PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
DỰA VÀO MÔ HÌNH SWOT
I. Môi trường kinh doanh của Việt Nam. Cơ hội và thách thức của
các Doanh nghiệp.
1.Cơ hội
Xét về mặt kinh tế.
Việt Nam là nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao.
Uớc tính GDP cả năm 2010 có thể tăng 6,7%. Trong bối cảnh kinh tế thế
giới vẫn phục hồi chậm chạp và trong nước gặp phải nhiều khó khăn, kinh tế
Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao như trên là một thành
công. Với kết quả này tốc độ tăng trưởng GDP cả giai đoạn 2006-2010 đạt
bình quân 7%/năm và thu nhập quốc dân bình quân đầu người năm 2010
ước đạt 1.160 USD.
Điều này tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, có thể thu hút vốn từ nhiều nguồn
vốn khác nhau trong và ngoài nước.
Xét về mặt dân số
Theo thống kê mới nhất của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), dân số
nước ta hiện đứng hàng thứ 13 trên thế giới, xấp xỉ 87 triệu người. Dân số
Việt Nam tiếp tục tăng, với mức tăng hơn 1 triệu người/năm. Đây có thể coi
là thời kì dân sô vàng tại Việt Nam, số lượng người trong độ tuổi lao động
cao, có trình độ sẵn sàng đóng góp phát triển kinh tế. Chi phí nfghhân công
rẻ cũng là một yếu tố quan trọng thu hút đầu tư của các doanh nghiệp nước
ngoài.
Cơ cấu dân số của Việt Nam theo độ tuổi
Ở Việt nam, quá trình đô thị hóa và làn sóng nhập cư cũng gây ra nhiều ảnh
hưởng cho thị trường tiêu dùng hàng hóa/dịch vụ.
Trong hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, quá trình đô thị hoá diễn ra
hết sức nhanh chóng nhất là trong 10 năm trở lại đây, đặc biệt ở các thành
phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ năm 1990 các đô thị Việt Nam bắt đầu phát triển, lúc đó cả nước mới có
khoảng 500 đô thị (tỷ lệ đô thị hoá vào khoảng 17-18%), đến năm 2000 con
dụng vốn vay hợp pháp và khả năng tài chính của doanh nghiệp đảm bảo trả
nợ trong thời hạn cam kết sẽ được hủy bỏ. Quy định rõ hoặc bỏ quy định
"Các tài liệu và chứng từ có liên quan" và "Hồ sơ bảo đảm tiền vay theo quy
định"; thay quy định công chứng hồ sơ pháp lý, hồ sơ kinh tế bằng bản sao
có chứng thực.
An ninh chính trị ổn định. Theo khảo sát toàn cầu về mức độ yên
bình, (do Economist Intelligence Unit, một cơ quan nghiên cứu thuộc tạp chí
uy tín The Economist nghiên cứu) Việt Nam đứng thứ 39 trên tổng số 144
nước, được đánh giá cao về sự thân thiện với người nước ngoài và nguy cơ
xảy ra khủng bố thấp.
Đây là một nhân tố quan trọng trong việc quyết định đầu tư kinh doanh ở
một nước. Các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư ở Việt Nam khi được phỏng
vấn đã cho biết 1 trong những lý do họ chọn Việt Nam là Việt Nam có nền
chính trị rất ổn định. Chính vì thế đây là lợi thế của các doanh nghiệp trong
nước.
2. Thách thức
Kinh tế
Các doanh nghiệp trong nước đang mất dần lợi thế cạnh tranh: Khi
Việt Nam gia nhập WTO, thách thức đặt ra với các doanh nghiệp là vấn đề
cạnh tranh. Sự mở cửa thị trường tạo cơ hội cho những “đại gia” trên thế
giới thôn tính thị trường Việt Nam. Sản phẩm của họ sẽ ngập tràn trên thị
trường Việt Nam khiến các doanh nghiệp trong nước gặp phải sự cạnh tranh
gay gắt.
Chi phí đầu vào cao: Thách thức lớn nhất đối với DN phải nói đến đó
là : Chi phí đầu vào tăng cao, làm giảm khả năng cạnh tranh của DN.
- Tỉ giá ngoại tệ tăng cao đội giá đầu vào đối với hàng hóa nhập khẩu, dẫn
đến hình thành mặt bằng giá bán mới cao hơn, nhất là nhóm máy móc, thiết
bị, hàng tiêu dùng, nguyên liệu nhập khẩu (ngành dược, may mặc, SX phân
bón, hoá chất vv).
- Lãi suất vốn vay ngân hàng thương mại tăng cao từ 17- 19% trong thời
nghiệp khi đưa ra các quyết định kinh doanh.
Các doanh nghiệp Việt Nam chưa nắm bắt được luật pháp hiện hành, điều
này rất nguy hiểm trong thương mại.
Tham nhũng đe dọa sự ổn định XH và việc pt KT: Tham nhũng là vấn
nạn không riêng gì Việt Nam mắc phải. Hiện tại chính phủ đã đưa ra các
biện pháp hạn chế thấp nhất tham nhũng, xử phạt những hành vi tham
nhũng.
Dân số
Dân số tuy đông nhưng thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao: Theo số
liệu thống kê năm 2010, trong 48,8 triệu lao động (LĐ) đang làm việc, chỉ
có 8,4 triệu người có bằng cấp, chứng chỉ đào tạo trong và ngoài nước. Số
lượng LĐ được đào tạo các bậc hàng năm luôn tăng, nhưng đội ngũ nhân lực
chất lượng cao vẫn thiếu trầm trọng ở các ngành: kinh doanh tài chính, ngân
hàng, kiểm toán, công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông, cơ khí chế tạo…
Tình trạng thể lực của NLĐ ở mức trung bình kém về độ dẻo dai, cường độ
làm việc. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chất lượng nguồn nhân lực
nước ta thấp so với các nước khác, chỉ đạt 3,79/10 điểm, xếp thứ 11/12 nước
châu Á.
Việt Nam có tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp không phải là thấp. Nhưng nguồn
nhân lực thực sự mà các doanh nghiệp cần thì lại không đáp ứng được nhu
cầu.
II. Công ty cà phê Trung Nguyên.
Ra đời vào giữa năm 1996 -Trung Nguyên là 1 nhãn hiệu cà phê non
trẻ của Việt Nam, nhưng đã nhanh chóng tạo dựng được uy tín và trở thành
thương hiệu cà phê quen thuộc nhất đối với người tiêu dùng cả trong và
ngoài nước. Chỉ trong vòng 10 năm, từ một hãng cà phê nhỏ bé nằm giữa
thủ phủ cà phê Buôn Mê Thuột, Trung Nguyên đã trỗi dậy thành một tập
đoàn hùng mạnh với 6 công ty thành viên: Công ty cổ phần Trung Nguyên,
công ty cổ phần cà phê hòa tan Trung Nguyên, công ty TNHH cà phê Trung
Nguyên, công ty cổ phần thương mại và dịch vụ G7 và công ty liên doanh