HOÀN THIỆN QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG
GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO
CÔNG TY TNHH ERNST & YOUNG VIỆT NAM THỰC HIỆN
3.1 SỰ TẤT YẾU HOÀN THIỆN QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM
TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI
CHÍNH TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
3.1.1 Vai trò của quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn Lập kế
hoạch kiểm toán đối với mỗi cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính
Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểm
toán, đồng thời nhằm thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán có giá trị để từ đó có
thể đưa ra kết luận kiểm toán hợp lý, mọi cuộc kiểm toán đều được thực hiện qua 3
giai đoạn là Lập kế hoạch kiểm toán, Thực hiện kiểm toán và Kết thúc kiểm toán.
Trong đó, giai đoạn Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên bắt đầu mọi cuộc
kiểm toán. Tại mục 08 của Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300 có khẳng định
“Kế hoạch kiểm toán phải được lập cho mọi cuộc kiểm toán. Kế hoạch kiểm toán
phải được lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết các khía cạnh trọng
yếu của cuộc kiểm toán; phát hiện gian lận, rủi ro và những vấn đề tiềm ẩn; và đảm
bảo cuộc kiểm toán được hoàn thành đúng thời hạn. Kế hoạch kiểm toán trợ giúp
kiểm toán viên phân công công việc cho trợ lý kiểm toán và phối hợp với các kiểm
toán viên và chuyên gia khác về công việc kiểm toán”.
Trong giai đoạn này thì quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán là một công việc
quan trọng phải được thực hiện vô cùng chặt chẽ. Dựa vào mức độ trọng yếu đã được
xác định trên toàn bộ BCTC hay được phân bổ cho từng khoản mục, các KTV sẽ
đánh giá rủi ro kiểm toán tức là xác định khả năng xảy ra những sai sót trên phương
diện toàn bộ BCTC hay trong từng khoản mục để từ đó có thể thiết kế các thủ tục
kiểm toán và xây dựng chương trình kiểm toán cho phù hợp nhằm mục đích cuối
cùng là giảm thiểu được rủi ro kiểm toán trong BCTC của khách hàng đã được kiểm
toán. Với vai trò quan trọng như vậy thì việc hoàn thiện quy trình đánh giá rủi ro
kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán nói riêng và trong toàn bộ cuộc
1
Nghiêm Diệu Oanh Lớp: Kiểm toán 46B
Nghiêm Diệu Oanh Lớp: Kiểm toán 46B
hoàn cảnh hiện nay các công ty kiểm toán khác cũng đang phát triển rất mạnh mẽ.
Với một chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng tốt như vậy thì Công ty sẽ xây
dựng cho mình một lợi thế cạnh tranh riêng biệt, khi đó các khách hàng sẽ tin tưởng
và tìm đến với Công ty nhiều hơn. Hơn nữa, cùng với việc hoàn thiện quy trình kiểm
toán, việc nâng cao chất lượng của quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán sẽ giúp cho
các KTV của công ty có những đánh giá xác đáng về những rủi ro xuất phát từ phía
khách hàng (rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát) để điều chỉnh mức độ rủi ro phát hiện
thông qua việc thực hiện các thử nghiệm kiểm toán tiếp theo, qua đó nâng cao độ tin
cậy của các thông tin đã được kiểm toán trên các báo cáo tài chính của khách hàng,
đồng thời cũng góp phần giảm thiểu mức độ rủi ro kinh doanh cho chính các KTV và
cho Ernst & Young Việt Nam.
3.2 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN
TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI
CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH ERNST & YOUNG VIỆT NAM
3.2.1 Ưu điểm
Quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong quá trình thực hiện kiểm toán báo cáo
tài chính nói chung và trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán nói riêng của Công ty
TNHH Ernst & Young Việt Nam được thiết kế bởi Ernst & Young toàn cầu. Đây là
quy trình đánh giá chung cho mỗi khách hàng được áp dụng cho tất cả các công ty
kiểm toán thành viên của hãng kiểm toán Ernst & Young. Quy trình này được các
chuyên gia của hãng thiết kế dựa trên kinh nghiệm làm việc của mình cũng như việc
thử nghiệm quy trình trong nhiều năm để khắc phục và hoàn thiện những điểm yếu
trong quy trình. Việc đánh giá rủi ro kiểm toán do Ernst & Young thiết kế bao gồm
những bước rất cụ thể đi từ tổng thể đến chi tiết nhằm đánh giá chính xác từng loại
rủi ro, cụ thể như sau:
• Đánh giá rủi ro sơ bộ để ra quyết định chấp nhận kiểm toán cho khách hàng
Đây là công đoạn mở đầu cho mỗi cuộc kiểm toán, trước khi ký hợp đồng thực
hiện kiểm toán cho một khách hàng nào đó, Giám đốc công ty sẽ thực hiện những
đánh giá về những rủi ro có thể tồn tại ở khách hàng dựa trên những thông tin thu
Mỗi doanh nghiệp, mỗi công ty đều có những kiểm soát nội bộ của riêng
mình, ở công đoạn này, các kiểm toán viên sẽ tìm hiểu sự thiết kế và hiệu quả hoạt
động của những thủ tục kiểm soát của đơn vị, những sai sót mà hệ thống kiểm soát
4
Nghiêm Diệu Oanh Lớp: Kiểm toán 46B
nội bộ không phát hiện ra để có thể đánh giá được mức độ rủi ro kiểm soát của khách
hàng. Những yếu tố thuộc về hệ thống kiểm soát nội bộ được các kiểm toán viên sử
dụng làm căn cứ để đánh giá mức độ rủi ro là:
• Sự liêm khiết, kinh nghiệm và hiểu biết của Ban Giám đốc cũng như sự thay
đổi thành phần Ban quản lý xảy ra trong niên độ kế toán;
• Trình độ và kinh nghiệm chuyên môn của kế toán trưởng, của các nhân viên
kế toán chủ yếu, của kiểm toán viên nội bộ và sự thay đổi (nếu có) của họ.
• Những áp lực bất thờng đối với Ban Giám đốc, đối với kế toán trưởng phải
trình bày báo cáo tài chính không trung thực;
• Đặc điểm hoạt động của đơn vị, như: Quy trình công nghệ, cơ cấu vốn, các
đơn vị phụ thuộc, phạm vi địa lý, hoạt động theo mùa vụ;
• Các nhân tố ảnh hưởng đến lĩnh vực hoạt động của đơn vị, như: Các biến
động về kinh tế, về cạnh tranh, sự thay đổi về thị trờng mua, thị trờng bán và
sự thay đổi của hệ thống kế toán đối với lĩnh vực hoạt động của đơn vị.
• Các thành viên tham gia kiểm toán thảo luận để có những đánh giá chung và
thống nhất về những rủi ro có thể tồn tại ở khách hàng
Đây là công đoạn được thực hiện cùng với việc tìm hiểu, đánh giá hệ thống
kiểm soát nội bộ của khách hàng, xác định những rủi ro gian lận và những lời giải
thích cho những gian lận đó. Việc trao đổi ý kiến này sẽ giúp cho các kiểm toán viên
có cái nhìn khách quan và toàn diện về những rủi ro tồn tại ở khách hàng.
• Chỉ ra những khoản mục trọng yếu và những cơ sở dẫn liệu liên quan đến
khoản mục đó
Dựa theo Báo cáo tài chính, các kiểm toán viên đã xác định những khoản mục
được cho là trọng yếu để xác định những rủi ro tổng quan của khoản mục dựa trên
quy mô, số lượng các nghiệp vụ có liên quan, mức độ phức tạp của các nghiệp vụ và
sẽ hình thành nên những sai sót, gian lận của khoản mục. Do đó, các kiểm toán viên
phải tiến hành tìm hiểu quy trình thực hiện các nghiệp vụ để từ đó mới có thể xác
định được những sai sót, gian lận nảy sinh trong quy trình thực hiện từng nghiệp vụ.
• Thực hiện kiểm tra xuyên suốt
Đặc biệt ở công đoạn này các KTV của Ernst & Young Việt Nam chú trọng vào
6
Nghiêm Diệu Oanh Lớp: Kiểm toán 46B
việc kiểm tra những điểm dễ sai sót để xem những kiểm soát đó có tồn tại và hiệu
quả để giảm thiểu rủi ro kiểm soát cho những lớp nghiệp vụ đó không?
Công đoạn này được thực hiện để đánh giá sơ bộ về rủi ro kiểm soát đối với
những nghiệp vụ trọng yếu được xét đến. Nếu những kiểm soát được thiết kế đối với
các nghiệp vụ không hiệu quả hay thiết kế hiệu quả nhưng thực hiện lại không hiệu
quả thì những rủi ro kiểm soát sẽ ở mức độ lớn, tức là nguy cơ xảy ra sai sót, gian lận
ở mỗi nghiệp vụ sẽ lớn, điều này sẽ khiến cho các kiểm toán viên phải thực hiện
nhiều thủ tục kiểm toán để có thể giảm thiểu những sai sót, gian lận đó.
• Tìm hiểu hệ thống kiểm soát công nghệ thông tin
Các KTV của Ernst & Young Việt Nam sẽ tìm hiểu những thông tin về cách
thức thiết kế và hoạt động nhằm đánh giá hiệu quả của hệ thống công nghệ thông tin
trong những hoạt động của khách hàng. Đặc biệt đối với những khách hàng sử dụng
công nghệ thông tin vào các giao dịch hàng ngày như Ngân hàng, Công ty Chứng
khoán…thì việc kiểm soát hệ thống thông tin này là vô cùng quan trọng bởi chỉ một
sai sót trong hệ thống sẽ dẫn đến những sai sót vô cùng nghiêm trọng.
• Thiết kế và thực hiện các kiểm tra về hệ thống kiểm soát công nghệ thông tin
Các kiểm toán viên sẽ thực hiện kiểm tra xem hệ thống công nghệ thông tin
của khách hàng có được kiểm soát một cách chặt chẽ hay không, những thay đổi
trong hệ thống có thực sự cần thiết, có được thử nghiệm trước khi áp dụng, có được
các nhà quản lý kiểm tra và phê duyệt không, những truy nhập của hệ thống thông tin
có logic hay không…
• Đánh giá hệ thống kiểm soát công nghệ thông tin của khách hàng dựa vào
những sai sót trong hoạt động của hệ thống đã được phát hiện khi thực hiện
Với một quy trình được thiết kế tốt nhưng việc thực hiện lại không hiệu quả thì
kết quả đem lại cũng sẽ không thể đạt được kết quả đã đặt ra. Nhận biết được điều đó
nên bên cạnh một quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch
kiểm toán được thiết kế chặt chẽ và hiệu quả, các kiểm toán viên của Ernst & Young
Việt Nam đã tuân thủ một cách nghiêm ngặt những thủ tục trong quy trình đánh giá
đã được thiết kế. Những người thực hiện đánh giá rủi ro này là những kiểm toán viên
lâu năm, có kinh nghiệm chuyên môn, do đó họ hiểu được khá sâu sắc vai trò của
8
Nghiêm Diệu Oanh Lớp: Kiểm toán 46B
việc đánh giá rủi ro trong mỗi cuộc kiểm toán đăc biệt là trong giai đoạn lập kế hoạch
kiểm toán, vì vậy họ thực hiện công việc này khá tỉ mỉ và thận trọng. Tuy nhiên, họ
không áp dụng một cách máy móc quy trình đó mà đối với mỗi khách hàng, tùy vào
đặc trưng của mỗi khách hàng mà các kiểm toán viên có sự điều chỉnh cho phù hợp.
Nhờ đó mà các Báo cáo Tài chính do Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam thực
hiện có độ tin cậy rất cao đem lại uy tín lớn cho công ty.
3.2.2 Những hạn chế, tồn tại
Do quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
báo cáo tài chính mà Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam đang áp dụng nằm
trong quy trình kiểm toán chung do các chuyên gia của Ernst & Young trên toàn thế
giới thiết kế dựa vào kinh nghiệm chuyên môn của mình, đồng thời quy trình ấy cũng
đã được hoàn thiện qua hàng chục năm phát triển của hãng. Hơn thế nữa, vì mới là
một sinh viên mới ra trường với lượng kiến thức có hạn về chuyên ngành nên em chỉ
xin đưa ra một vài những hạn chế còn tồn tại mà em nhận thấy trong quy trình đánh
giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn Lập kế hoạch của Công ty bên cạnh những ưu
điểm trên đây:
• Phương pháp mô tả Hệ thống kiểm soát nội bộ trong các bước công việc nhằm
đánh giá rủi ro kiểm soát của khách hàng
Bản chất của việc đánh giá rủi ro kiểm soát là việc các KTV đưa ra ý kiến xem
xét liệu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách thể kiểm toán có tồn tại không, có được
thiết kế và hoạt động một cách hiệu quả trong việc phát hiện và ngăn chặn những sai
3.3 NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ HOÀN
THIỆN QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG GIAI
ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG
TY TNHH ERNST & YOUNG VIỆT NAM THỰC HIỆN
3.3.1 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán
trong giai đoạn lập kế hoạch Kiểm toán Báo cáo Tài chính do Công ty TNHH
Ernst & Young Việt Nam thực hiện
• Phương pháp mô tả Hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng
Thực tế hiện nay tại Ernst & Young Việt Nam, các KTV vẫn sử dụng hai
phương pháp chính để miêu tả hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng, đó là Bảng
câu hỏi và Bảng tường thuật, trong khi đó phương pháp sử dụng lưu đồ là phương
10
Nghiêm Diệu Oanh Lớp: Kiểm toán 46B
pháp mang lại hiệu quả cao nhất lại không được áp dụng thường xuyên.
Do đó, để mang lại hiệu quả ngày càng cao cho quy trình đánh giá rủi ro kiểm
toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, trong toàn cuộc kiểm toán hoặc để nâng
cao chất lượng của cuộc kiểm toán thì Ernst & Young Việt Nam nên áp dụng phương
pháp sử dụng lưu đồ vào việc mô tả của mình. Để làm được điều này, Công ty nên có
những khóa đào tạo cho tất cả các nhân viên của mình về cách thức sử dụng phương
pháp này và những ứng dụng của nó, đồng thời cũng khuyến khích các nhân viên sử
dụng phương pháp này trong công việc, đặc biệt Công ty cũng nên có những phần
mềm hỗ trợ cho các nhân viên sử dụng phương pháp này để giảm bớt lượng công
việc.
• Đào tạo cho các kiểm toán viên của Công ty những kiến thức về quy trình đánh
giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán BCTC
Đây là một hạn chế của Ernst & Young Việt Nam đã được nhắc đến ở phần trên.
Tại Công ty, việc thực hiện quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế
hoạch kiểm toán đều do các KTV cấp cao, có kinh nghiệm phụ trách thực hiên, tuy nhiên
hầu như tất cả các KTV cấp dưới hay các trợ lý kiểm toán đều không hiểu được những
đánh giá rủi ro của cấp trên và do đó họ chỉ biết thực hiện những thủ tục kiểm toán đã
trong quy trình này được Ernst & Young Việt Nam thiết kế theo trình tự xác định
những rủi ro tiềm tàng trước rồi đến những rủi ro kiểm soát tương ứng với các công
đoạn như: tìm hiểu khách hàng để ra quyết định kiểm toán, tìm hiểu ngành nghề hoạt
động của khách hàng, tìm hiểu mức độ phức tạp của hệ thống công nghệ thông tin
khách hàng áp dụng, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và xác định những rủi ro gian
lận tồn tại ở khách hàng.
Việc tìm hiểu đánh giá rủi ro của Ernst & Young Việt Nam được tiến hành thông
qua việc tìm hiểu từ tổng thể đến chi tiết:
• Rủi ro tiềm tàng
Đầu tiên, các kiểm toán viên sẽ thực hiện tìm hiểu khách hàng về cơ cấu tổ
chức, ngành nghề hoạt động kinh doanh…để xác định những rủi ro xuất phát từ cơ
cấu tổ chức, lĩnh vực hoạt động của khách hàng (rủi ro kinh doanh) có ảnh hưởng đến
cuộc kiểm toán mà cụ thể là ảnh hưởng đến rủi ro kiểm toán của các kiểm toán viên.
Trong công đoạn này các Kiểm toán viên tìm hiểu rất kỹ lưỡng và tỷ mỉ về quy mô,
cơ cấu tổ chức, đặc điểm của ngành nghề lĩnh vực kinh doanh, cũng như những ảnh
hưởng của các nhân tố bên trong và bên ngoài...của khách hàng. Đặc biệt, nắm bắt
được xu hướng hiện nay các doanh nghiệp đã bắt đầu ứng dụng các công nghệ thông
tin vào hoạt động của mình nên Ernst & Young Việt Nam cũng đặc biệt chú trọng đến
việc tìm hiểu hệ thống công nghệ thông tin của khách hàng nhằm phát hiện những rủi
12
Nghiêm Diệu Oanh Lớp: Kiểm toán 46B
ro tiềm tàng của khách hàng nảy sinh từ việc áp dụng công nghệ thông tin. Việc coi
trọng và thực hiện nghiêm túc công đoạn này đã giúp cho các Kiểm toán viên của
Ernst & Young Việt Nam có những đánh giá chính xác hơn về những rủi ro tiềm tàng
của khách hàng.
• Rủi ro kiểm soát
Sau khi đã xác định và đánh giá được các rủi ro tiềm tàng của khách hàng, các
kiểm toán viên sẽ đi sâu vào từng khoản mục được trình bày trên Báo cáo Tài chính
của khách hàng-đối tượng kiểm toán, để xác định những khoản mục và những cơ sở
dẫn liệu có liên quan dễ xảy ra sai sót và gian lận, tức là có rủi ro cao. Nhưng để đánh
toán, do đó các công ty luôn có những quy định về những người được phép thực hiện
công việc này. Ngay cả trong Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 cũng đã khẳng
định “Kiểm toán viên phải có đủ hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát
nội bộ của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán tổng thể và chương trình kiểm toán
thích hợp, có hiệu quả. Kiểm toán viên phải sử dụng khả năng xét đoán chuyên môn
của mình để đánh giá rủi ro kiểm toán và xác định các thủ tục kiểm toán nhằm giảm
các rủi ro kiểm toán xuống thấp tới mức có thể chấp nhận được.”
Tại Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam, quy trình đánh giá rủi ro kiểm
toán không được giao cho các kiểm toán viên mới mà luôn do các kiểm toán viên lâu
năm, có kinh nghiệm như Tổng Giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc Kiểm toán,
các kiểm toán viên cao cấp…thực hiện bởi đây là một công việc đóng vai trò vô cùng
quan trọng trong mỗi cuộc kiểm toán, nó quyết định việc thiết kế các thủ tục kiểm
toán được triển khai trong giai đoạn thực hiện kiểm toán và kết quả của cuộc kiểm
toán, đồng thời đây cũng là một công việc chủ yếu dựa vào sự hiểu biết, kinh nghiệm
làm việc của người thực hiện. Nếu việc này được giao cho một kiểm toán viên thiếu
kinh nghiệm thì nguy cơ mức độ rủi ro tiềm tàng cũng như rủi ro kiểm soát của khách
hàng sẽ không được đánh giá ở mức thích hợp, như vậy thì mức độ rủi ro trên Báo
cáo Tài chính của khách hàng do Ernst & Young Việt Nam kiểm toán sẽ tăng lên, gây
ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín lâu năm của Công ty.
Một ưu điểm nổi bật trong việc thực hiện quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán do
Ernst & Young toàn cầu thiết kế đó là có sự tham gia của nhiều kiểm toán viên để
thực hiện đánh giá. Đây là một biện pháp nhằm tăng tính khách quan trong việc đánh
giá bởi đánh giá rủi ro là một công việc mang nặng tính phán xét chủ quan của người
14
Nghiêm Diệu Oanh Lớp: Kiểm toán 46B
thực hiện. Nếu công việc này chỉ được giao cho một kiểm toán viên thì những ý kiến
người đó đưa ra có thể chỉ mang tính một chiều, không thể hiện được đầy đủ những
rủi ro tồn tại ở khách hàng. Nhận biết được điều này, Ernst & Young Việt Nam
thường xuyên tổ chức những buổi thảo luận giữa các kiểm toán viên có kinh nghiệm
trong giai đoạn đầu của quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán cho khách hàng ở phần
kiểm toán nói chung và một quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán nói riêng cho tất cả
các khách hàng mà công ty thực hiện kiểm toán nhưng Công ty không áp dụng một
cách máy móc. Đối với khách hàng, công ty luôn có những tìm hiểu kỹ lưỡng về
khách hàng để có những thủ tục đánh giá cho phù hợp. Đồng thời, công ty cũng luôn
có sự cân nhắc giữa chi phí bỏ ra và những lợi ích thu lại khi thực hiện các công đoạn
đánh giá rủi ro kiểm toán với mỗi khách hàng. Nếu nhận thấy những thủ tục đánh giá
được áp dụng vừa mất chi phí, vừa không mang lại những kết quả như mong muốn
thì các kiểm toán viên sẽ bỏ qua công đoạn đó với điều kiện việc làm này không làm
ảnh hưởng đến kết quả của việc đánh giá rủi ro kiểm toán mà các kiểm toán viên
đang thực hiện. Cụ thể là đối với những Công ty có quy mô nhỏ, nếu xét thấy ngành
nghề hoạt động của khách hàng không mang quá nhiều rủi ro thì việc tìm hiểu khách
hàng sẽ được giảm bớt, hay đối với những khách hàng mà có hệ thống công nghệ
thông tin đơn giản, không quá phức tạp thì công đoạn tìm hiểu mức độ phức tạp của
hệ thống công nghệ thông tin có thể sẽ không được thực hiện bởi các nhân viên
chuyên về kiểm tra công nghệ thông tin của Ernst & Young Việt Nam mà sẽ do các
kiểm toán viên thực hiện trong các công đoạn tiếp theo.
Tuân thủ theo quy định này sẽ đảm bảo cho việc đánh giá rủi ro kiểm toán
trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính của các Công ty Kiểm toán
đạt được kết quả xác đáng, vừa tiết kiệm được chi phí và thời gian cũng như nguồn
lực cho các thử nghiệm kiểm toán không cần thiết. Từ đó, các quy trình kiểm toán sẽ
mang lại hiệu quả cao hơn, mà vẫn đảm bảo được tính chính xác của những đánh giá
nêu ra, giảm thiểu rủi ro trên báo cáo tài chính của khách hàng.
Để có thể đạt được yêu cầu này thì các Công ty Kiểm toán phải thật sự linh
hoạt trong việc lập kế hoạch kiểm toán, đặc biệt là các kiểm toán viên cần phải có sự
am hiểu sâu sắc về khách hàng như về đặc điểm lĩnh vực kinh doanh, sự ảnh hưởng
của các nhân tố bên trong và bên ngoài đến doanh nghiệp…để từ đó có thể phân loại
được khách hàng nhằm thiết kế được những chương trình kiểm toán thích hợp cho
từng khách thể kiểm toán.
16
Nghiêm Diệu Oanh Lớp: Kiểm toán 46B
17
Nghiêm Diệu Oanh Lớp: Kiểm toán 46B
PHỤ LỤC
BẢNG CÂU HỎI VỀ NHỮNG RỦI RO PHÁT SINH
(Áp dụng cho Ngân hàng XYZ)
1. Có những thay đổi đáng kể nào về người ký thư giới thiệu của ngân hàng
hay không?
Có Không
2. Chứng khoán của ngân hàng có được mua bán công khai không? Hay nói
cách khác, ngân hàng có giải trình công khai các chứng khoán ngân hàng
nắm giữ hay không? (như chứng khoán của các đơn vị chính quyền, các tổ
chức tài chính, các công ty bảo hiểm, các tổ chức công cộng và các tổ chức từ
thiện)
Có Không
3. Những nhân viên đã từng làm cho Ernst & Young đã chuyển sang ngân
hàng XYZ làm trong vòng năm 5năm lại đây có giữ những vị trí quan trọng
về quản lý, kế toán và lập báo cáo tài chính không? (như: Thành viên ban
quản trị, Chủ tịch, Giám đốc điều hành, Giám đốc tài chính, Kế toán
trưởng, Nhân viên ban Kiểm soát, ban Tài chính, thành viên của bộ phận
Kiểm toán nội bộ, người Cố vấn…)?
Có Không
4. Có những thay đổi đáng kể nào từ lần gần nhất thực hiện đánh giá tiếp tục
chấp nhận khách hàng về hoạt động kinh doanh (như: khách hàng, sản
phẩm, vận chuyển hàng hóa, đơn đặt hàng…), về môi trường kinh tế và
ngành nghề, lĩnh vực hoạt động, những yêu cầu luật pháp và các nguyên tắc
trong những hoạt động của Ngân hàng?
Có Không
18
Nghiêm Diệu Oanh Lớp: Kiểm toán 46B
5. Những yếu tố rủi ro sau đây có được đề cập không?
mức giá trị thị trường của chứng khoán vốn.
Có Không
D. Có những thay đổi đáng kể về ban giám đốc, tư
vấn pháp luật hay tình hình tranh chấp.
Có Không
E. Có sự cơ cấu lại hay thay thế không mong
muốn trong bộ máy quản lý, có sự thay thế liên
tiếp trong ban quản trị hay có sự thay đổi
không cần thiết trong cơ cấu quản lý phức tạp.
Có Không
19
Nghiêm Diệu Oanh Lớp: Kiểm toán 46B
F. Áp lực thái quá đối với những nhà quản lý mới
khiến họ báo cáo kết quả tốt hơn trên thực tế họ
đã làm.
Có Không
G. Những mô hình ước lượng tài chính bị xác định
sai nghiêm trọng hay bị đánh giá một cách
đáng nghi ngờ bởi ban quản trị-những người
kiểm soát việc lập báo cáo tài chính của ngân
hàng.
Có Không
H. Đã từng hoàn thành những nghiệp vụ nổi bật và
bất thường nhanh chóng trước khi kết thúc mỗi
quý hay năm tài chính.
Có Không
I. Có kế hoạch bồi thường cho những kỳ vọng
thái quá trên báo cáo lợi nhuận.
Có Không
J. Ngân hàng là bên phải chi trả nhiều nhất trong
rất cao.
F. Những thay đổi bất lợi trong việc đánh giá và
phân loại những vấn đề đáng chú ý về nợ của
các tổ chức tín dụng như Moody’s hay
Standard &Poors.
Có Không
G. Khó khăn tăng lên trong việc thỏa mãn hiệp
định giới hạn cho vay.
Có Không
H. Những hợp đồng nợ chứ đựng sự thay đổi
trọng yếu bất lợi hay những điều khoản thúc ép
mang tính chủ quan.
Có Không
I. Đã có lịch sử của việc hoạt động thua lỗ.
Có Không
J. Có sự giảm giá trị đáng kể của lợi nhuận cả
trong lịch sử và trong dự án.
Có Không
K. Lợi nhuận thu được có chất lượng kém và
không ổn định.
Có Không
L. Tăng trưởng hay tích trữ đột biến
Có Không
IV. Các chức năng tài chính và kế toán
A. Xuất hiện sự tranh chấp có liên quan đến kế
toán hay thực tiến của việc lập báo cáo tài
chính.
Có Không
B. Có sự trình bày lại của các báo cáo tài chính
năm trước để chỉnh sửa lại những sai sót phát
của kiểm soát nội bộ.
Có Không
J. Sử dụng những nguyên tắc kế toán không ổn
định.
Có Không
K. Có những phán xét hoàn toàn chủ quan trong
suốt thời gian xác định lại nguồn gốc thu nhập,
chi phí, một hay một chuỗi những nghiệp vụ
nổi bật.
Có Không
L. Có một số lượng lớn những hoạt động ghi sổ
thủ công trong quá trình theo dõi tài chính.
Có Không
M. Những kiểm toán viên hàng năm thực hiện
kiểm toán cho ngân hàng gặp rắc rối.
Có Không
22
Nghiêm Diệu Oanh Lớp: Kiểm toán 46B
N. Có sự trục trặc của các kiểm toán viên nói
chung khi không thể đưa ra phán quyết hay
trong việc thực hiện phân chia trong kiểm toán
một cách thận trọng dựa vào những doanh thu
hay tài sản được kiểm toán.
Có Không
O. Trong báo cáo kiểm toán những năm trước có
xuất hiện những đoạn thuyết minh hay loại trừ.
Có Không
Giải thích: Vào năm 2004, báo
cáo kiểm toán đã có một số ý
kiến loại trừ. Năm 2005, ý kiến
doanh có triển vọng thuận lợi lâu dài.
B. Những hoạt động nổi bật của ngân hàng tại
quốc gia ngân hàng thực hiện giao dịch là đáng
nghi ngờ.
Có Không
C. Có những điều kiện kinh tế không thuận lợi đối
với những ngành nghề hay những khu vực mà
ngân hàng và các khách hàng của mình hoạt
động.
Có Không
D. Những ngành nghề của ngân hàng có tỷ lệ phá
sản cao hay có sự phụ thuộc về mặt kinh tế vào
một hay nhiều công ty hoạt động trong ngành
nghề có tỷ lệ phá sản cao.
Có Không
E. Có những giao dịch phức tạp hay những sự
kiện đổi mới gồm cả việc phân chia thuế thu
nhập, khiến cho việc đưa ra những đánh giá về
tính hiệu quả của chúng gặp nhiều khó khăn
hay mang tính chủ quan cao.
Có Không
F. Một công ty mới yêu cầu một kết quả tài chính
đẹp nhằm thu hút được tài trợ cho những cô
gắng trong tương lai của công ty.
Có Không
G. Có những thay đổi trọng đại trong hoạt động
kinh doanh của chủ thể.
Có Không
H. Công ty không có sự quản lý rõ ràng về tính
liêm chính, cũnh như chưa có một cán bộ kế