Phân tích môi trường kinh doanh của ngân hàng dịch vụ Golf tỉnh Đồng Nai - Pdf 33


1
MỤ
Ï
C

LỤ
Ï
C
MUC LUC
L
L
Ơ
Ơ
Ø
Ø
I
IM
M
Ơ
Ơ
Û
ÛQ
Q
U
U
A
A
N
NV
V
E
E
À
ÀN
N
G
G
A
A
Ø
Ø
N
N
V
V
A
A
Ø
ØC
C
H
H
I
I
E
E
Á
Á
N
NL
L
Ư
Ư
Ơ
Ơ
1.1 Giới thiệu chung về dòch vụ golf ...............................................................3
1.2 Lòch sử hình thành và quá trình phát triển ngành dòch vụ Golf trên thế giới
.........................................................................................................................5
1.2.1 Lòch sử hình thành .............................................................................5
1.2.2 Quá trình phát triển ngành dòch vụ Golf ở một số nước trên thế giới
..............................................................................................................................6
1.3 Quá trình phát triển ngành dòch vụ Golf Việt Nam ....................................9
1.3.1 Nhu cầu dòch vụ golf ở Việt Nam ........................................................9
1.3.2 Quá trình phát triển ngành dòch vụ Golf Việt Nam ......................11
1.4 Chiến lược phát triển ngành dòch vụ Golf của các nước trên thế giới ......
1.4.1 Vài nét về chiến lược ngành ............................................................12
1.4.2 Các chiến lược kinh doanh ngành dòch vụ Golf trên thế giới........14

Tóm tắt chương I CHƯƠNG

II
CHƯƠNG II:
:P
P

T
T
R
R
Ư
Ư
Ơ
Ơ
Ø
Ø
N
N
G
GK
K
I
I
N
N
H
HD
D
O
O
D
D


C
C
H
HV
V
U
U
Ï
ÏG
G
O
O
L
L
F
F
2.1 Khái quát về ngành dòch vụ Golf tỉnh Đồng Nai......................................17
2.1.1 Qui mô đầu tư......................................................................................17
2.1.2 Lượng khách chơi golf .......................................................................18
2.1.3 Doanh thu dòch vụ golf .......................................................................20
2.1.4 Số lượng hội viên chơi golf.................................................................22
2.2 Phân tích môi trường kinh doanh của các sân golf ở tỉnh Đồng Nai ........23
2.2.1 Môi trường bên ngoài.........................................................................23
2.2.1.1 Môi trường vó mô...............................................................................23
2.2.1.2 Môi trường vi mô ..............................................................................29
2.2.2 Phân tích môi trường bên trong .......................................................33
2.2.2.1 Nguồn nhân lực.................................................................................33 2
2.2.2.2 Cơ sở vật chất, trang thiết bò.............................................................34
2.2.2.3 Hoạt động marketing ........................................................................35
2.2.2.4 Hoạt động quản trò ...........................................................................35
2.2.2.5 Nguồn lực tài chính .........................................................................36
2.2.3 Đánh giá môi trường tác động đến sự phát triển ngành dòch vụ Golf
Đồng Nai ........................................................................................................36
2.2.3.1 Ma trận đánh giá môi trường bên ngoài ( EFE).............................36
2.2.3.2 Ma trận hình ảnh cạnh tranh ........................................................37
2.2.3.3 Ma trận đánh giá các yếu tố nội bộ (IFE).......................................38


Ơ
Ơ
Ï
Ï
C
CP
P
H
H
A
A
Ù
Ù
T
TT
T
R
R
I
I
E
E
Å
Å

U
U
Ï
ÏG
G
O
O
L
L
F
FT
T


N
N
H

Đ
O
O

Ê
Ê
M
M2
2
0
0
1
1
5
5 3.1 Quan điểm xây dựng chiến lược ngành dòch vụ Golf Đồng Nai..............40
3.2 Mục tiêu phát triển ngành dòch vụ Golf tỉnh Đồng Nai đến năm 2015
3.2.1 Dự báo xu hướng phát triển .............................................................41
3.2.2 Mục tiêu tổng quát ............................................................................42
3.2.3 Mục tiêu cụ thể ..................................................................................43
3.3 Xây dựng, lựa chọn và giải pháp thực hiện chiến lược ...........................43
3.3.1 Phân tích ma trận SWOT..................................................................43
3.3.2 Các chiến lược phát triển ngành dòch vụ Golf Đồng Nai đến năm
2015................................................................................................................45
3.3.2.1 Chiến lược thâm nhập thò trường....................................................45
3.3.2.2 Chiến lược phát triển thò trường......................................................47
3.3.2.3 Chiến lược phát triển sản phẩm mới và sản phẩm khác biệt hoá 49
3.3.2.4 Chiến lược liên doanh liên kết.........................................................51
3.3.2.5 Chiến lược tuyển dụng và phát triển nguồn nhân lực....................52

3

L
L
Ơ
Ơ
Ø
Ø
I
I

M
M
Ơ
Ơ
Û
ÛĐ
Đ
A
A
À

Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghóa duy vật
biện chứng kết hợp phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích so sánh, diễn giải
để làm rõ luận điểm và sử dụng lý thuyết quản lý chiến lược để đònh ra chiến lược
phát triển cho ngành dòch vụ Golf ở tỉnh Đồng Nai. 4
Về mục tiêu nghiên cứu, luận văn dựa trên cơ sở nghiên cứu thực trạng, phân
tích tình hình môi trường hiện nay để xác đònh các mặt mạnh, mặt yếu cũng như cơ
hội và thách thức của các sân golf ở tỉnh Đồng Nai, từ đó xây dựng một đònh hướng
chiến lược phát triển và đưa ra các giải pháp cơ bản góp phần thúc đẩy dòch vụ golf
phát triển tương xứng với tốc độ phát triển nền kinh tế của tỉnh nhà .
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đề tài nghiên cứu hoạt động của các sân
golf ở tỉnh Đồng Nai và đối chiếu so sánh với các sân golf ở khu vực phía Nam.
Trên cơ sở đó đưa ra đònh hướng chiến lược cũng như các giải pháp phát triển
ngành dòch vụ Golf ở tỉnh Đồng Nai.
Kết cấu luận văn được chia thành 3 chương ngoài phần mở đầu và kết luận.
- Chương I: Tổng quan về ngành dòch vụ Golf và chiến lược kinh doanh .
- Chương II: Phân tích môi trường kinh doanh của ngành dòch vụ Golf tỉnh
Đồng Nai.
- Chương III: Chiến lược phát triển ngành dòch vụ Golf tỉnh Đồng Nai đến năm
2015.
Do khả năng và thời gian nghiên cứu có hạn nên luận văn không thể tránh
khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô và đồng
nghiệp cũng như các bạn về đề tài này, cho ý kiến bổ sung để đề tài mang tính
hiện thực hơn. Xin chân thành cám ơn.
TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2005

Nguyễn Minh Thức


GI
I

T
T
O
O
Å
Å
N
N
G
GQ
Q
U
U
A
A
N
NV
V

V
V
U
U
Ï
ÏG
G
O
O
L
L
F
FV
V
A
A
Ø
ØC
C
H
H
D
D
O
O
A
A
N
N
H
H1.1 Giới thiệu chung về dòch vụ golf
Môn golf là một môn thể thao có tác dụng rèn luyện sức khoẻ và giải trí lành
mạnh. Môn thể thao này gần giống với môn đánh phết cổ truyền của người Việt
Nam, người chơi golf dùng gậy để đánh quả bóng vào lỗ golf cách nơi phát bóng
từ 130 mét đến 520 mét. Mục tiêu của môn thể thao này là đưa bóng vào lỗ với số
gậy ít nhất. Môn golf không có tính chất đối kháng và mang tính nghệ thuật cao, nó
có tác dụng rèn luyện người chơi tính kiên trì, nhẫn nại, thử thách. Nhiều khách
hàng đến sân golf với mục đích giải trí hơn là thể thao, bởi vì bên cạnh tham gia
chơi golf khách hàng còn thưởng thức nhiều dòch vụ khác như dòch vụ ăn uống,
massage, tennis, bơi lội, khu giải trí cho trẻ em và người lớn...
Để có thể hoàn tất một buổi chơi golf thì người chơi golf cần phải trang bò cho
mình đầy đủ các dụng cụ sử dụng trong quá trình chơi golf như: gậy golf và bóng
golf. Gậy golf có nhiều loại và mỗi loại gậy có một tính chất khác nhau vì thế trên
mỗi gậy golf đều có ký hiệu riêng và mỗi gậy golf được sử dụng tương ứng với
chức năng của nó, trong đó gậy số 1 (Driver) dùng để phát bóng và gậy đẩy
(Putter) dùng để đưa bóng vào lỗ là gậy quan trọng nhất trong quá trình chơi golf.

được hưởng những quyền lợi nhất đònh do câu lạc bộ quy đònh, những thành viên
này gọi là hội viên sân golf. Hội viên sân golf có hai dạng: hội viên cá nhân và hội
viên tập thể. Đối với hội viên cá nhân, duy nhất chỉ người đứng tên thẻ mới được
chơi golf, hội viên tập thể có một thẻ chính và từ 1 đến 3 thẻ phụ không ghi tên.
Mỗi thẻ phụ không ghi tên được sử dụng tự do, nhưng chỉ được sử dụng cho một
người trong ngày. Phí gia nhập hội viên sân golf thay đổi phụ thuộc vào mức độ
đầu tư, chất lượng các dòch vụ trong sân golf, đòa điểm sân golf. Hội viên sân golf
có các đặc điểm sau :
- Khi trở thành hội viên chính thức của một sân golf, hội viên có những quyền
lợi nhất đònh như: được sử dụng sân golf và các tiện ích của sân golf với chi phí
thấp hoặc miễn phí hoàn toàn, được giảm giá các dòch vụ khác từ 10% đến 20%.
Hội viên sân golf không có quyền đòi hoàn trả tiền tham gia sân golf và chia lợi
nhuận từ kết quả kinh doanh của sân golf, nhưng được quyền chuyển nhượng quyền
lợi hội viên của mình cho người khác theo giá thò trường và được thừa kế. Ngoài ra
hội viên sân golf có quyền giới thiệu người thân, bạn bè chơi golf với giá ưu đãi.
- Thời hạn hiệu lực thẻ hội viên theo thông lệ trên thế giới là vô hạn gắn liền
với sự tồn tại của sân golf đó. Nhưng ở Việt Nam, các công ty được thành lập dưới
dạng công ty Trách nhiệm hữu hạn, thời gian hoạt động tối đa là 50 năm, vì thế
thời hạn hiệu lực thẻ hội viên chỉ đảm bảo giới hạn trong vòng 50 năm. 7
- Việc tiêu thụ thẻ hội viên là hình thức kinh doanh đặc trưng của dòch vụ golf.
Hội viên càng nhiều thì nguồn khách sân golf càng ổn đònh và doanh thu thẻ hội
viên càng lớn. Nhưng số lượng hội viên mỗi sân golf có giới hạn, một sân golf tiêu
chuẩn 18 lỗ golf có số thẻ hội viên tối đa làø 800. Vì thế mỗi sân golf tùy thuộc vào
quy mô số lỗ golf mà xác đònh số lượng thẻ hội viên tối đa có thể tiêu thụ và từ đó
đưa ra chính sách tiêu thụ hợp lý.
Dòch vụ golf là dòch vụ cao cấp, chi phí đầu tư một câu lạc bộ golf tương đối
lớn từ vài chục triệu đến vài trăm triệu đô la Mỹ, nên phí gia nhập câu lạc bộ golf

ở Hoa Kỳ, Australia, Cana, Hongkong, Malaysia, Newzeland, India.
Môn đánh golf được thiết lập ở Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ thứ XIX, sau sự ra đời
của Liên đoàn Golf Hoa Kỳ (USGA) vào năm 1894. Trong khi R&A hoạt động như
một câu lạc bộ tư nhân với trách nhiệm kiểm soát sự phát triển của môn golf ở
Vương quốc Anh và toàn bộ đất nước Anh, thì USGA là một tổ chức tập hợp tất cả
các câu lạc bộ golf trên toàn Hoa Kỳ. Ngày nay, môn golf vẫn tiếp tục nằm dưới sự
chi phối chung của hai tổ chức này.
Cùng với sự phát triển môn golf, gậy golf đã được cải tiến nhiều lần, từ gậy
golf chẳng khác gì một cây gậy với những tảng xù xì làm đầu gậy, đến năm 1920
cán gậy được làm bằng thép, thay đổi thứ hai vào năm 1970 với việc sản xuất gậy
golf có đầu bằng sắt để tạo sức nặng ngoại vi, thay đổi thứ ba vào những năm 1980
khi các gậy gỗ đầu sắt trở nên được ưa chuộng và thay đổi thứ tư là việc sử dụng
graphit, titan và các nguyên liệu khác trong việc chế tạo cán gậy.
Ngày nay, môn golf phát triển mạnh mẽ ở các nước phát triển châu Âu, Bắc
Mỹ, Đông Bắc Á và được nhiều người ưa chuộng. Đây cũng là một môn chơi
không biên giới, hiện có trên 100 triệu người thường xuyên chơi golf và 40.000 sân
golf trên toàn thế giới.
1.2.2 Quá trình phát triển ngành dòch vụ Golf ở một số nước trên thế giới
Với điều kiện nền kinh tế phát triển ở mức cao, nên môn golf ở các nước
Châu Âu và Bắc Mỹ đã trở nên phổ biến, mọi người dân đều có khả năng tiếp cận
loại hình dòch vụ này. Đối với khu vực Châu Á, môn golf tuy đi sau khu vực Châu
Âu, Hoa Kỳ nhưng đang và sẽ phát triển mạnh mẽ, đặc biệt các nước có nền kinh
tế phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan...
Do chi phí đầu tư xây dựng câu lạc bộ golf lớn, phí tham gia chơi golf tương đối cao
nên thò trường golf khu vực Châu chủ yếu từ tầng lớp trung lưu trở lên. Họ là
những người quản lý cao cấp, những thương gia, những viên chức Nhà nước đến với
golf vì những nhu cầu trong cuộc sống. Sau đây là số lượng sân golf các nước trên
thế giới.
trường trong nước bão hòa, tốc độ phát triển dưới 4% nên các nhà đầu tư chuyển
hướng đầu tư sang các nước Đông Nam Á để mở rộng thò trường.
Trung Quốc
Hiện nay, Trung Quốc có 200 sân golf đi vào hoạt động và 40 sân khác đang
trong giai đoạn đầu tư, nhưng các sân golf chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn,
các vùng ven biển phía Đông. Lòch sử ngành dòch vụ Golf Trung Quốc chỉ có trong
vòng 20 năm trở lại đây, nhưng sáu năm qua số lượng sân golf phát triển gần 30%
mỗi năm và đưa Trung Quốc trở thành một trong năm nước có nhiều sân golf nhất 10
thế giới. Chính vì tốc độ xây dựng quá nhanh, nên gần một nửa sân golf bò khủng
hoảng. Tuy nhiên, khủng hoảng này sớm vượt qua, bởi thò trường golf Trung Quốc
phát triển cũng rất nhanh, theo Hiệp hội Golf Trung Quốc, số người chơi golf đã
tăng đến 100.000 người, trong đó có khoảng 30.000 hội viên câu lạc bộ golf, và thu
nhập hàng năm gần 1 tỷ đô la Mỹ.
Hoa Kỳ
Theo tạp chí golf Việt Nam và liên đoàn golf Hoa Kỳ, thò trường dòch vụ golf
của Hoa Kỳ được xếp hàng đầu thế giới với số lượng người chơi golf lên đến 23
triệu và ngành dòch vụ này hàng năm mang lại thu nhập khoảng 15 tỷ USD. Thò
trường golf nước này đã phát triển rất cao và đạt mức bão hoà nên các nhà kinh
doanh của Hoa Kỳ có xu hướng đầu tư ra nước ngoài.
Anh Quốc
Trong lòch sử hình thành và phát triển ngành dòch vụ Golf thế giới, Anh là một
trong những nước có môn golf phát triển sớm, đến nay cả liên hiệp Anh có khoảng
2.300 sân golf lớn nhỏ và là một trong năm thò trường golf lớn nhất thế giới. Ở đất
nước của xứ sở sương mù này, bên cạnh môn bóng đá môn golf được nhiều người
đam mê và có trên 3 triệu người thường xuyên chơi môn q tộc này.
Nhật Bản
Môn golf xuất hiện ở Nhật Bản đầu thế kỷ XX và rất thông dụng với người

rất nhiều khía cạnh: chính trò, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, giáo
dục, thể thao v.v... Golf là một bộ môn thể thao rất phát triển, không chỉ ở khu vực
mà trên toàn thế giới. Thi đấu golf có trong chương trình của hầu hết các cuộc thể
thao quốc tế và ở các thế vận hội lớn. Do đó, trong khuôn khổ hội nhập với các
quốc gia trong khu vực trên lónh vực thể thao, phát triển golf tại Việt Nam là cần
thiết để Việt Nam có thể tham gia thi đấu ở các giải chuyên nghiệp của khu vực và
trên thế giới. Hơn nữa, với phong cảnh thiên nhiên, khí hậu, môi trường trong lành,
sự thanh tònh, làm cho người chơi golf quên đi những khó khăn, lo toan trong công
việc và đời sống hằng ngày, nên sân golf là nơi giải trí không thể thiếu được trong
cuộc sống văn minh đối với tầng lớp thượng lưu và các chuyên gia nước ngoài đang
công tác tại Việt Nam.
Việt Nam đã và đang gia nhập nhiều tổ chức trên thế giới và khu vực, trong
quá trình đàm phán gia nhập các tổ chức của thế giới bên cạnh kỹ năng đàm phán
còn có yêu cầu về ngoại ngữ và chơi golf là những yếu tố giúp các cuộc đàm phán
sớm thành công. Đã có nhiều cuộc họp các nhà đàm phán phải ra sân golf vừa
chơi vừa trao đổi ý kiến, hết tour golf là có kết luận cho buổi họp. Như khi Việt
Nam đàm phán gia nhập tổ chức Asean, tất cả các cuộc họp từ hội nghò chuyên
viên cao cấp đến hội nghò bộ trưởng, hội nghò cấp cao trong các chương trình đều
có buổi chơi golf. Do đó, có thể coi golf là một phương tiện hội nhập hiệu quả.
Bên cạnh nhu cầu thể thao và giải trí, phát triển dòch vụ golf có ý nghóa rất lớn
về mặt kinh tế, bởi việc xây dựng các sân golf sẽ thu hút được nguồn vốn đầu tư rất
lớn trong và ngoài nước. Đồng thời các sân golf là sản phẩm du lòch, góp phần đa 12
dạng hóa các loại hình du lòch ở Việt Nam, nâng cao tỷ trọng giá trò dòch vụ trong
tổng sản phẩm nền kinh tế. Thêm vào đó, kinh doanh sân golf mang lại cho ngân
sách Nhà nước một khoản thu về tiền thuê đất, tiền thuế hàng năm khá cao và đặc
biệt là tạo được không ít việc làm, một sân golf 18 lỗ có thể thu hút từ 300 đến 500
lao động, giải quyết đáng kể lao động dôi dư ở những vùng sân golf xây dựng.

13
1.3.2 Quá trình phát triển ngành dòch vụ Golf Việt Nam
Chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước ta hơn 15 năm qua đã tạo điều kiện
cho ngành dòch vụ Golf hình thành và phát triển. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư ,
đến nay tại Việt Nam đã có 22 dự án xin cấp phép đầu tư xây dựng và kinh doanh
sân golf ( phụ lục số 1), trong đó có 9 sân golf đi vào hoạt động với tổng số vốn
đăng ký 345 triệu Đôla Mỹ. Do những thuận lợi ban đầu, các tỉnh phía Nam đã thu
hút được nhiều dự án hơn so với các tỉnh phía Bắc. Tuy nhiên, các tỉnh phía Bắc
hiện là tâm điểm chú ý của giới chơi golf khi một loạt dự án mới lần lượt ra đời,
phá thế “ độc canh” của sân golf Đồng Mô( Kings Valley) tại Hà Tây và hứa hẹn
một cuộc đua tranh quyết liệt giữa các chủ đầu tư sân golf trong những năm tới.
Sau nhiều năm các sân golf tại Việt Nam kinh doanh gặp nhiều khó khăn do
khủng hoảng kinh tế khu vực châu Á năm 1997, từ năm 2000 hiệu quả kinh doanh
các sân golf tại Việt Nam bắt đầu phục hồi và phát triển với tốc độ trên 15% / năm,
kết quả đầu tư và kinh doanh của các sân golf ở Việt Nam như sau:
Bảng 1.2: Mức độ đầu tư và tình hình kinh doanh các sân golf ở Việt Nam

STT TÊN
ĐỊA ĐIỂM
TỔNG VỐN
(USD)
SỐ LỖ
GOLF
SO
Á
LƯT
KHÁCH
2002 2003 2004
1
Cty Liên Doanh Vũng Tàu

Câu Lạc Bộ Golf
Long Thành- Đồng Nai
ĐỒNG NAI
28,900,000 36 14,900 0 0 670,000
8
Kings Valley HÀ TÂY
21,875,000 36 42,000 2,400,000 2,550,000 2,850,000
9
Cty LD Sân Golf Ngôi Sao
Hoàng Gia
HẢI DƯƠNG
22,100,000 18 25,000 0 0 1,560,000
Tổng cộng
14,128,100 16,710,000 20,296,000
DOANH THU (USD)
( Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Sở kế hoạch và Đầu tư các tỉnh) 14
Số lượng khách các sân golf tại Việt Nam đạt rất thấp so với công suất phục
vụ và doanh thu đạt được không như dự kiến ban đầu của các nhà đầu tư với hai
nguyên nhân:
- Một là, tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài giảm sút cả về số lượng dự
án lẫn tổng số vốn đầu tư sau khi khủng hoảng tài chính khu vực xảy ra năm 1997
và cho đến năm 2004 việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài chưa có dấu hiệu phục
hồi. Vì thế khách hàng chính yếu của các sân golf là các chuyên gia nước ngoài
đang công tác tại Việt Nam tăng rất chậm, không tương xứng với khả năng phục
vụ hiện có của các sân golfù.
- Hai là, thu nhập bình quân đầu người của người Việt Nam quá thấp, trong
khi chi phí chơi golf lại quá cao vượt khả năng chi tiêu của họ, nên thò trường golf ø

khác. Chiến lược chỉ tạo ra các khung để hướng dẫn tư duy để hành động.
Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về quản trò chiến lược xuất phát từ
nhiều cách tiếp cận khác nhau, mà phổ biến là: quản lý chiến lược là quá trình
nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như tương lai, hoạch đònh các mục tiêu
của tổ chức; đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết đònh nhằm đạt
được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như tương lai nhằm tăng thế
lực cho doanh nghiệp.
Chiến lược phát triển của một ngành kinh tế được xem là một công cụ nhằm
tác động đến bản chất của quá trình phát triển của một ngành. Chiến lược phải có
tác dụng làm thay đổi hệ thống của ngành, từ những thay đổi về lượng sẽ dẫn đến
thay đổi về chất của hệ thống. Đó là sự thay đổi về mục tiêu, cơ cấu, cơ chế hoạt
động của một ngành, những thay đổi này tạo cho ngành có được những tính chất
mới. Những thay đổi của một ngành kinh tế không thể diễn ra trong một thời gian
ngắn mà đòi hỏi phải có một thời gian tương đối dài khoảng từ 7 đến 15 năm tùy
những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể.
Theo tài liệu nghiên cứu của bộ kế hoạch và đầu tư , thông thường một chiến
lược phát triển có thể mô tả như bản phát thảo quá trình phát triển nhằm đạt những
mục tiêu đã đònh cho từng thời kỳ từ 10 đến 20 năm; nó hướng dẫn các nhà hoạch
đònh chính sách trong việc huy động và phân bổ các nguồn lực. Như vậy có thể nói
chiến lựơc cung cấp “một tầm nhìn” của một quá trình phát triển mong muốn và sự
nhất quán trong các biện pháp tiến hành. Chiến lược có thể là cơ sở cho các kế
hoạch phát triển toàn diện ngắn và trung hạn, hoặc là một nhận thức tổng quát
không bò ràng buộc của những người trong cuộc về những triển vọng, những thách
thức và những đáp ứng mong muốn. Quy trình xây dựng một chiến lược phát triển
ngành thể hiện ở phần (phụ lục số 2). 16
Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay không doanh nghiệp nào không cần đến
chiến lược, vì các chiến lược có vai trò rất quan trọng là bảo đảm cho các doanh


17
trong hệ thống tập đoàn trên toàn thế giới, từ đó làm gia tăng lợi ích cho khách
hàng và thò trường golf mở rộng dễ dàng hơn.
Chiến lược tăng trưởng tập trung theo hướng phát triển sản phẩm
Trong thời đại toàn cầu hóa, các doanh nghiệp kinh doanh theo hình thức đa
ngành nghề, đa chức năng. Tương ứng như vậy, các câu lạc golf chuyển hướng kinh
doanh đa dạng hơn, trong câu lạc bộ dòch vụ golf là một hạng mục kinh doanh bên
cạnh các mục kinh doanh khác như: dòch vụ ăn uống, ngủ nghỉ, luyện tập thể thao,
vui chơi và giải trí...Đây là chiến lược phát triển sản phẩm nhằm tìm cách tăng
trưởng doanh nghiệp thông qua việc phát triển sản phẩm mới cho thò trường hiện
tại. Chiến lược này được áp dụng rộng rãi ở các sân golf trên thế giới, đặc biệt các
nước mới phát triển như: Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan. Nhờ tạo ra nhiều sản
phẩm mới trong câu lạc bộ golf, trong đó xây dựng biệt thự dùng để bán hoặc cho
thuê đã nâng cao hiệu quả các doanh nghiệp kinh doanh ngành dòch vụ Golf.
Chiến lược kết hợp theo chiều ngang
Trong nền kinh tế thò trường, các doanh nghiệp phải chấp nhận quy luật cá lớn
nuốt cá bé. Dựa vào quy luật này, các câu lạc bộ golf trên thế giới tìm kiếm quyền
sở hữu hoặc kiểm soát đối với các sân golf khác bằng cách mua lại hay chiếm lónh
quyền kiểm soát bằng tiềm lực kinh tế hùng mạnh, khi họ không có khả năng triển
khai một trong các chiến lược tăng trưởng tập trung vì các thò trường đã bão hòa.
Chiến lược kết hợp theo chiều ngang thích hợp khi cơ hội sẵn có phù hợp với các
mục tiêu và các chiến lược dài hạn mà câu lạc bộ golf đang áp dụng. Thực hiện
chiến lược này cho phép củng cố vò thế câu lạc bộ golf, mở rộng thò trường, tận
dụng mọi tiềm năng của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho câu lạc bộ golf phát triển
cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Các câu lạc bộ golf thuộc các nước ở châu Âu, Bắc
Mỹ là ví dụ điển hình.
Chiến lược liên doanh
Bài học cạnh tranh trên thương trường đã dạy cho các doanh nghiệp biết rằng,
muốn tồn tại và phát triển phải liên doanh, liên kết với nhau để chống lại các đối
19
C
C
H
H
Ư
Ư
Ơ
Ơ
N
N
G
G
M
M
O
O
Â
Â
I
IT
T
R
R
Ư
Ư
Ơ
Ơ
Ø
Ø
N
N
G
GK
K

N
N
G
G
A
A
Ø
Ø
N
N
H
HD
D


C
C
H
HV
V
U
U
Ï
Ï

N
N
G
GN
N
A
A
I
I
2.1 Khái quát về ngành dòch vụ Golf tỉnh Đồng Nai
2.1.1 Quy mô đầu tư
Hiện nay, Đồng Nai có hai dự án sân golf đi vào hoạt động với số vốn thực
hiện 29.436.000 USD, chiếm 57% so với tổng số vốn đăng ký. Quy mô đăng ký hai
dự án tương đối lớn, một sân 27 lỗ golf và một sân 36 lỗ, nhưng mức độ đã đầu tư
còn thấp so với luận chứng kinh tế kỹ thuật của từng sân golf, các chủ dự án chỉ tập
trung đầu tư vào công trình sân golf còn các công trình phụ trợ phục vụ kinh doanh
như: nhà câu lạc bộ, khu vila, khu thể thao chưa quan tâm đầu tư đúng tiêu chuẩn
phục vụ. Lượng vốn đầu tư hai sân golf qua các năm như sau:
Bảng 2.1: Lượng vốn đầu tư các sân golf ở Đồng Nai qua các năm
ĐVT: USD


20
Số vốn đầu tư trên được sử dụng cho các khoản mục: giải phóng mặt bằng đền
bù giải tỏa chiếm 10%, xây dựng sân golf chiếm 60%, xây dựng các công trình phụ
trợ như nhà câu lạc bộ, khu vila, văn phòng làm việc... chiếm 15%, còn lại 15%
dùng mua máy móc thiết bò và vốn lưu động. Vì hai nhà đầu tư sân golf ở tỉnh Đồng
Nai chưa có kinh nghiệm xây dựng sân golf, việc tiến hành khảo sát đòa chất, môi
trường ban đầu chưa thấu đáo nên thời gian thi công kéo dài làm tăng chi phí đầu
tư, ảnh hưởng hiệu quả kinh doanh sau này.
Thật ra, mức độ đầu tư của các sân golf ở tỉnh Đồng Nai chưa đúng tầm, do thò
trường golf Việt Nam quá nhỏ, hơn nữa các sân golf ở Đồng Nai đi vào hoạt động
đúng thời điểm khủng hoảng tài chính khu vực nên thò trường golf phát triển rất
chậm, công suất sử dụng sân golf đạt thấp. Vì thế, các nhà đầu tư đã kéo dài thời
gian xây dựng để chờ thời cơ. Tuy nhiên, thò trường golf hai năm gần đây có bước
phát triển và khả năng sẽ phát triển nhanh trong tương lai, nên từ cuối năm 2004
các sân golf ở Đồng Nai đã chuẩn bò tăng tốc đầu tư để tạo ra những sản phẩm chất
lượng có khả năng cạnh tranh với các đối thủ trong vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam.
2.1.2 Lượng khách chơi golf
Theo số liệu Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Đồng Nai, biểu đồ số lượng khách chơi
golf của hai sân golf ở Đồng Nai thời gian qua phụ thuộc vào biểu đồ tăng trưởng
thò trường golf khu vực các tỉnh phía Nam. Vì vậy, khi thò trường golf khu vực bắt
đầu phục hồi vào năm 1999 sau thời gian trầm lắng, cũng là lúc lượng khách ở các
sân golf ở Đồng Nai bắt đầu gia tăng và đến năm 2004 số lượt khách đạt 51.363,
chiếm tỷ lệ 22% thò phần khu vực các tỉnh phía Nam và số lượng khách chơi golf ở
Đồng Nai qua các năm như sau:
Bảng 2.2 : Số lượng khách chơi golf ở Đồng Nai qua các năm
ĐVT: người
1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 6 tháng-2005
Sân golf
Bochang

Nai và các tỉnh lân cận, nhưng khách chơi golf chiếm vò trí hàng đầu ở tỉnh Đồng
Nai là người Hàn Quốc, kế đến mới là Đài Loan và Nhật Bản. Theo báo cáo của
hội thương gia Hàn Quốc tại Việt Nam, đa số người Hàn Quốc công tác tại Việt
Nam, dù ít hay nhiều đều có tham gia chơi golf, nên tỉ lệ bình quân khách Hàn
Quốc chơi golf tại Đồng Nai trong năm 2004 là 58%, xếp thứ hai là người Đài Loan
25%, người Nhật đứng vò trí thứ ba là 8%, người Việt Nam chiếm 7%, các nước
khác chiếm 2%.
Đài Loan 25%
Nhậ
t 8%
Việt Nam 7%
Khác 2%
Hàn quốc
58%
Đài Loan
25%
Nhật
8%
Việt Nam
7%
Khác
2%

Biểu đồ số 3: Cơ cấu khách chơi golf
( Nguồn:Báo cáo sân golf Long Thành ,Bochang) 22
Từ chỉ một đối tượng khách là các chuyên gia nước ngoài công tác tại Việt
Nam ở những năm sân golf mới đi vào hoạt động, đến nay thò trường golf ở Đồng

g
701,634 1,034,480 1,190,392 1,395,963 1,683,732 2,115,404 2,157,484 1,889,545
Sân golf
Long
670,000 620,000
Cộng
701,634 1,034,480 1,190,392 1,395,963 1,683,732 2,115,404 2,827,484 2,509,545
23
Bảng 2.3 b : Doanh thu dòch vụ golf chi tiết

1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 6t 2005
Dòch vụ
Golf
###### 757,980 900,292 ####### ####### ####### ####### ######
Dòch vụ ăn
uống
148,200 203,300 222,700 253,600 288,400 384,200 494,200 458,300
Dòch vụ
khác
56,800 73,200 67,400 77,400 99,200 135,100 161,000 123,100
(Nguồn: Cục Thống kêâ Đồng Nai)
Theo số liệu trên, tổng doanh thu các sân golf ở tỉnh Đồng Nai năm 2004 đạt
2.829.000 USD. Tốc độ tăng bình quân từ năm 1999 đến năm 2004 là 22%, tốc độ
tăng doanh thu phụ thuộc vào tốc độ tăng lượng khách chơi golf và đơn giá một lần

bởi kinh doanh dòch vụ sân golf cũng giống như kinh doanh khách sạn, muốn có lãi
thì công suất sử dụng phải trên 45%.
Bên cạnh doanh thu dòch vụ chơi golf, các sân golf còn thu các khoản dòch vụ
phụ trợ. Dòch vụ phụ một mặt làm tăng doanh thu sân golf, mặt khác làm hấp dẫn
thêm dòch vụ chơi golf và đồng thời không thể thiếu được trong kinh doanh sân
golf. Doanh thu dòch vụ phụ ở các sân golf Đồng Nai thời gian qua chiếm dưới 25%
tổng doanh thu. Tuy nhiên, với sự đầu tư mở rộng các công trình phụ trợ trong
tương lai, doanh thu dòch vụ phụ sẽ chiếm tỉ lệ ngày càng cao trong cơ cấu doanh
thu sân golf.
2.1.4 Số lượng hội viên chơi golf
Trên thế giới có hai mô hình kinh doanh sân golf, mô hình có bán thẻ hội
viên và mô hình không bán thẻ hội viên. Ở Việt Nam nói chung và Đồng Nai nói
riêng, các sân golf đều áp dụng mô hình bán thẻ hội viên. Doanh thu thẻ hội viên
thực chất là doanh thu thu tiền trước dòch vụ chơi golf, nó mang lại lợi ích cho cả
nhà đầu tư lẫn khách chơi golf. Đối với hội viên, họ được hưởng một số quyền lợi
nhất đònh ở sân golf, trong đó có quyền lợi chơi golf với mức phí thấp. Đối với nhà
đầu tư, có nguồn thu ban đầu tương đối lớn giúp ổn đònh tình hình tài chính sân golf.
Do nằm vò trí bất lợi so với các sân golf khác, nên các sân golf ở Đồng Nai chú
trọng tiêu thụ thẻ hội viên ngay từ ngày đầu kinh doanh và tình hình tiêu thụ thẻ
hội viên qua các năm như sau:
Bảng 2.4 : Số lượng thẻ hội viên các sân golf ở Đồng Nai qua các năm
ĐVT: thẻ
1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004
Sân golf
Bochang
56 21 31 47 117 51 52
Sân golf Long
Thành
20 50 150
Cộng

như các thành phần kinh tế khác làm cho họ yên tâm làm ăn lâu dài ở Việt Nam.
Hơn nữa, Chính phủ luôn đưa ra các chính sách cải thiện môi trường đầu tư, làm
môi trường đầu tư hấp dẫn hơn. Điều này sẽ tác động đến tình hình thu hút đầu tư
nước ngoài ở Đồng Nai và các tỉnh lân cận, đồng thời tác động đến thò trường golf
ở Đồng Nai là các chuyên gia làm việc cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản luật cũng
như các nghò đònh, thông tư đã tạo nên hành lang pháp lý cho hoạt động kinh
doanh. Với xu thế hội nhập vào nền kinh tế thế giới, trong thời gian tới Việt Nam
sẽ gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới nên Quốc hội Việt Nam đã và đang sửa
nhiều quy đònh, luật có nội dung phù hợp thông lệ quốc tế, tạo sự bình đẳng giữa
các doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh, trong đó có ngành
dòch vụ Golf ở tỉnh Đồng Nai.
Tuy nhiên, do quan điểm xem dòch vụ golf là dòch vụ cao cấp, dòch vụ phục vụ
những người thuộc tầng lớp thượng lưu hoặc người nước ngoài, nên các nhà làm
luật Việt Nam xếp dòch vu golf vào nhóm dòch vụ áp dụng mức thuế suất cao. Mứùc

Trích đoạn Các chiến lược phát triển ngành dịch vụ Golf Đồng Nai đến năm Chiến lược phát triển thị trường Các kiến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status