Ninh hiện

chức sắc, 60 chức việc, 06 cơ sở thờ tự (Thánh thất) và Pháp môn Cao Đài Chiếu minh
Tam thanh vô vi (đây là phái tu chơn) có 02 cơ sở Nhà Đàn, với khoảng 485 tín đồ.
Nguồn gốc ra đời, quá trình hình thành và phát triển của đạo Cao Đài trên địa
bàn tỉnh Tây Ninh
+ Nguồn gốc ra đời
Theo Hiến chương Đại đạo Tam kỳ phổ độ, Tòa Thánh Tây Ninh, năm Đinh
Hợi – 2007 “Đạo Cao Đài là một tôn giáo độc thần”, có tính dung hợp, được chính
thức thành lập ở Việt Nam vào năm 1926, tên đầy đủ là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Danh từ "Cao Đài" theo nghĩa đen chỉ "một nơi cao". Theo nghĩa bóng, được hiểu là
nơi cao nhất ở đó Thượng Đế ngự trị; cũng là tên viết tắt dành cho Thượng Đế, người
sáng lập ra toàn vũ trụ, có danh xưng đầy đủ là "Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha
Tát". Tín đồ Cao Đài tin rằng Thượng Đế là Đấng sáng lập ra các tôn giáo và cả vũ trụ .
Họ tin rằng tất cả giáo lý, hệ thống biểu tượng và tổ chức đều được "Đức Cao Đài" trực
tiếp chỉ định. Ngay cả việc xây dựng Toà Thánh Tây Ninh cũng có sự dẫn dắt của
"Đấng Thiêng Liêng" [21, tr.5].
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp tăng cường khai thác thuộc
địa Đông Dương để hàn gắn vết thương chiến tranh ở chính quốc bằng nhiều chính
sách kinh tế hà khắc. Trong đó chính sách cướp ruộng đất để lập đồn điền và tăng thuế
đã làm cho người nông dân Nam bộ bị bần cùng hoá, đời sống lầm than khổ cực. Giới
công chức, tư sản, địa chủ, thầy giáo, thầy tu bị chế độ thuộc địa chèn ép bế tắc trong
cuộc sống nên họ đã tìm đến thú chơi "xây bàn" theo kiểu thông linh học của người
phương Tây hoặc cầu cơ chấp bút theo truyền thống của người Việt. Trong thời gian
này ở Nam bộ liên tiếp xuất hiện nhiều phong trào đấu tranh chống Pháp. Từ các cuộc
9


khởi nghĩa vũ trang đến phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ, từ các tổ chức hội
kín chống Pháp như Thiên địa hội của Phan Xích Long đến các tổ chức đảng phái
chính trị được thành lập công khai như Công hội năm 1921, Đảng Lập hiến năm 1923,
Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội 1926. Tuy nhiên tất cả các cuộc khởi nghĩa, các

Ngày 23/8/Bính Dần (29/9/1926), một số vị chức sắc đứng đầu các đàn cơ và
tín đồ đã họp mặt tại nhà ông Nguyễn Văn Tường (phường Cầu Kho, quận 1 Sài Gòn)
thống nhất kí tên vào tờ khai đạo gửi chính quyền Pháp (gồm 28 vị kí tên đại diện cho
247 chức sắc tín đồ có mặt hôm đó). Đến ngày 15/10/1926(AL) những chức sắc thiên
phong đầu tiên của đạo Cao Đài đã tổ chức lễ khai đạo tại chùa Gò Kén tỉnh Tây Ninh
chính thức cho ra mắt đạo Cao Đài, với sự hiện diện của một số quan chức người Pháp
và người Việt. Sau khi hợp nhất hai nhóm cơ bút Chiêu - Kỳ và Cư - Tắc - Sang vào
đầu năm 1926, ông Chiêu đã từ chối nhận phẩm vị Giáo tông thiên phong mà hợp tác
cùng các ông Võ Văn Sang, Nguyễn Văn Hoài và Lý Trọng Quí chủ trương hành đạo
theo hướng "Nội giáo tâm truyền”. Nhóm này chỉ thu nhận những người có căn duyên
tốt làm đệ tử, tổ chức nhiều nhà đàn, nhà tịnh và sau này hình thành phái Chiếu Minh.
Nhóm Cư - Tắc - Sang chủ trương hành đạo theo hướng phổ độ hay gọi là
“Ngoại giáo công truyền”, nhằm truyền bá đạo đến tất cả chúng sinh. Vì vậy, nhóm này
đẩy mạnh các hoạt động truyền giáo thông qua việc lập các đàn cơ, tuyên truyền phổ
biến các bài cơ và thu nhận những người có vị trí xã hội như công chức, tư sản, địa chủ,
quan chức, nghiệp chủ, trí thức nhằm mở rộng và phát triển lực lượng. Đến giữa năm
1926, đạo Cao đài đã thu hút được khoảng 10 ngàn người trong đó có đến 200 người là
trí thức, địa chủ, tư sản, công chức.
Sau ngày khai đạo, những chức sắc lãnh đạo Giáo hội Cao Đài tiến hành xây
dựng Toà thánh, phát triển các Thánh thất, điện thờ, xây dựng giáo lí, giáo luật, lễ nghi
và tổ chức Giáo hội. Trong hai năm 1926 - 1927, thông qua cơ bút đạo Cao Đài đã tập
trung xây dựng xong hai văn bản quan trọng qui định luật lệ, lễ nghi và tổ chức Giáo
hội là Pháp Chánh truyền và Tân luật. Vì vậy, đến năm 1930 hoạt động tại Toà thánh
dần dần được củng cố và đi vào nề nếp, những chức sắc thường trực đã thực hiện theo
đúng chức năng nhiệm vụ, các cơ sở đạo phát triển, tổ chức Giáo hội hình thành từ
Trung ương đến cơ sở theo 5 cấp hành chính đạo.
Từ 1931 đến 1934, mâu thuẫn giữa một số chức sắc Hiệp Thiên đài và Cửu
Trùng đài ngày càng nặng nề, tình hình nội bộ Giáo hội mất đoàn kết ngày càng tăng,
một số chức sắc cao cấp bất đồng với Toà thánh đã tự hoạt động theo ý riêng, tiến hành
12


13


Văn Phẩm, Bạch Hùng, Hồ Thái Bạch đứng đầu đã bị chính quyền xử lý bằng pháp
luật.
Vì những lý do nói trên, hầu hết bộ máy hành chính đạo của các chi phái Cao
Đài có lực lượng tín đồ, chức sắc đông, hoạt động trong phạm vi rộng đều tuyên bố giải
tán về tổ chức như Cao Đài Tây Ninh với Đạo lệnh 01/ĐL-CĐ, ngày 01 tháng 03 năm
1979 của Tòa thánh Tây Ninh giải tán hệ thống hành chính đạo, Cao Đài Ban Chỉnh
đạo với Châu tri số 901/CT-HT, ngày 15 tháng 08 năm 1985 cũng giải tán bộ máy tổ
chức, Cao Đài Tiên Thiên với Châu tri số 03/CT-HT ngày 25 tháng 08 năm 1987 giải
tán Hội thánh Cao Đài Tiên Thiên. Một số chi phái khác tuy không tuyên bố giải tán bộ
máy hành chính đạo nhưng hoạt động cầm chừng, giảm hiệu lực chỉ đạo cấp trên, cấp
dưới. Một số chi phái nhỏ mới hình thành trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ tự tan rã
hoặc nhập trở lại với các chi phái cũ để tồn tại.
Từ năm 1995 đến 2010 Nhà nước đã công nhận về tổ chức tôn giáo đối với 10
Hội thánh, một Pháp môn tu hành và 21 tổ chức Cao Đài hoạt động độc lập trong phạm
vi một tỉnh, thành phố. Sau khi được công nhận về tổ chức tôn giáo, các hệ phái Cao
Đài đã tích cực xây dựng, củng cố tổ chức giáo hội mới, theo mô hình 2 cấp (cấp Trung
ương là Hội thánh; cấp xã, phường là Họ đạo), xây dựng Hiến chương và đường hướng
hành đạo gắn bó với dân tộc, kế thừa truyền thống của đạo, phù hợp với tình hình đất
nước. Việc thực hiện tổ chức giáo hội 2 cấp, không cơ bút được đông đảo chức sắc, tín
đồ đạo Cao Đài đồng tình ủng hộ, bộ máy hành chính đạo gọn nhẹ, hoạt động dễ dàng
và phù hợp với truyền thống của một số phái Cao Đài như Ban Chỉnh đạo, Minh Chơn
đạo, Chơn lý. Các hoạt động tôn giáo liên quan đến “cơ bút” được thay thế bằng những
hình thức phù hợp như suy cử, bầu cử, công cử, xây dựng Hiến chương và đường
hướng hành đạo qua các kỳ Đại hội. Những vấn đề quan trọng của đạo được tập thể
chức sắc lãnh đạo Hội thánh (Ban Thường trực, Hội đồng Chưởng quản, Thường trực
Hội thánh) xem xét quyết định thông qua hoạt động của ba hội (Thượng hội, Hội thánh,

đối. Gọi là nguyên lí vận hành châu lưu vũ trụ “nhất bản tán vạn thù, vạn thù qui nhất
bản” [21, tr.9 ]. Một bản thể Thái cực sinh ra vạn loài rồi từ vạn loài qui về Thái cực .
Tóm lại vũ trụ quan Cao Đài nêu lên các nguyên lý nhất nguyên, nhất thể và hoàn
nguyên cho thấy sự vận hành của Đạo từ hư vô sinh ra vạn vật hữu hình rồi vạn vật hữu
hình tiến hoá trở về hiệp cùng khối Đại linh quang toàn trí, toàn năng, là Thái cực.
15


Nhân sinh quan Cao Đài quan niệm con người là tiểu vũ trụ có cùng bản thể với đại vũ
trụ được sinh thành bởi cùng một nguyên nhân đầu tiên của toàn vũ trụ. Đó là Thái cực
[21, tr.12].
Thái cực sinh ra vạn vật và con người. Mỗi người được ban cho một điểm Tiểu
Linh quang có cùng bản tính, bản chất với Đại Linh quang. Giáo lý Cao Đài quan niệm
Trời và người có cùng bản thể, vì vậy Thượng Đế dạy: “Thầy là các con, các con là
Thầy”. Trong quá trình tiến hoá của vũ trụ thì vạn vật tiến hoá dần dần đến loài người
mới có đủ tam hồn là sinh hồn, giác hồn và linh hồn để tu luyện giải thoát.
Như vậy, con người có phần hồn và phần xác, Thượng Đế ban cho mỗi người
một Điểm Linh quang (gọi là Linh hồn) mượn xác phàm để xuống thế gian rèn luyện,
thử thách. Đạo Cao Đài quan niệm “thế gian là một trường thi công quả” và là nơi để
lập công bồi đức, để không ngừng tiến hoá theo 5 bậc: Nhân, Thần, Thánh, Tiên, Phật,
để đi đến sự hoà hợp với vũ trụ.
Khi con người chết đi thì linh hồn vẫn tồn tại và tiếp tục luân hồi để sống vào
kiếp khác, con người tiến hoá là do linh hồn tiến hoá. Vì vậy nếu tu luyện tốt, có nhiều
công đức tại thế sẽ được về cõi Bạch Ngọc kinh (Thiên đàng), nếu có nhiều tội lỗi thì
vướng mãi trong kiếp luân hồi sinh tử . Tuy vậy, đạo Cao Đài đưa ra khái niệm Đại ân
xá Kỳ ba, nghĩa là người có tâm cầu đạo dù chưa đắc quả tại thế, sau khi chết sẽ được
ân xá tiếp tục tu luyện ở cõi vô hình cho đến khi đắc vị, khỏi luân hồi. Như vậy, đạo
Cao Đài quan niệm Thượng Đế mở ra con đường cho nhân loại trở về với Thượng Đế.
Tôn chỉ của đạo Cao Đài là: “Tam giáo qui nguyên, Ngũ chi hiệp nhất” nhằm mục đích
phục hưng chân truyền, đây là đường lối căn bản cho nhơn sanh tu hành [22, tr.8]. Tam

đại lễ, có màu sắc theo phái (Thái màu vàng - Thượng màu xanh - Ngọc màu đỏ), đầu
đội mũ Bát quái tuỳ theo phẩm trật. Tiểu phục cũng may như đại phục nhưng đầu đội
khăn đóng có 9 lớp.
Từ phẩm Giáo hữu, Lễ sanh, Chánh Trị sự, Phó Trị sự và Thông sự chỉ dùng 1
bộ áo màu trắng đội khăn đóng đen. Riêng Giáo hữu và Lễ sanh đội mũ trong những
ngày đại lễ. Tín đồ mặc áo trắng, đội khăn đóng đen.
+ Quyền hành chức sắc Nữ phái từ phẩm Đầu sư xuống đến Lễ sanh và chức
việc. Tuy nhiên, Nữ phái phải theo Nam phái mà hành đạo.
17


Về đạo phục Nữ phái mặc áo trắng và đội mũ theo phẩm trật.
Về tên gọi chức sắc, đạo Cao Đài qui định trong đời Giáo tông thứ nhất Thánh
danh chức sắc Cửu trùng đài nam phái lấy chữ Thanh, nữ phái lấy chữ Hương.
Pháp chánh truyền Hiệp Thiên đài gồm các nội dung về vị trí, chức năng, nhiệm
vụ và đạo phục chức sắc Hiệp Thiên đài được quy định từ phẩm Hộ pháp, Thượng
phẩm, Thượng sanh, Thập nhị Thời quân gồm 12 vị chức sắc chia thành 3 chi:
- Chi Pháp có Bảo pháp, Hiến pháp, Khai pháp, Tiếp pháp;
- Chi Đạo có Bảo đạo, Hiến đạo, Khai đạo, Tiếp đạo;
- Chi Thế có Bảo thế, Hiến thế, Khai thế, Tiếp thế;
và các chức sắc Tiếp dẫn đạo nhân, Bảo văn pháp quân, Bảo sanh quân.
Tân luật
Là luật của đạo Cao Đài do Hội Thánh lập ra (năm 1927) rồi thông qua bằng
hình thức cơ bút. Tân luật gồm có ba phần :
Phần đạo pháp qui định như sau:
- Tổ chức hàng giáo phẩm Cửu Trùng đài gồm 9 phẩm: Giáo tông, Chưởng
pháp, Đầu sư, Phối sư, Giáo sư, Giáo hữu, Lễ sanh, chức việc, tín đồ và cách thăng
phẩm trật từ phẩm Lễ sanh đến Chưởng pháp phải được chức sắc cùng phẩm công cử,
(gọi là luật công cử), riêng phẩm Giáo tông phải do toàn thể tín đồ công cử.
- Quan hệ giữa Hội thánh và nhân sanh nêu ra những quy định về người nhập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status