1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
NGUYỄN THỊ VÂN
VẬN DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ ĐỂ HOÀN THIỆN
VIỆC LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH
CHO CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NIÊM YẾT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2020
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
NGUYỄN THỊ VÂN
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Vân
4
LỜI CẢM ƠN
Luận án này được hoàn thành là kết quả của những nỗ lực nghiên cứu bền bỉ,
nghiêm túc của tác giả sau ba năm học tập, nghiên cứu cùng với sự giúp đỡ cả về vật
chất và tinh thần, những lời động viên vô cùng đáng quý của gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp.
Trước hết, tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô Khoa Kế toán Học viện
Tài chính, các nhà khoa học, các đồng nghiệp đã luôn nhiệt tình cung cấp cho tôi tài
liệu chuyên môn bổ ích cũng như các ý kiến đóng góp vô cùng quý giá để tôi hoàn
thành Luận án này. Đặc biệt, tôi vô cùng biết ơn hai thầy, cô hướng dẫn là PGS.TS
Đoàn Vân Anh và TS. Lê Văn Liên đã giúp tôi có định hướng nghiên cứu rõ ràng và tư
duy khoa học vững vàng trong suốt thời gian thực hiện luận án này.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các công ty chứng khoán, các nhà đầu tư,
các kiểm toán viên, các thẩm định viên về giá, các nhà nghiên cứu đã dành thời gian
cho các cuộc phỏng vấn, hoặc trả lời phiếu khảo sát, quý vị đã góp phần đã tạo điều
kiện giúp đỡ để tôi có được những dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu của Luận án.
Trân trọng cảm ơn!
5
6
Doanh nghiệp
Enterprise
GTHL
Giá trị hợp lý
Fair value
HCA
Kế toán theo giá gốc
History Cost Accounting
IFRS
Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
International Financial
Reporting Standards
IASB
Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế
International Accounting
Standard Board
US. Generally Accepted
nhận
Accounting Principles
7
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƢƠNG I. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO
1
24
CÁO TÀI CHÍNH THEO GIÁ TRỊ HỢP LÝ
1.1. Khái quát chung về hệ thống Báo cáo tài chính
24
1.1.1. Khái niệm Báo cáo tài chính
24
1.1.2. Mục đích, tác dụng của hệ thống Báo cáo tài chính
25
1.3.2. Phương pháp lập và trình bày các chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính
55
theo giá trị hợp lý
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến lập và trình bày Báo cáo tài chính theo
61
giá trị hợp lý
1.5. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới khi vận dụng giá trị hợp
64
lý và bài học cho Việt Nam
1.5.1. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới đối với vận dụng giá trị
64
hợp lý khi lập và trình bày Báo cáo tài chính
1.5.2. Bài học kinh ngiệm cho Việt Nam khi lập và trình bày Báo cáo tài
74
chính theo giá trị hợp lý
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ KHI
LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG
77
96
giá trị hợp lý tại các công ty chứng khoán niêm yết của Việt Nam
2.3. Đánh giá thực trạng
106
2.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng giá trị hợp lý khi lập và
110
trình bày Báo cáo tài chính cho công ty chứng khoán tại Việt Nam
2.4.1. Về yếu tố thị trường hoạt động
110
2.4.2. Yếu tố văn hóa
111
2.4.3. Yếu tố nhân sự
112
2.4.4. Về trình độ quản lý
112
2.4.5. Về khả năng áp dụng
3.3. Các giải pháp hoàn thiện lập và trình bày Báo cáo tài chính cho các
120
công ty chứng khoán niêm yết của Việt Nam khi vận dụng giá trị hợp lý
3.3.1. Giải pháp hoàn thiện quy định pháp lý của Việt Nam về lập và
120
trình bày Báo cáo tài chính khi vận dụng giá trị hợp lý
3.3.2. Hoàn thiện về việc đo lường các chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính
129
9
3.3.3. Hoàn thiện về việc ghi nhận chênh lệch đánh giá lại các chỉ tiêu
132
trên Báo cáo tài chính sau khi xác định theo giá trị hợp lý tại các công ty
chứng khoán niêm yết
3.3.4. Hoàn thiện việc lập và trình bày thông tin trên Báo cáo tài chính
133
3.4. Lộ trình áp dụng
139
149
KẾT LUẬN
151
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
153
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
154
10
CÁC PHỤ LỤC
Phụ lục 01Danh sách các công ty chứng khoán niêm yết
1
Phụ lục 02Danh sách các chuẩn mực kế toán Việt Nam
2
Phụ lục 03Danh mục các chuẩn mực kế toán
4
Phụ lục 11Kết quả khảo sát các kiểm toán viên và thẩm định viên về giá
40
Phụ lục 12
Kết quả khảo sát các nhà đầu tư
44
Phụ lục 13
Kết quả khảo sát các nghiên cứu viên và các chuyên gia Bộ Tài chính
49
Phụ lục 14
Hộp thông tin
53
Phụ lục 15
Trích dẫn báo cáo tài chính của công ty chứng khoán SSI
11
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
78
80
Nam
Biểu đồ 2.3
So sánh số lượng CTCK niêm yết so với các công ty
80
chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Biểu đồ 2.4
Doanh thu, lợi nhuận của CTCK Việt Nam
82
Biểu đồ 2.5
Cơ cấu doanh thu của các công ty chứng khoán trong năm
83
2017
Biểu đồ 2.6
Doanh thu từ các nghiệp vụ trong CTCK qua các năm
83
Việc ghi nhận và trình bày các chỉ tiêu chi phí liên quan
105
đến giá trị hợp lý trên BCTC
Biểu đồ 3.01
Khuôn mẫu xác định GTHL
131
13
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Báo cáo tài chính (BCTC) là sản phẩm của kế toán tài chính, là đầu ra của hệ
thống thông tin kế toán tài chính. Mục đích của BCTC là cung cấp thông tin tài
chính hữu ích về doanh nghiệp (DN) cho những người quan tâm và sử dụng BCTC.
BCTC là nguồn thông tin quan trọng trong việc ra quyết định đầu tư.
Theo xu hướng chung của nền kinh tế toàn cầu, hầu hết các nước đều áp
dụng thông lệ quốc tế về kế toán và được các nước sử dụng như một ngôn ngữ
chung để đo lường, ghi nhận và trình bày thông tin BCTC DN. Thông lệ quốc tế về
kế toán như chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS)/chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
(IFRS), giá trị hợp lý (GTHL) được sử dụng ngày càng nhiều trong đo lường, ghi
nhận và trình bày thông tin các yếu tố của BCTC như IAS 16 – TSCĐ hữu hình;
IAS 36 – Suy giảm giá trị tài sản; IAS 38 – Tài sản vô hình; IAS 40 - Bất động sản
đầu tư; IFRS 2 – Thanh toán trên cơ sở cổ phiếu; IFRS 9 – Xác định giá trị công cụ
tài chính; IFRS 07 - Thuyết minh về công cụ tài chính; IFRS 05 - Tài sản nắm giữ
mới và khó đối với Việt Nam. Thực tế hiện nay, hầu hết các DN đều sử dụng giá
gốc cho việc ghi nhận và trình bày BCTC trên cơ sở tuân thủ quy định của 26
chuẩn mực kế toán (CMKT) Việt Nam (VAS) và hướng dẫn của Thông tư
200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014.
Riêng đối với các công ty chứng khoán (CTCK), từ năm 2017 bắt đầu áp
dụng GTHL khi ghi nhận, đo lường và trình bày BCTC theo hướng dẫn của Thông
tư 210/2014/TT-BTC và Thông tư 334/2016/TT-BTC. Các thông tư này đã bước
đầu tiếp cận GTHL cho các tài sản tài chính, đã có quy định về việc ghi nhận
GTHL của tài sản tài chính tại thời điểm lập BCTC, tuy nhiên những quy định của
Việt nam về lập và trình bày BCTC DN nói chung và các CTCK niêm yết nói riêng
vẫn còn tồn tại khoảng cách đáng kể so với những quy định khuôn mẫu của quốc tế
do Việt Nam còn thiếu quá nhiều các quy định khuôn mẫu về GTHL áp dụng cho
các đối tượng đã phát sinh liên quan đến các loại giao dịch như thanh toán bằng cổ
phiếu, công cụ tài chính, tổn thất tài sản…Bên cạnh đó, những CMKT đã ban hành
và các thông tư hướng dẫn kế toán thì chưa có quy định cụ thể liên quan tới việc
đánh giá lại tài sản và nợ phải trả theo GTHL tại thời điểm lập báo cáo, đặc biệt vấn
đề hạ tầng thông tin cho việc xác định GTHL của tài sản và nợ phải trả ở Việt Nam
còn nhiều giới hạn bởi những yếu tố thuộc về thị trường hoạt động, các kỹ thuật
định giá chưa được nghiên cứu và hoàn thiện để phù hợp thông lệ quốc tế. Sự thiếu
đồng bộ trong các chính sách của nhà nước đã gây khó khăn cho DN trong các vấn
đề về kế toán. Do đó, việc xác định GTHL và ghi nhận, trình bày thông tin các yếu
tố trên BCTC theo GTHL ở các DN nói chung và tại các CTCK niêm yết của Việt
Nam nói riêng hiện nay còn nhiều điều bất cập, hệ quả làm suy giảm tính trung
thực, hợp lý của BCTC và chưa phù hợp với khuôn mẫu IAS/IFRS.
Để vận hành được nguyên tắc “GTHL” trong thực tiễn kế toán ở Việt Nam,
đảm bảo phù hợp với thông lệ chung của quốc tế, qua đó triển khai được quy định
của Luật kế toán Việt Nam, đưa nguyên tắc “GTHL” vào thực tiễn cuộc sống thì
việc nghiên cứu cơ sở lý luận, điều kiện, phương pháp vận dụng “GTHL” khi lập và
trình bày BCTC trở thành một vấn đề cấp thiết. Đề tài lựa chọn khách thể nghiên
nên phổ biến. Mặc dù nguyên tắc kế toán GTHL đã được hợp pháp hóa áp dụng
rộng rãi, mọi người cho rằng có được như vậy là do có cơ sở xác định giá trị hỗn
hợp trước đó.
Theo Peter William (41), nền tảng của CMKT là từ nguyên tắc giá gốc sang
nguyên tắc GTHL theo đó quyết định của nhà đầu tư dựa theo dòng tiền trong
tương lai. Báo cáo theo giá gốc đã được thay thế bằng báo cáo theo “giá trị hỗn
hợp”. Tác giả khẳng định rằng cơ sở giá trị hỗn hợp chứ không phải là cơ sở giá
gốc và cơ sở giá hiện hành sẽ trở thành phổ biến cho BCTC bắt đầu từ thế kỷ 19.
16
Christian Laux (22) khủng hoảng tài chính gần đây là một trong những
nguyên nhân dẫn đến một cuộc tranh luận mạnh mẽ về ưu điểm và nhược điểm của
kế toán GTHL (FVA). Cuộc tranh luận này đưa ra thách thức lớn đối với sự phát
triển FVA và mở rộng áp dụng kế toán theo GTHL ra các lĩnh vực khác. Tác giả
nhấn mạnh 4 vấn đề quan trọng cần xem xét từ các tranh luận này: Thứ nhất là có
hiểu nhầm về kế toán GTHL; Thứ hai là trong thời gian khủng hoảng tài chính,
không có quy định rõ ràng về việc áp dụng FVA trong CMKT IFRS hay US GAAP;
Thứ ba là kế toán theo giá gốc (HCA) không phải là cách để giải quyết các vấn đề
tồn tại; Thứ tư là các vấn đề áp dụng GTHL và các vấn đề tranh cãi.
FVA là yếu tố quan trọng trong cuộc khủng hoảng tài chính và làm cho các
tổ chức tài chính ở Mỹ và toàn thế giới trở nên tồi tệ. Tuy nhiên, những người ủng
hộ FVA cho rằng kế toán theo GTHL không phải chịu trách nhiệm của cuộc khủng
hoảng, nó không phải là cơ sở xác định giá trị duy nhất đối với giá trị tài sản.
Tác giả cho rằng việc giảm các thuyết minh về FVA theo bản chất của nó
không tuân thủ tuyệt đối như công bố của US GAAP hay IFRS đối với FVA. Cả hai
hệ thống chuẩn mực đều cho phép có sự khác biệt so với giá thị trường trong một
số trường hợp cụ thể. Tác giả khẳng định áp dụng FVA trong thực tế như việc ban
lãnh đạo DN có thể sử dụng loại giá khác so với giá trị thị trường một cách cố
cho kế toán tài chính trong tương lai. Theo như cách nhìn nhận này, một ví dụ là
Chuẩn mực IFRS số 9 - Công cụ tài chính đã đưa ra cách xác định GTHL của các
công cụ tài chính. Cơ sở khoa học cho việc lựa chọn này là nên sử dụng GTHL thì
các BCTC sẽ cung cấp thông tin hữu ích nhiều hơn cho các quyết định của nhà đầu
tư.
Theo IASB, những nhà đầu tư và những người cho vay cần các thông tin mà
sẽ giúp họ tính toán được số lượng, vòng quay và tình trạng thay đổi của các dòng
tiền thuần trong tương lai đối với DN (IASB, 2010 OB3). Trong bối cảnh như vậy,
sử dụng kế toán theo GTHL sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư những thông tin hữu
ích để tiên đoán được khả năng của các công ty sản sinh ra các dòng tiền như thế
nào từ những nguồn lực chủ yếu đang có. GTHL cũng đóng vai trò quan trọng
trong việc giảm thiểu sự mất cân đối trong việc cung cấp thông tin cho các DN và
các nhà đầu tư.
Cựu chủ tịch của IASB, ông Tweedie, lý giải lý do mở rộng GTHL như sau:
Trong một thời gian dài, các khoản thu nhập đã nỗ lực được “làm đẹp” để chỉ cho
các nhà đầu tư một xu hướng đi lên vững chắc của lợi nhuận. Trong khi cách tiếp
cận này cung cấp một mô hình đơn giản và dễ hiểu, nó dường như không đồng nhất
với thực tế. Các DN có lợi ích công chúng là các DN đa ngành nghề, vận hành
18
chuỗi các hoạt động rộng lớn và chịu các áp lực và sự thay đổi bất thường của thị
trường một cách đa dạng. Kế toán nên phản ánh những sự thay đổi bất thường và
những rủi ro này. Điều này cho thấy là sự tin tưởng GTHL đang gia tăng, khi mà
những giá trị này có thể được xác định một cách đáng tin cậy.
Kế toán theo GTHL phản ảnh tình hình thị trường hiện tại của công ty, tạo
nên mối liên hệ của nó với sự hữu ích của các quyết định (Cheng, 2009). Tuy nhiên,
nhiều người khác cho rằng giá gốc vẫn tạo ra nền tảng đo lường logic nhất cho các
BCTC, vì vậy nó sẽ thận trọng và đáng tin cậy hơn (Godfrey et al, 2010).
nhuận kỳ vọng từ các khoản đầu tư.
Mặt khác, chỉ có GTHL thì không thể giúp nhà đầu tư đánh giá được thỏa
đáng về ban giám đốc DN đối với số tiền vốn mà họ bỏ ra. Trên thực tế, người sử
dụng BCTC sẽ không biết ban giám đốc đã chi tiết hết bao nhiêu nguồn lực để có
được GTHL đó. Do đó, giá gốc sẽ hữu ích và kiểm soát được các quyết định vì nó
phản ánh số tiền đã phải chi ra. Trong cùng một khoảng thời gian xác định, hai đơn
vị khác nhau sở hữu một nguồn lực như nhau thì sẽ có cùng GTHL như nhau nhưng
GTHL không thể cung cấp thông tin cho nhà đầu tư biết DN đã thanh toán số tiền
khác nhau cho cùng một tài sản như nhau. Để đánh giá hiệu quả về ban giám đốc,
thông tin GTHL là không đủ. Người sử dụng cũng cần biết giá gốc của khoản đầu
tư.
Tóm lại, bài báo này cho rằng giá gốc và GTHL không nên coi là đối thủ của
nhau mà cả hai đều rất hữu ích. Nếu cố chọn chỉ một trong 2 thì rất khó cho người
sử dụng BCTC có được đầy đủ thông tin hữu ích cho việc ra quyết định. Vì lý do
này, hệ thống báo cáo và xác định giá song song sẽ là giải pháp tốt nhất khi đánh
giá hiệu quả đầu tư. So sánh các sự kiện trong tương lai (ví dụ GTHL) với các sự
kiện trong quá khứ (ví dụ là giá gốc) sẽ giúp người sử dụng BCTC đánh giá các
hoạt động kinh doanh đã đạt được và hoạch định các hoạt động trong tương lai và
các mục tiêu để ra quyết định.
Các nghiên cứu khoa học là nguồn thông tin rất tốt cho những người soạn
thảo chuẩn mực và làm chính sách vì việc lập BCTC thường rất phức tạp, rất khó
và rất rộng. Các nghiên cứu khoa học có thể cung cấp các giải pháp tốt, nó có thể
giúp những người soạn thảo chuẩn mực và những người hoạch định chính sách, tìm
ra các giải pháp tốt cho các vấn đề đang nghiên cứu và cung cấp thêm các bằng
chứng cho các vấn đề đang tranh cãi. Với quan điểm đó, mục đích của nghiên cứu
này nhằm thảo luận về tác dụng của GTHL đối với người sử dụng BCTC bằng cách
mô tả cơ sở lý thuyết cho việc áp dụng GTHL và cung cấp bằng chứng về tác dụng
của GTHL cho nhà đầu tư. Nghiên cứu này còn đưa ra các đề xuất cho những
trong đó có khái quát lịch sử của GTHL; Các quan điểm về GTHL; Áp dụng GTHL
trong hệ thống kế toán DN; Kinh nghiệm áp dụng GTHL trong hệ thống kế toán tại
21
một số quốc gia trên thế giới. Đề tài đã phân tích về thực trạng các quy định hiện
hành về GTHL và áp dụng GTHL trong hệ thống kế toán DN ở Việt Nam. Ngoài ra,
đề tài đã đề xuất việc áp dụng GTHL trong hệ thống kế toán Việt Nam. Cụ thể đề
tài đã phân tích về bối cảnh chi phối đến khả năng áp dụng GTHL trong hệ thống
kế toán ở Việt Nam trong thời gian tới, đề xuất các quy định pháp lý về GTHL
trong hệ thống kế toán Việt Nam, đề xuất các giải pháp áp dụng GTHL ở DN Việt
Nam, khuyến nghị lộ trình và các điều kiện áp dụng GTHL trong hệ thống kế toán
Việt Nam.
2.2 Nghiên cứu về đo lường theo giá trị hợp lý trong kế toán
David Cairns (23) đã thực hiện điều tra việc xác định GTHL của 228 công ty
niêm yết trên TTCK Anh và Australia trong thời gian áp dụng IFRS năm 2005. Tác
giả đã so sánh giữa các công ty lựa chọn chính sách bắt buộc áp dụng GTHL hoặc
khuyến khích áp dụng GTHL. Yêu cầu bắt buộc áp dụng FVA liên quan đến các
công cụ tài chính (IAS 39) và thanh toán trên cơ sở cổ phiếu (IFRS 2) đã tăng khả
năng so sánh. Lựa chọn khuyến khích áp dụng GTHL liên quan đến bất động sản
(IAS 16) dẫn đến có nhiều sự khác biệt do nhiều công ty không áp dụng GTHL.
Lựa chọn sử dụng GTHL đối với các tài sản vô hình, tài sản hữu hình, bất động sản
đầu tư không được thực hiện bắt buộc, hoặc phải xác định giá trị liên tục. Tác giả
chỉ ra do cách tiếp cận quá thận trọng và thiếu sự khuyến khích tất cả các DN áp
dụng GTHL.
Việc so sánh giữa các công ty là vấn đề cổ đông rất quan tâm vì khả năng có
thể so sánh để có thông tin tài chính chất lượng cao. Liên quan đến quy định bắt
buộc áp dụng FVA, tác giả thấy rằng có sự tăng lên trong việc sử dụng GTHL đối
việc lựa chọn mô hình tính giá trong hệ thống kế toán ở mỗi quốc gia là rất quan
trọng trên cơ sở phù hợp điều kiện kinh tế, xã hội và đảm bảo hài hòa với hệ thống
kế toán các nước trong khu vực và trên thế giới.
Nguyễn Thế Lộc (9) có quan điểm về tính thích hợp và tính đáng tin cậy
trong các quy định đo lường giá trị tài sản, nợ phải trả theo chuẩn mực BCTC quốc
tế có liên quan đến GTHL. Tác giả cho rằng GTHL ngày càng được sử dụng rộng
rãi trong việc xác định giá trị của các yếu tố trên BCTC trong những năm gần đây.
Việc sử dụng GTHL chỉ thích hợp và đáng tin cậy khi thông tin về GTHL của tài
sản hoặc nợ phải trả có thể đảm bảo cân đối được các đặc tính chất lượng của thông
tin cần có cũng như đáp ứng được yêu cầu thông tin hữu ích của các đối tượng sử
dụng BCTC.
2.3 Nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng khi áp dụng giá trị hợp lý
Một số nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng khi áp dụng GTHL trong số
đó có Nguyễn Ngọc Lan (8) đã hệ thống hóa lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến
việc áp dụng GTHL trong kế toán tại các DN. Luận án đã xây dựng và kiểm định
hệ thống các nhân tố thuộc nhận thức của các DN ảnh hưởng đến sự ủng hộ áp
dụng GTHL trong kế toán, cũng như mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố với
nghiên cứu điển hình tại các DN Việt Nam. Ngoài ra, có một số nghiên cứu về nhân
tố ảnh hưởng khi áp dụng GTHL trong đó Trần Văn Tùng (11) khẳng định trong xu
thế hội nhập, quốc tế hóa hiện nay các DN Việt Nam cần cung cấp được BCTC
(BCTC) phù hợp với thông lệ quốc tế, mà ở đó thông tin của tài sản và nợ phải trả
được yêu cầu trình bày theo nguyên tắc GTHL nhiều hơn là giá gốc.Tuy nhiên, trên
thực tế, GTHL lại được rất ít các DN Việt Nam vận dụng, chính điều