Phân tích mô hình sản xuất kinh doanh tại làng nghề Ninh Hiệp - Pdf 61

Nguyễn Hải Thọ. Tel: 01693 109 019.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA: QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH: KINH DOANH QUỐC TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH MÔ HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH
TẠI LÀNG NGHỀ NINH HIỆP
Họ tên sinh viên: Nguyễn Hải Thọ
Lớp: Nhật 2, Quản Trị Kinh
Doanh
Khóa: 45
Giáo viên hướng dẫn: Ts. Nguyễn
Văn Minh
Hà Nội, 21 tháng 5 năm 2010
1
Nguyễn Hải Thọ. Tel: 01693 109 019.
Đề tài: PHÂN TÍCH MÔ HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI LÀNG NGHỀ
NINH HIỆP
2
Nguyễn Hải Thọ. Tel: 01693 109 019.
Danh mục hình vẽ và bảng biểu:
Hình số 1: SƠ ĐỒ GIẢN LƯỢC VỀ MÔ HÌNH SẢN XUẤT, KINH DOANH CỦA
LÀNG NGHỀ VIỆT NAM
Hình 2: PHÂN TÍCH MÔ HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA LÀNG NGHỀ
NINH HIỆP THEO HƯỚNG QUẢN TRỊ HỌC VÀ XÃ HỘI HỌC
Hình 3: SƠ ĐỒ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN NGHỀ Y VÀ NGHỀ DỆT TẠI NINH
HIỆP
Hình 4: QUY TRÌNH DỆT VẢI CỦA NGƯỜI NINH HIỆP XƯA
Hình 5: CHU KÌ SẢN PHẨM NGHỀ DA CỦA LÀNG NÀNH
Hình 6: SỰ HÌNH THÀNH NGHỀ THUỐC TẠI NINH HIỆP
Hình 7: SỰ HÌNH THÀNH NGHỀ BUÔN VẢI TẠI NINH HIỆP

3) Các vấn đề tiêu cực ở làng nghề như ô nhiễm môi trường, xử lý vấn đề việc làm
cho lao động,…
Từ năm 1997, đã có một đoàn chuyên gia xã hội học tới Ninh Hiệp dưới sự tài trợ
của tập đoàn Toyota Nhật Bản để nghiên cứu về Ninh Hiệp như một làng nghề điển hình
của việc phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam. Sau chuyến khảo sát, đoàn xã hội học này
có xuất bản cuốn “Ninh Hiệp truyền thống và phát triển” là một nghiên cứu về sự phát
triển của làng và đưa ra những kiến nghị để sự phát triển đó bền vững.
Sinh ra và lớn lên ở Ninh Hiệp, từ nhỏ được quan sát sự thay đổi của quê hương
cũng như sự phát triển của nền kinh tế theo mô hình hộ gia đình. Tác giả tin rằng mình có
lợi thế trong việc tiến hành nghiên cứu đề tài “Phân tích mô hình sản xuất kinh doanh tại
làng nghề Ninh Hiệp” góp nhỏ bé vào những nghiên cứu trước đó về mô hình làng nghề
tại Việt Nam.
2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu:
Với đề tài khóa luận “Phân tích mô hình sản xuất kinh doanh tại làng nghề Ninh
Hiệp” tác giả mong muốn có thể đạt được 2 mục tiêu nghiên cứu như sau.
- Thứ nhất, sau bài nghiên cứu, chúng ta sẽ có cái nhìn tổng quát về mô hình làng
nghề Ninh Hiệp, những yếu tố giúp nó thành công, những mặt còn yếu kém và nguyên
nhân của chúng.
4
Nguyễn Hải Thọ. Tel: 01693 109 019.
- Thứ hai, đưa ra được những kinh nghiệm bằng việc nghiên cứu chính nó và
những làng nghề thành công khác trên thế giới. Từ những kinh nghiệm này em sẽ đưa ra
các đề xuất để phát triển làng nghề Ninh Hiệp một cách bền vững và mạnh mẽ hơn.
3. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập thông tin:
+ Thu thập thông tin thứ cấp (thu thập và nghiên cứu tài liệu có sẵn): Thông qua
các tài liệu văn bản, sách báo, tạp chí, sổ sách, báo cáo, website và tư liệu do địa phương
cung cấp có liên quan đến đề tài.
+ Thu thập thông tin sơ cấp (khảo sát điều tra): Thông qua việc tham quan, khảo
sát điều tra, phỏng vấn trực tiếp ở làng nghề Ninh Hiệp. Đối tượng được điều tra là các

- Phần chương I, sẽ viết về phần lý luận, những vấn đề cơ bản có tính học thuật mà
đề tài cần giải quyết như: Khái niệm làng nghề và mô hình làng nghề; ý nghĩa của làng
nghề đối với kinh tế và xã hội, phân loại các mô hình làng nghề,...
- Phần chương II, trên cơ sở nền tảng lý thuyết trên sẽ phân tích, nghiên cứu trong
một trường hợp cụ thể là làng nghề Ninh Hiệp; phân tích mô hình làng nghề và điểm
mạnh, điểm yếu của nó.
- Phần chương III, sẽ nghiên cứu một số làng nghề điển hình khác và từ đó có được
những đề xuất về việc thúc đẩy phát triển làng nghề.

6
Nguyễn Hải Thọ. Tel: 01693 109 019.
Chương I: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ LÀNG NGHỀ VÀ MÔ HÌNH SẢN
XUẤT KINH DOANH TẠI LÀNG NGHỀ VIỆT NAM
1. Khái niệm về làng nghề và mô hình sản xuất kinh doanh của làng nghề
1.1 Khái niệm làng nghề:
Làng nghề Việt Nam, làng nghề thủ công, làng nghề truyền thống, hoặc làng nghề
cổ truyền..., thường được gọi ngắn gọn là làng nghề, là những làng mà tại đó hầu hết dân
cư tập trung vào làm một nghề duy nhất nào đó; nghề của họ làm thường có tính chuyên
sâu cao và mang lại nguồn thu nhập cho dân làng
1
.
Ngoài ra, chúng ta còn có thể tham khảo thêm một số các định nghĩa khác về khái
niệm khác về làng nghề:
- Theo thông tư 116: Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản,
làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các
hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau
2
.
- Theo giáo sư Trần Quốc Vượng: “Theo chúng tôi hiểu gọi là một làng nghề (như
làng gốm Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng, Hương Canh,… làng đồng (Bưởi, Vó, Hè Nôm,

Nếu như coi một làng nghề là một tổ chức kinh doanh (dưới góc nhìn của nhà phân
tích) thay vì là một tổ chức dân sự (dưới góc nhìn của chính phủ) thì bản thân làng
nghề cũng phải đối mặt với việc phân phối, tổ chức, sắp xếp các nguồn lực của mình
sao cho việc kinh doanh đạt được hiệu quả. Nếu tham khảo định nghĩa “business
model” trên Wikipedia.org thì ta nhận thấy, mô hình kinh doanh trong doanh
nghiệp còn có thể được hiểu rộng ra bao gồm mục đích kinh doanh của tổ chức đó.
Dưới đây được coi là một trong những mô hình sản xuất kinh doanh giản lược cổ
điển của làng nghề Việt Nam do tác giả tự phân tích, tổng hợp sau khi tham khảo
các bài phân tích trên internet:
4
Các văn bản pháp luật Việt Nam không có khái niệm “mô hình sản xuất kinh doanh” nên tác giả đã tham
khảo khái niệm “business model” trên trang wiki( A
business model describes the rationale of how an organization creates, delivers, and captures value -
economic, social, or other forms of value. The process of business model design is part of business
strategy. In theory and practise the term business model is used for a broad range of informal and
formal descriptions to represent core aspects of a business, including purpose, offerings, strategies,
infrastructure, organizational structures, trading practices, and operational processes and policies.
Tạm dịch: Một mô hình kinh doanh thể hiện các nhân tố cơ bản của việc một tổ chức được thành lập, phân
phối và đạt được các giá trị kinh tế, xã hội hoặc các dạng giá trị khác. Quá trình hình thành một mô hình kinh
doanh là một phần của chiến lược kinh doanh. Trên cả lý thuyết lẫn thực tế, chính thức lẫn phi chính thức
thì khái niệm mô hình kinh doanh được dùng để thể hiện các khía cạnh cốt lõi của doanh nghiệp trong đó có
mục đích, sản phẩm, chiến lược, cơ sở hạ tầng, cơ cấu tổ chức, việc buôn bán, và quá trình thành lập, chính
sách.
8
Nguyễn Hải Thọ. Tel: 01693 109 019.
2. Phân loại các mô hình sản xuất kinh doanh của làng nghề
tại Việt Nam:
Như phân tích ở phần 2.1, tác giả đã giới thiệu khái niệm mô hình sản xuất của làng
nghề và giới thiệu thêm một sơ đồ mô hình cổ điển được nhắc nhiều trên báo chí và
internet. Ở phần 2.2, tác giả sẽ làm rõ hơn bằng cách khai triển mô hình trên dựa

Tăng Tiến (Bắc Giang), Phú Nghĩa (Chương Mỹ, Hà Nội), Thái Xuyên (Thái Bình),
An Hòa (Tây Ninh),…
Đồ gỗ mỹ nghệ: Làng nghề gỗ mỹ nghệ phải kể đến làng nghề Đồng Kỵ (Bắc Ninh)
thiên về thương mại, làng Vạn Điểm (Thường Tín, Hà Tây) với chuyên về đồ gỗ nội
thất, Sơn Đồng (Hoài Đức - Hà Nội) với đặc trưng là tạc tượng gỗ,… Đồ gỗ là hàng
thủ công mỹ nghệ cao cấp nên yêu cầu nguồn nhân lực trẻ, chất lượng và dồi dào.
Nên đặc trưng của các làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ phát triển là những làng duy trì
được kĩ thuật điêu khắc tiếp nối qua các thế hệ, từ thế hệ già tới thế hệ trẻ. Ngoài
ra, vì là sản phẩm mang tính chất hơi xa xỉ nên thị trường đầu bị ảnh hưởng rất lớn
bởi suy thoái của nền kinh tế chung.
2.2 Phân loại mô hình làng nghề theo số lượng chủng loại sản phẩm:
Làng đơn nghề: Có duy nhất một nghề kinh doanh và mang tính chuyên nghề. Trong
đó mỗi hộ kinh doanh trong làng có thể tập trung vào một khâu sản xuất hoặc một
thị trường phân phối nhất định. Làng đơn nghề có thể kể đến như làng tranh Đông
Hồ, làng gốm Bát Tràng, làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp, làng đồ gỗ mỹ nghệ Thanh
Thùy,… Đặc trưng của làng đơn nghề là có tính chuyên nghề cao, thu nhập của dân
làng phụ thuộc lớn vào nghề duy nhất của mình.
5
Số liệu năm 2008: />hieu/20088/104563.laodong
10
Nguyễn Hải Thọ. Tel: 01693 109 019.
Làng đa nghề: Có từ 2 chủng loại sản phẩm kinh doanh chính trở lên, làng đa nghề
có sự linh hoạt trong việc phân bổ các nguồn lực theo nhu cầu của thị trường vào
từng chủng loại sản phẩm. Ở làng đa nghề, việc phân phối nguồn lực vào các khâu
sản xuất, phân phối cũng xảy ra như làng đơn nghề. Nói đến làng đa nghề có thể kể
đến như làng nghề Ninh Hiệp (nghề vải, nghề thuốc), làng nghề Nhật Tân (dệt vải,
mộc, mây đan), làng nghề Thổ Hà (gốm, bánh tráng, quan họ),...
3. Hướng tiếp cận để phân tích mô hình sản xuất kinh doanh của làng nghề:
3.1 Hướng tiếp cận từ sự ảnh hưởng của mô hình sản xuất kinh doanh của làng nghề tới mục
tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội:

Vậy có thể tóm lại, trong quá trình hình thành và phát triển của mình, làng nghề có
2 vai trò chính là vai trò kinh tế và vai trò xã hội:
Vai trò kinh tế: Ban đầu là mang lại thu nhập gia tăng cho dân làng vào những vụ
nông nhàn, sau đó là nguồn thu nhập lớn lao và chính yếu cho các hộ gia đình trong làng
khi đã chuyên sâu vào nghề. Từ việc mang lại nguồn thu nhập nhỏ lẻ và quy mô sản xuất
không tập trung, thì khi phát triển, làng nghề mang lại nguồn thu nhập ổn định với quy
mô sản xuất tập trung, có sự liên kết chặt chẽ giữa các hộ gia đình trong làng. Bình quân
thu nhập nông thôn, những lao động có nghề tiểu thủ công nghiệp, mỹ nghệ thì có thu
nhập gấp 2 lần hoặc hơn 2 lần so với làng thuần nông. Để hiểu rõ hơn về vai trò kinh tế,
ta có thể lấy một số tỉnh địa phương có nhiều làng nghề ra làm điển hình so sánh.
Tỉnh Nam Định có 90 làng nghề truyền thống, trong đó có 77 làng nghề tiểu thủ
công nghiệp. Mỗi năm các làng nghề này đem về cho tỉnh 13-15 triệu USD kim ngạch
xuất khẩu, chưa kể phần lớn tiêu thụ trong nước. Tỉnh Hà Tây có 411 làng nghề, chiếm
1/5 số lượng làng nghề cả nước. Giá trị sản xuất từ khu vực kinh tế này đem về cho Hà
Tây khoảng 3.000 tỉ đồng mỗi năm. Trong đó nhiều làng nghề đạt mức doanh thu mỗi
năm trên 70 tỉ đồng, giải quyết việc làm cho 140.000 hộ nông dân và nhiều doanh nghiệp,
hợp tác xã
6
...
Vai trò xã hội: Giai đoạn đầu làng nghề có vai trò giải quyết vấn đề dư thừa lao
động theo mùa, khi nguồn lao động vào các mùa sản xuất nông nghiệp chính trở thành
thất nghiệp vào các mùa phụ. Trong quá trình phát triển của mình, làng nghề còn có tác
dụng thúc đẩy sự phát triển liên kết giữa các hộ gia đình, thay đổi cơ cấu quan hệ trong
làng, giúp phần thay đổi quan niệm về bình đẳng giới,… thúc đẩy sự văn minh. Sự phát
triển các ngành nghề thủ công thay thế dần cho nông nghiệp cũng làm thay đổi tư tưởng
tiểu nông, tủn mủn sang tư tưởng kinh doanh, thương mại. Là bước đệm cho việc phát
triển nghành thương mại và công nghiệp hóa làng nghề, từ đó công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
6
Vietbao.vn, làm gì để phát triển làng nghề: />12

đây cho thấy nồng độ chì trong nước rất cao. Người dân trong làng thường đi mua những
bình ắc quy hỏng về rồi lấy lá chì trong đó nấu lại. Nước rửa bình ắc quy và các tấm lá
chì được xả thẳng xuống nguồn nước mà không qua một khâu xử lý nào cả. Nguồn nước
này lại ngấm xuống đất, xuống mạch nước ngầm mà dân làng ăn nên không tránh khỏi
13
Nguyễn Hải Thọ. Tel: 01693 109 019.
độc hại. Cùng với nó là khói, bụi khí thải thoát ra từ các lò nấu chì đặt ngay cạnh khu
vực sinh hoạt đã ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ người dân. Thế nhưng chính quyền và
dân làng Đông Mai vẫn chưa tìm được cách khắc phục sự ô nhiễm độc hại này. Hiện nay
dân làng đã chuyển các lò nấu chì ra xa khu vực sinh hoạt song tình trạng ô nhiễm môi
trường cũng chưa được cải thiện. Ô nhiễm môi trường ở làng gốm Bát Tràng hiện nay là
rất lớn bởi tiếng ồn và bụi do các lò nung dùng than đá tạo ra. Vì thế lượng khí cácbonnic
trong không khí ở đây luôn vượt quá 3 lần mức cho phép, còn mức bụi silic thì cao quá
mức cho phép 12 lần. Vào những ngày mưa, mặc dù đường làng đã được lát bêtông
nhưng vẫn luôn lầy lội, đầy màu đen do sự rơi vãi của than, của si và phế phẩm. Để cải
tạo môi trường làng nghề Bát Tràng, Sở KHCN&MT Hà Nội đã đưa ra nhiều giải pháp,
trong đó có đề nghị các lò nung chuyển sang dùng gas thay cho than đá. Thế nhưng giải
pháp này cũng không được thực hiện triệt để do làm như vậy sẽ nâng giá thành sản phẩm
lên rất cao. Ở những làng nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ thì việc sử dụng hoá chất có hạn
chế song tình trạng ô nhiễm môi trường ở những nơi này cũng đang ở mức báo động. Đa
số các làng nghề bị ô nhiễm bởi chất thải sản xuất, bụi, khí độc, cặn bã, nước thải xả ra
trong quá trình sản xuất. Trong khi đó người dân lại trực tiếp sống trong môi trường ấy
nên tất nhiên phải gánh chịu hậu quả từ chính những việc làm của mình.
Vấn đề mai một làng nghề: Hiện nay tình hình chung về hiệp hội làng nghề Việt
nam thì 60% là có chiều hướng xu thoái nặng, nguyên nhân là có những nghề là mùa vụ
chứ không truyền thống, ví dụ mùa mưa đan nón, cuối năm đi nặn tò he để bán cho du
khách và cho các cháu. Tức là họ vừa làm đồng rồi lại về nhà làm thêm.
Nói đến vấn đề mai một làng nghề truyền thống, không thể không nói đến hiện
tượng các nghệ nhân đang dần lớn tuổi, trong khi các thanh niên trẻ giờ đây đang dời bỏ
làng quê để ra thành phố kiếm tìm một cuộc sống mới hiện đại, với thu nhập cao hơn. Có

cũng sẽ sử dụng một số công cụ của quản trị học để phân tích vĩ mô về làng nghề, với giả
định làng nghề giống như một doanh nghiệp, và từng nghề là một sản phẩm.
Trong hướng tiếp cận toàn diện này thì các nghiên cứu xã hội học, lịch sử là vô
cùng cần thiết để khám phá những lợi thế thuộc về bản chất văn hóa, lịch sử. Sau đó, tác
giả sẽ phân tích cơ cấu ngành nghề, mô hình sản xuất của từng ngành để có cái nhìn chi
tiết về làng nghề Ninh Hiệp. Từ những phân tích cơ cấu, từng ngành, tác giả sẽ rút ra
được những vấn đề còn tồn tại tại làng nghề Ninh Hiệp cũng như những tiềm năng chưa
được khai thác hết. Cuối cùng, để đưa ra được các kiến nghị, đề xuất cho làng nghề Ninh
Hiệp phát triển bền vững thì tác giả sẽ tham khảo một số kinh nghiệm của các làng nghề
khác trên thế giới cũng như tại Việt Nam.
15
Lịch sử làng nghề
Cơ cấu ngành nghề
Mô hình sản xuất
của từng ngành
Lợi thế của
làng nghề
Những vấn đề
còn tồn tại
Kinh nghiệm từ
các làng nghề
khác
Một số
kiến nghị
và đề xuất
Hình 2: PHÂN TÍCH MÔ HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA
LÀNG NGHỀ NINH HIỆP THEO HƯỚNG QUẢN TRỊ HỌC VÀ XÃ HỘI HỌC
Nguyễn Hải Thọ. Tel: 01693 109 019.
Với cách tiếp cận toàn diện như trên, tác giả hi vọng rằng sẽ đi đến được đích là
phân tích rõ ràng, toàn diện mô hình sản xuất kinh doanh của làng nghề Ninh Hiệp cũng

Nành là và chữ Hán của chữ Ninh trong Ninh Hiệp là v chỉ khác nhau ở bộ
chữ bên trái
8
. Nành tiếng Nôm đồng thời có nghĩa là đậu Nành, sau này, tên làng
được chuyển sang dùng âm Hán đọc thành Ninh. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là một giả
7
Chuyện cũ làng Nành, Nguyễn Khắc Quýnh, nxb Văn hóa Dân Tộc, 2003, tr.15-18
8
là bộ lúa gạo, thể hiện nền văn hóa lúa nước, biểu tượng của các nước Asian
17
Nguyễn Hải Thọ. Tel: 01693 109 019.
thuyết phân tích của tác giả. Vì xung quanh tên làng vẫn còn nhiều quan điểm khác
cần có khảo cứu chuyên sâu hơn.
Nghề Đông Y và nghề Dệt: Nghề dệt được hình thành ở Ninh Hiệp từ khá sớm từ đầu
thế kỉ XI đầu nhà Lý, gắn liền với sự tích Lý Nhũ Thái Mẫu
9
. Lý Nhũ Thái Mẫu là
người dậy dân làng cách trồng cây thuốc Nam và chữa bệnh, ngoài ra còn dậy dân
làng cách dệt vải lụa. Trong Chuyện cũ làng Nành có đoạn: “Từ đó việc trồng, chế
biến thuốc nam và chữa bệnh, dệt vải lụa trở thành nghề truyền thống của làng
Nành, bên cạnh nghề nông, có người vừa làm ruộng vừa dệt vải lụa, vừa chồng và
chế biến thuốc.”. Sự phát triển của Nghề Đông Y và nghề Dệt còn để lại dấu tích là
đôi câu đối bằng chữ Nôm tại Điếm Kiều
10

“Thử địa diên niên y dược trọng
Trường thiên dịch thể chức canh hòa”
Dịch nghĩa là:
“Mảnh đất bầu trời này từ xa xưa kết hợp
Cả ba nghề: Y dược, dệt vải lụa và làm ruộng”

Nguyễn Hải Thọ. Tel: 01693 109 019.
dạy học; từ năm 1935 tới 1945 người Nành (Ninh Hiệp) hầu như nắm toàn bộ thị
trường y học 2 tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên cũ từ khâu thuốc cái, bào chữa đến chữa
bệnh
14
. Ngày nay, Nghề Đông Y ở Ninh Hiệp có nguy cơ bị thất truyền. Các cụ lương
Y vững tay nghề (cụ lang Hải, cụ lang Du và cụ lang Viện) nhanh chóng thống nhất
chủ trương khôi phục nghề tổ gồm có: nghiên cứu, dịch nhiều sách Đông Y cổ
truyền; giới thiệu 21 người đi học lớp Đông y của Trung Ương và Thành phố; thành
lập Tổ chuẩn trị đông y xã,... Tháng 3/2010, làng được phong “làng nghề truyền
thống thuốc Nam” như một ghi nhận lịch sử về quá trình hình thành, phát triển
Nghề Đông Y tại Ninh Hiệp.
Để tóm gọn và khái quát hóa lịch sử phát triển Nghề Đông Y tại Ninh Hiệp, tác giả
đề xuất một sơ đồ đánh giá sự phát triển như sau:
Nghề Dệt: Nghề Dệt xuất hiện ở Ninh Hiệp cùng thời với Nghề Đông Y tức là vào
khoảng thế kỉ thứ XI, đầu thời Lý. Có thời đạt đỉnh cao huy hoàng là đem tiến vua:
“Ai về Nành chợ mà xem
Lụa vàng tiến Ngự tay em dệt thành”
Văn hóa truyền miệng của Ninh Hiệp còn lưu truyền lại nhiều cao dao xưa về làng
Nành:
14
Chuyện cũ làng Nành, Nguyễn Khắc Quýnh, nxb Văn hóa Dân Tộc, 2003, tr.279
19
Hình 3: SƠ ĐỒ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN NGHỀ Y
VÀ NGHỀ DỆT TẠI NINH HIỆP
Nguyễn Hải Thọ. Tel: 01693 109 019.
“Cửi canh khuya sớm em lo
Ruộng đồng tát nước be bờ phần anh”
Như sự phân công của tự nhiên, dệt vải chủ yếu là phụ nữ, đàn ông làm thuốc hoặc
làm ruộng là chính. Nhiều gia đình kết hợp chặt chẽ cả 3 nghề. Làm ruộng có thời

Đập sợi
Ngâm
nước
Hồ sợi Phơi khô
Giũ sợi
Đánh
ống
Mắc cửiNhổ cửi
Đánh
suốt
DệtDàn cửiTrải cửi
Hình 4: QUY TRÌNH DỆT VẢI CỦA NGƯỜI NINH HIỆP XƯA
Nguyễn Hải Thọ. Tel: 01693 109 019.
Lịch sử ghi nhận nghề Dệt ở làng Nành không rõ ràng, chỉ để lại một chút dấu ấn
gắn liền với các nhân vật lịch sử như bà Chiêu Nghi Hoàng Hậu Nguyễn Thị
Huyền
17
vào thế kỉ XVIII, có thể ghi nhận như là thời kì phát triển cực thịnh của
nghề Dệt làng Nành. Giai đoạn thế kỉ XIX, XX thì các ghi chép lịch sử trở lên rõ
ràng hơn:
Năm 1889, một nhà tư bản Pháp sang xây dựng nhà máy dệt Nam Định sản xuất vải
trúc bâu và cát bá.
Năm 1939, chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, Pháp vào tay Đức, Nhật nhảy vào
Đông Dương, nước ta một cổ 3 tròng, chúng đua nhau vơ vét, nước ta trở lên kiệt
quệ… nghề Dệt cũng vì thế mà điêu đứng.
Năm 1943, một số người Phù Lưu đứng ra lập Đại lý sợi làm cho làng nghề như
sống lại, nhưng chỉ được 1 năm, sợi lại khan hiếm, đắt đỏ trở lại, làng nghề lại ảm
đạm.
Năm 1960, vải khổ rộng lan tràn ngày càng nhiều, vải trúc bâu ít dần mà cát bá,
phin nõn tràn lan lấn át vải Nành rồi dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn sứ mệnh của

đựng thanh kiế “quyền uy” của mình. Ông Ngũ cải tiến mẫu mã pha cắt nhằm
quảng cáo cho ngành Da của làng Nành, vài ngày thì xong. Vua Bảo Đại sửng sốt
trước vẻ đẹp ngoài ý muốn, hơn hẳn các bộ yên của các sĩ quân Pháp đem từ Paris
sang, ban cho ông Hàm Bá Hộ.
27/7/1937, chiến tranh Trung Nhật là thời kì huy hoàng nhất của nghề Da làng
Nành. Phố Hà Trung hầu hết là cửa hàng Da của người Nành, mỗi cửa hàng đều có
từ dăm bẩy tới vài chục thợ. Ông Nguyễn Văn Tuân làm hàng thầu cho Nhật có tới
3-4 xưởng và mấy trăm thợ, hầu hết là người Nành. Lúc này, nghề Da có ý nghĩa
kinh tế và xã hội vô cùng to lớn, mang lại nguồn thu nhập ổn định, giải quyết vấn đề
lao động:
“Thứ nhất là chú thợ da
Thứ hai cày ruộng, thứ ba học trò.”
Nhiều tỉnh nhiều xã thị trấn có hiệu da của người Nành, như Bắc Ninh, Bắc Giang,
Vĩnh Yên,… Chỉ mấy năm mà nhà gỗ đại khoa, nhà gác mọc lên, cảnh quan trong
làng khang trang hẳn ra. Nhiều thanh niên muốn bay nhẩy xa hơn, lên tỉnh “xin”
vào Sài Gòn, chỉ cần đưa ông Lý trưởng 10 đồng là xong.
Trước năm 1940, ở Sài Gòn đã có cửa hàng Da của người làng, làm cơ sở chính đứng
ra vận động thành lập hội “Phù Ninh tương tế hội” nhằm mục đích đoàn kết tập
hợp tất cả những người mới vào, những người khó khăn, yếu đau cả khi mất…
Kháng chiến chống Pháp 1945, các cửa hàng và thợ da ở Hà Nội và các thành phố
đều rút ra ngoài, một số làm ở các xưởng quân nhu, một số mở lò thuộc da, nhiều
mặt hàng mới, có giá trị được ra đời và phục vụ kháng chiến.
22
Nguyễn Hải Thọ. Tel: 01693 109 019.
Năm 1960, Đảng và chính quyền đại phương tập hợp những người thợ lại, tổ chức
hợp tác xã thủ công, HTX nhanh chóng phát triển, có tới trên 100 đầu máy trên 300
xã viên, làm các mặt hàng phụ vụ quân nhu, mậu dịch quốc doanh, gang thép Thái
Nguyên, Tổng cục bưu điện… rất có tín nhiệm.
Đến nay, các mặt hàng đó không còn thích hợp, cơ chế thị trường thay đổi, các xã
viên chuyển hướng sang may mặc quần áo. Mặc dù nghề Da của người Ninh Hiệp

sử dụng thuốc của ngành Đông Y trong làng. Sau đó vì kĩ thuật sao chế, bảo quản và
sấy thuốc của người làng Nành được nâng cao nên dần dần phát triển thành một
nghề riêng biệt dù vẫn có gắn bó hữu cơ với nghề Đông Y
18
.
Ngày nay, người Ninh Hiệp chỉ trồng những thứ thuốc Nam có giá trị xuất khẩu,
còn đi sâu vào khâu chế biến. Người làng Nành có kinh nghiệm chế biến, sấy nướng
rất sớm, thái thuốc đẹp và nhanh. Theo một vài ghi chép trong Chuyện cũ làng
Nành, có một số sự kiện thể hiện tay nghề của người làng trong việc chế biến thuốc:
Năm 1973-1975, cử “chuyên gia” giúp công ty dược liệu và mấy tỉnh về cách sấy
dược liệu.
Năm 1978, người Nhật xin về thăm “xưởng chế biến” dược liệu làng Nành để tìm
hiểu kĩ thuật.
Những năm 1976-1980 có hàng trưng bày tại hội trợ triển lãm Việt Nam. Năm 2000
góp 20 mặt hàng cùng với Thành phố triển lãm tại Thành phố Cần Thơ…
18
Ninh Hiệp - truyền thống và phát triển. Gs. Tô Duy Hợp (Chủ biên). Nxb. Chính trị Quốc gia. 1997
24
Nghề Y
Nhu cầu trồng và chế
biến thuốc Nam
Nhu cầu mua bán
thuốc Bắc
Bán và xuất khẩu
thuốc Nam
Nhập khẩu và bán
thuốc Bắc
Nghề
Thuốc
Hình 6: SỰ HÌNH THÀNH NGHỀ THUỐC TẠI NINH HIỆP

Nhu cầu trao đổi sản
phẩm Dệt
Nghề
buôn vải
Chợ
Nành
Giao thông
thuận tiện
Văn hóa dân
chủ giải
phóng sức
lao động cho
phụ nữ
Hình 7: SỰ HÌNH THÀNH NGHỀ BUÔN VẢI TẠI NINH HIỆP

Trích đoạn Bản đồ do tác giả chụp vệ tinh từ wikipediamap rồi vẽ lại các đường ranh giới sau khi tham khảo nhiều người làng. Câu châm ngôn ưa thích của người Ninh Hiệp Điểm mạnh và những vấn đề còn tồn tại của mô hình sản xuất kinh doanh đa nghề tại làng nghề Ninh Hiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status