BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ
HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KIỂM TOÁN
BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH ERNST & YOUNG
VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh
NGUYỄN THỊ NGỌC HƯƠNG
Hà Nội – Năm 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ
HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KIỂM TOÁN
BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH ERNST & YOUNG
VIỆT NAM
Ngành: Kinh doanh
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 83.40.101
Họ và tên: Nguyễn Thị Ngọc Hương
Người hướng dẫn Khoa học: PGS,TS. Trần Thị Kim Anh
MỞ ĐẦU................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG DỊCH
VỤ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH...............................................................9
1.1 Khái quát về chất lượng dịch vụ kiểm toán BCTC..............................................9
1.1.1 Khái niệm, ý nghĩa và tầm quan trọng của chất lượng dịch vụ kiểm toán
BCTC........................................................................................................................ 9
1.1.2 Các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng dịch vụ kiểm toán BCTC........................11
1.1.3 Nhân tố tác động đến chất lượng dịch vụ kiểm toán BCTC...........................20
1.2 Khái quát về kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán BCTC...........................23
1.2.1 Khái niệm về kiểm soát chất lượng và kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm
toán BCTC...............................................................................................................23
1.2.2 Vai trò kiểm soát chất lượng dịch vụ trong kiểm toán BCTC........................25
1.2.3 Kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán.............25
1.2.4 Các tiêu chí đánh giá kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán BCTC............26
1.3 Kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán BCTC trong các công ty kiểm toán
độc lập.....................................................................................................................27
1.3.1 Kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán cho toàn bộ Công ty kiểm toán......27
1.3.2 Quy trình kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán đối với từng cuộc kiểm
toán.......................................................................................................................... 30
Tiểu kết chương 1....................................................................................................33
3
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KIỂM
TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH ERNST & YOUNG
VIỆT NAM.............................................................................................................. 34
2.1 Khái quát về Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam....................................34
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Ernst & Young toàn cầu...........34
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty TNHH Ernst & Young Việt
3.2 Yêu cầu và nguyên tắc hoàn thiện.....................................................................98
3.2.1 Yêu cầu hoàn thiện.........................................................................................98
3.2.2 Nguyên tắc hoàn thiện....................................................................................98
3.3 Giải pháp hoàn thiện kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán báo cáo tài
chính tại Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam.................................................99
3.3.1 Đối với phạm vi toàn công ty..........................................................................99
3.3.2 Đối với từng cuộc kiểm toán.........................................................................102
3.4 Điều kiện thực hiện các giải pháp...................................................................106
Tiểu kết chương 3..................................................................................................108
KẾT LUẬN...........................................................................................................109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................110
PHỤ LỤC 1...........................................................................................................114
BIỂU XÁC NHẬN VỀ TÍNH ĐỘC LẬP..............................................................114
PHỤ LỤC 2: XÁC ĐỊNH MỨC TRỌNG YẾU.....................................................116
PHỤ LỤC 3: CÁC MẪU FORM BIỂU CẦN THỰC HIỆN TRƯỚC KHI
PHÁT HÀNH........................................................................................................117
PHỤ LỤC 4: BẢNG ĐÁNH GIÁ CHẤP NHẬN HOẶC DUY TRÌ KHÁCH
HÀNG CHO CÔNG TY NIÊM YẾT A TẠI ERNST & YOUNG VIỆT NAM
............................................................................................................................... 126
PHỤ LỤC 5: BIỂU SOÁT XÉT CÁC THỦ TỤC THỰC HIỆN XÁC NHẬN
TÍNH ĐỘC LẬP CỦA THÀNH VIÊN NHÓM KIỂM TOÁN VÀ KHÁCH
HÀNG ĐƯỢC KIỂM TOÁN THEO FORM 101GL(R)- GLOBAL ANNUAL
INDEPENDENCE.131
PHỤ LỤC 6: BIỂU XÁC NHẬN TÍNH ĐỘC LẬP CỦA THÀNH VIÊN
NHÓM KIỂM TOÁN VÀ KHÁCH HÀNG ĐƯỢC KIỂM TOÁN THEO
5
FORM APAC INDEPENDENCE TEAM CONFIRMATION SUMMARY –
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Ngọc Hương
vii
DANH MỤC KÝ HIỆU, VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Tiếng Việt
BCTC
Báo cáo tài chính
CLKT
Chất lượng kiểm toán
CMKiT
Chuẩn mực kiểm toán
CPAVN
Cộng đồng kiểm toán Việt Nam
Hình 2.6 Lập kế hoạch kiểm toán và đánh giá rủi ro tại Ernst &
Young Việt Nam
Hình 2.7 Tiến hành các thủ tục kiểm toán
Hình 2.8 Cách đánh tham chiếu trên giấy tờ làm việc của KTV
Hình 2.9 Kiểm soát trong giai đoạn thực hiện kiểm toán
Hình 2.10 Soát xét thực hiện thủ tục xác nhận tính độc lập trên nền
tảng EY Canvas tại Công ty A
Hình 2.11 Soát xét thực hiện thủ tục tìm hiểu về đơn vị được kiểm
toán
Hình 2.12 Soát xét thực hiện thủ tục đánh giá rủi ro tại Công ty A
Hình 2.13 Soát xét thực lập kế hoạch chiến lược và kế hoạch kiểm
toán tại Công ty A
TRANG
36
38
41
Hình 2.14 Soát xét trong giai đoạn thực hiện kiểm toán tại Công ty
A
Hình 2.15 Soát xét trong giai đoạn kết thúc kiểm toán tại Công ty A
Hình 2.16 Soát xét trong giai đoạn kết thúc kiểm toán tại Công ty A
Hình 2.17 Kiểm soát trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán tại
Công ty B
Hình 2.18 Kiểm soát trong giai đoạn thực hiện kiểm toán tại Công
ty B
Hình 2.19 Kiếm soát trong giai đoạn kết thúc kiểm toán tại Công ty
B
Hình 2.20 Top 10 công ty kiểm toán có doanh thu lớn nhất năm
2017 (nguồn cpa.vn)
những vấn đề sau:
- Hệ thống hoá những lý luận chung về chất lượng kiểm toán báo cáo tài
chính, kiểm soát chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính.
- Tìm hiểu thực trạng kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán báo cáo tài
chính tại Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam. Từ đó phân tích ưu, nhược
điểm, hạn chế, chỉ rõ những hạn chế trong kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán
BCTC tại Ernst & Young Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện kiểm soát chất lượng dịch vụ
kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty.
Luận văn sẽ có đóng góp nhất định cho việc hoàn thiện kiểm soát chất lượng
dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính cho Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam
như sau:
- Đánh giá được thực trạng chất lượng cung ứng dịch vụ tại Công ty.
-
Tìm ra các giải pháp hoàn thiện, khắc phục những tồn tại, hạn chế trong
hoạt động kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính, từ đó
hoàn thiện kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính để đáp
ứng được nhu cầu khách hàng tốt hơn.
1
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Báo cáo tài chính là một nguồn thông tin vô cùng quan trọng cung cấp thông
tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh
nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lý của chủ doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước và nhu
cầu hữu ích của những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Hiện
nay, với xu thế mở cửa thị trường, phát triển kinh tế mạnh mẽ, thì việc huy động
hơn
2.000
người
có
chứng
chỉ
Kiểm
toán
viên
hành
nghề
( Thị trường kiểm toán ngày càng mở rộng, có nhiều
bước tiến lớn, nhưng trên con đường song hành cùng sự minh bạch của nền kinh tế,
đòi hỏi phải nâng cao chất lượng hoạt động của khối doanh nghiệp này. Muốn nâng
cao chất lượng, cần tiến hành kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán. Nhận thức
được tầm quan trọng của viêc kiểm soát chất lượng kiểm toán, từ năm 1998, Bộ Tài
chính đã tổ chức các cuộc kiểm tra về chất lượng cung cấp dịch vụ báo cáo tài chính
đối với công ty kiểm toán, nhưng việc kiểm tra chỉ thực hiện trên một số Công ty và
chủ yếu là thực hiện với các Công ty có quy mô nhỏ trên thị trường do hạn chế
cứu về chất lượng kiểm toán. Theo hướng nghiên cứu đo lường chất lượng đầu ra,
theo DeFond và Zhang (2014), một phần trong số các trường hợp báo cáo tài chính
trình bày lại và Bản án thi hành kế toán kiểm toán (sau đây gọi tắt là AAER Accounting and Auditing Enforcement Realease) xác định là có gian lận quản lý, đó
là bằng chứng cho chất lượng kiểm toán kém, bởi vì người sử dụng và các nhà điều
hành pháp luật cho rằng phát hiện gian lận là trách nhiệm của các kiểm toán viên.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra hai hạn chế của phương pháp đo lường này.
Thứ nhất, các trường hợp báo cáo tài chính trình bày lại và AAER tương đối hiếm
vì vậy làm giảm ý nghĩa thống kê của kết quả nghiên cứu và thiếu tính thực tế do cỡ
mẫu quá nhỏ. Theo như kết quả kiểm tra 436 AAER đầu tiên (1982 -1993) của
Dechow và cộng sự (1996) cho thấy, trong khoảng 12 năm có 165 trường hợp mô tả
kiểm toán viên thiếu chất lượng, như vậy bình quân mỗi năm chỉ có 14 trường hợp.
Hay kết quả điều tra 1.485 AAER trong giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2003 của
Francis (2004) kết luận đa số các AAER không hướng về kiểm toán viên. Hạn chế
thứ 2, khi không xảy ra trường hợp báo cáo tài chính trình bày lại hay các AAER,
thì không có nghĩa là cuộc kiểm toán đó có chất lượng cao. Theo DeFond và Zhang
(2014), một cuộc kiểm toán chất lượng thấp vẫn có thể ngăn chặn được những lỗi
đã bị phát hiện trong các trường hợp báo cáo tài chính trình bày lại hay AAER,
nhưng không ngăn chặn được những sai phạm về các nguyên tắc kế toán (GAAP)
4
về hành vi chi phối thu nhập. Về phương pháp đo lường chất lượng kiểm toán qua
chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính, các nghiên cứu của Magee và Tseng (1990);
Antle và Nalebuff (1991) cho rằng chất lượng báo cáo tài chính (đã được kiểm toán)
là một thành phần của chất lượng kiểm toán, giả thuyết này dựa trên quan sát thực
tế báo cáo tài chính là sản phẩm chung của nhà quản lý và kiểm toán viên. Vì vậy,
mối liên hệ giữa chất lượng kiểm toán và chất lượng báo cáo tài chính là chặt chẽ và
trực quan. Khi mà chất lượng kiểm toán được xem là một sự đảm bảo cao hơn tính
trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính, thì đo lường chất lượng báo cáo tài chính
cung cấp bằng cách trở thành Big N, hay là chuyên gia trong ngắn hạn. Ngược lại,
khách hàng kiểm toán có thể cải thiện chất lượng kiểm toán mà họ nhận được, bằng
cách chọn một Big N hay kiểm toán viên có tính chuyên môn hóa để kiểm toán cho
mình. Về phí kiểm toán, rất nhiều các nghiên cứu có cùng quan điểm cho rằng, một
mức phí kiểm toán cao có thể làm tăng nỗ lực áp dụng các kỹ thuật chất lượng của
kiểm toán viên, tăng khả năng sử dụng các kiểm toán viên có chất lượng cao và như
vậy làm cho CLKT tăng lên (như nghiên cứu của DeAngelo 1981; Simunic, 1984;
Francis, 1984; Palmrose, 1986; Francis và Stokes, 1986; Francis và Simon, 1987;
Chaney và cộng sự, 2004).
Có thể thấy, các nghiên cứu theo hướng đo lường chất lượng kiểm toán rất đa
dạng, chúng cho thấy các nhà nghiên cứu đã nỗ lực tìm kiếm các cách thức để đo
lường chất lượng kiểm toán và đạt được những kết quả nhất định.
2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Về phương pháp tiếp cận, Nguyễn Thị Mỹ (2012), Đoàn Thanh Nga (2016),
Đinh Thị Thu Hà (2016) đã thực hiện nghiên cứu khái quát trên phương diện kiểm
toán BCTC.
Ngoài ra, một số nhà khoa học nghiên cứu khái quát trong qua quá trình nghiên cứu
về kiểm toán BCTC như Vương Đình Huệ và Đoàn Xuân Tiên (1997), Nguyễn Thị
Mỹ (2012), Đoàn Thanh Nga (2016).
Về kiểm soát chất lượng kiểm toán từng cuộc kiểm toán của Nguyễn Thị Mỹ
(2012) cho rằng kiểm soát chất lượng kiểm toán thực sự tốt khi cuộc kiểm toán
được kiểm soát ngay khi cuộc kiểm toán bắt đầu và duy trì trong suốt cuộc kiểm
toán để đảm bảo ngăn chặn kịp thời các loại rủi ro. Tuy nhiên, các công trình này
các nhà nghiên cứu cũng mới chỉ dừng lại việc khái quát nội dung kiểm soát chất
6
lượng dịch vụ kiểm toán trong quá trình nghiên cứu về phương diện kiểm toán báo
cáo tài chính chưa phản ánh
Thứ hai, tìm hiểu thực trạng kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán báo cáo
tài chính tại Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam. Từ đó phân tích ưu, nhược
điểm, hạn chế, chỉ rõ những hạn chế trong kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán
BCTC tại Ernst & Young Việt Nam.
Thứ ba, nêu ra thực trạng một số Công ty điển hình đang được cung cấp dịch
vụ kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH Ernst & Young để từ đó đề xuất các giải
pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính
tại Công ty Ernst & Young Việt Nam.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính tại Công
ty Ernst & Young Việt Nam.
4.2 Phạm vi nghiên cứu của Luận văn
+ Về nội dung: Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung vào kiểm soát chất
lượng dịch vụ kiểm toán BCTC trong hoạt động kiểm toán độc lập, không nghiên
cứu đối với hoạt động kiểm toán Nhà nước và hoạt động kiểm toán nội bộ. Đi sâu
nghiên cứu công tác kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán qua việc kiểm soát
trong toàn bộ Công ty TNHH Ernst & Young và kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm
toán đối với từng cuộc kiểm toán từ giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện
kiểm toán, kết thúc cuộc kiểm toán và kiểm soát chất lượng sau kiểm toán do Công
ty TNHH Ernst & Young thực hiện cho các khách hàng của công ty, trên cơ sở đó
đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện thủ tục này.
+ Về thời gian khảo sát: Đi vào nghiên cứu công tác kiểm soát chất lượng dịch
vụ kiểm toán báo cáo tài chính trong giai đoạn 2018-2019 do Công ty TNHH Ernst
& Young thực hiện.
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu thực trạng tại công ty, tác giả đã thực hiện các
phương pháp:
CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KIỂM
TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1 Khái quát về chất lượng dịch vụ kiểm toán BCTC
1.1.1 Khái niệm, ý nghĩa và tầm quan trọng của chất lượng dịch vụ kiểm toán
BCTC
1.1.1.1 Khái niệm và ý nghĩa của chất lượng kiểm toán và chất lượng dịch vụ kiểm
toán BCTC
Chất lượng là một phạm trù phức tạp. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về
chất lượng, theo quan niệm cổ điển, chất lượng sản phẩm là tổng hợp những đặc
tính bên trong của sản phẩm là tổng hợp có thể đo được hoặc so sánh được nó được
phản ánh giá trị sử dụng và tính năng của sản phẩm đó đáp ứng những yêu cầu qui
định trước cho nó trong những điều kiện xác định về kinh tế xã hội. Hiện nay, theo
quan niệm hiện đại, có một số định nghĩa về chất lượng được đưa ra bởi các chuyên
gia về chất lượng như sau:
- Theo Philip Crosby: chất lượng là sự tuân thủ các yêu cầu. Theo quan điểm
này thì các nhà thiết kế phải đưa ra yêu cầu đối với sản phẩm và những người công
nhân sản xuất phải tuân thủ những yêu cầu này. Chức năng của chất lượng ở đây là
chức năng thanh tra, kiểm tra xem những yêu cầu đưa ra đã được tuân thủ một cách
chặt chẽ hay chưa .
- Theo Joseph Juran: chất lượng là phù hợp với mục đích. Định nghĩa này của
Juran đã đề cập tới nhu cầu của khách hàng về sản phẩm mà doanh nghiệp định
cung cấp. Chức năng của chất lượng ở đây không phải chỉ là chức năng thanh tra,
kiểm tra mà còn là một bộ phận của công tác quản lý của tất cả các chức năng trong
tổ chức.
- Theo Deming và Ishikawa: Chất lượng là một quá trình chứ không phải là
một cái đích. Theo định nghĩa này thì chất lượng là một trạng thái liên quan tới sản
10
11
Với bản chất là hoạt động dịch vụ đặc biệt, khái niệm về chất lượng dịch vụ
kiểm toán cũng chính là sự thỏa mãn khi sử dụng “sản phẩm” là các báo cáo tài
chính của các đối tượng sử dụng. Như vậy, chất lượng dịch vụ kiểm toán không
phải là một kết quả ngẫu nhiên, nó là kết quả của sự tác động của hàng loạt yếu tố
có liên quan chặt chẽ với nhau. Chất lượng dịch vụ kiểm toán phải được thường
xuyên nâng cao, thường xuyên kiểm soát. Muốn đạt được chất lượng mong muốn
cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố liên quan.
1.1.1.2 Tầm quan trọng của chất lượng dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán là một loại dịch vụ đặc biệt, dịch vụ làm cho người dùng tin, an tâm
về chất lượng các con số, an tâm về tính trung thực, khách quan, đầy đủ, hợp pháp,
hợp lý, hợp thủ tục của các thông tin kinh tế, tài chính, nhất là các thông tin tổng
hợp trên báo cáo tài chính.
Như vậy, chất lượng dịch vụ kiểm toán có ý nghĩa rất quan trọng, trước hết là
đối với người sử dụng kết quả kiểm toán, ý kiến kiểm toán chính là cơ sở để họ tin
tưởng và sử dụng các thông tin mà họ được cung cấp. Ý kiến kiểm toán là sản phẩm
cuối cùng của một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính. Mọi sự không phù hợp nào
trong việc đưa ra ý kiến của kiểm toán viên và công ty kiểm toán đều làm ảnh
hưởng đến quyết định của những người sử dụng kết quả kiểm toán và có thể gây ra
các thiệt hại về kinh tế đối với họ.
Đối với kiểm toán viên và công ty kiểm toán sự không phù hợp trong ý kiến
kiểm toán cũng như không làm thoả mãn sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ
cũng có nghĩa là công ty gặp rủi ro kiểm toán, mất uy tín và có nguy cơ mất thị
trường khách hàng. Chất lượng kiểm toán phản ánh kết quả làm việc, hiệu quả của
quy trình kiểm toán công ty áp dụng, là yếu tố quan trọng trong cạnh tranh thu hút
khách hàng, xây dựng uy tín của công ty với khách hàng.
1.1.2 Các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng dịch vụ kiểm toán BCTC
không làm tăng thêm lượng thông tin cho những người sử dụng kết quả kiểm toán
13
mà chỉ đảm bảo cho những đối tượng này về tính trung thực hợp lý của các báo cáo
tài chính mà họ được cung cấp. Sự đảm bảo này được chấp nhận và có giá trị bởi:
(i) ý kiến kiểm toán được đưa ra bởi chuyên gia kiểm toán có đủ năng lực, trình độ
chuyên môn; (ii) tính độc lập, khách quan của ý kiến kiểm toán. Những người sử
dụng kết quả kiểm toán chỉ thật sự hài lòng và thoả mãn khi họ tin tưởng rằng ý
kiến kiểm toán đưa ra dựa trên các cơ sở đó. Để đánh giá được chỉ tiêu này, người ta
xem xét tính tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp của kiểm toán viên và của công ty
kiểm toán, điều này thể hiện khá rõ qua tính chuyên nghiệp của kiểm toán viên
trong quá trình thực hiện công việc kiểm toán. Việc đánh giá đó cần bao quát các
khía cạnh sau: đảm bảo tính độc lập, khách quan và chính trực; kiến thức, kỹ năng,
kinh nhiệm của kiểm toán viên; các phương pháp thu thập và đánh giá bằng chứng
kiểm toán; công tác giám sát, quản lý cuộc kiểm toán; các thủ tục soát xét, phát
hành báo cáo kiểm toán; và các khía cạnh khác.
Trong đó, tính độc lập là nhân tố hàng đầu, tác động trực tiếp đến chất lượng
kiểm toán, bởi vì trong hoạt động kiểm toán mọi ý kiến nhận xét, đánh giá, kết luận
cũng như kiến nghị của kiểm toán viên đều phải dựa trên những bằng chứng kiểm
toán và quy định của pháp luật. Kết quả kiểm toán có thể bị sai lệch nếu kiểm toán
mất tính độc lập trong hoạt động, nhất là kiểm toán đối tượng cơ quan, doanh
nghiệp nhà nước, cơ quan hành chính, nơi dễ bị ảnh hưởng bởi những quyết định
chính trị. Để đảm bảo được tính độc lập cho hoạt động kiểm toán thì doanh nghiệp
kiểm toán phải được độc lập về các vấn đề cơ bản, như: địa vị pháp lý, chi phí hoạt
động và nhân sự.
1.1.2.2 Mức độ đơn vị được kiểm toán thỏa mãn về ý kiến đóng góp nhằm mục đích
nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
Mục tiêu chính của kiểm toán độc lập báo cáo tài chính là đưa ra ý kiến độc
gây nhiều khó khăn trong việc đưa ra các quyết định quản lý hoặc bỏ lỡ các cơ hội
kinh doanh. Mặc dù kiểm toán không phải là kênh cung cấp thông tin riêng biệt,
nhưng nó là một khâu thẩm định trong hệ thống cung cấp thông tin. Các thông tin
tài chính do đơn vị lập và được các KTV, công ty kiểm toán kiểm tra và đưa ra ý
kiến về tính trung thực hợp lý của các thông tin này trước khi chuyển cho những
người sử dụng. Do vậy mọi chậm trễ trong quá trình kiểm toán do nguyên nhân của
việc tổ chức, giám sát quản lý cuộc kiểm toán thiếu hiệu quả hoặc bất cứ lý do gì