Pháp luật về thi hành án kinh doanh thương mại từ thực tiễn quận cầu giấy, thành phố hà nội - Pdf 61

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN KINH DOANH
THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN QUẬN CẦU GIẤY,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TRẦN THỊ MAI THƯƠNG

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN VĂN LUẬT

HÀ NỘI – 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung
thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài
chính theo quy định của Trường Đại học Mở Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Sau Đại học xem xét để tôi có
thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Ngày

tháng năm 2019

Tác giả luận văn


MẠI .............................................................................................................................7
1.1.Một số vấn đề lý luận về pháp luật thi hành án kinh doanh thương mại ..............7
1.1.1.Khái niệm pháp luật thi hành án kinh doanh thương mại .................................7
1.1.2.Khái niệm pháp luật thi hành án kinh doanh thương mại ...............................13
1.2. Chủ thể của hoạt động thi hành án kinh doanh thương mại...............................14
1.2.1. Cơ quan thi hành án dân sự ............................................................................14
1.2.2. Chấp hành viên ...............................................................................................16
1.2.3. Người được thi hành án ..................................................................................19
1.2.4. Người phải thi hành án ...................................................................................21
1.2.5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ..........................................................22
1.2.6. Các chủ thể khác .............................................................................................23
1.3. Nguyên tắc cơ bản trong thi hành án kinh doanh thương mại ...........................23
1.3.1. Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định ....................................24
1.3.2. Nguyên tắc bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ....................................................................................24
1.3.3. Nguyên tắc kết hợp biện pháp tự nguyện và cưỡng chế thi hành án ..............25
1.3.4. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ......................................................................25
1.3.5. Nguyên tắc phối hợp .......................................................................................26
1.3.6. Nguyên tắc thỏa thuận ....................................................................................26
1.3.7. Nguyên tắc giám sát ........................................................................................28
1.4. Các yếu tố đảm bảo thi hành án kinh doanh thương mại ...................................28
1.4.2. Đội ngũ Chấp hành viên, công chức thi hành án dân sự ................................30
1.4.3. Cơ chế phối hợp của các cơ quan, tổ chức .....................................................30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1..........................................................................................32


Chương 2: MỘT SỐ NỘI DUNG CHÍNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THI
HÀNH ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI ...........................................................33
2.1. Thẩm quyền thi hành án kinh doanh thương mại ..............................................34
2..2. Ra quyết định thi hành án kinh doanh thương mại ...........................................37

3.3.2. Về một số khó khăn, vướng mắc: ....................................................................75
3.4. Phương hướng, biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành án kinh doanh thương
mại tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội ....................85
3.4.1. Phương hướng nâng cao hiệu quả thi hành án kinh doanh thương mại tại quận
Cầu Giấy ....................................................................................................................85
3.4.2. Biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành án kinh doanh thương mại tại quận
Cầu Giấy ...................................................................................................................87
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3..........................................................................................94
KẾT LUẬN ...............................................................................................................96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................98


MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Quận Cầu Giấy nằm ở phía tây thành phố Hà Nội (dưới đây viết tắt là Quận
Cầu Giấy); được thành lập theo Nghị định số 74-CP ngày 22/11/1996 của Chính
Phủ và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/9/1997; phía Đông giáp quận Đống
Đa và quận Ba Đình, phía Tây giáp hai quận NamTừ Liêm và Bắc Từ Liêm, phía
Nam giáp quận Thanh Xuân và phía Bắc giáp quận Tây Hồ. Tính đến năm 2017,
quận Cầu Giấy có diện tích 12,04 km2, dân số 266.800 người, mật độ dân số 22.159
người/km2 [49].
Trong những năm qua, quận Cầu Giấy có tốc độ phát triển kinh tế nhanh và
khá toàn diện, tạo được sự chuyển dịch quan trọng về cơ cấu theo đúng định hướng:
từ “Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng - thương mại, dịch vụ - nông
nghiệp” nay chuyển sang “Dịch vụ - Thương mại và Công nghiệp - Xây dựng” với
nhiều doanh nghiệp đóng trên địa bàn. Việc phát triển kinh tế với tốc độ nhanh làm
thay đổi diện mạo của quận Cầu Giấy, nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa của nhân
dân nhưng đồng thời với những thành quả đạt được thì sự phát triển đó kéo theo hệ
quả là các tranh chấp kinh tế xảy ra ngày càng đa dạng và phức tạp mà trọng tâm là
các tranh chấp về kinh doanh thương mại.

Nam hiện nay” của Trần Mạnh Quân năm 2008 [35], trong luận án tác giả đã đưa ra
nhiều định hướng để hoàn thiện quy định, nhiều định hướng cũng đã được cụ thể
hóa trong các văn bản hướng dẫn về công tác THA dân sự ban hành sau đó;
- Luận án Tiến sĩ Luật học: “Hoàn thiện pháp Luật Thi hành án dân sự ở
Việt Nam hiện nay”, của Nguyễn Thanh Thủy (2008) [37], Luận án đã đưa ra được
nhiều vấn đề khó khăn, bất cập và đưa ra hướng hoàn thiện pháp Luật Thi hành án
dân sự ở Việt Nam hiện nay.
- Luận án Tiến sĩ Luật học: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cưỡng
chế thi hành án dân sự ở Việt Nam” của Lê Anh Tuấn năm 2017 [39]. Luận án đã
đưa ra được nhiều vấn đề mà pháp luật hiện nay vẫn chưa có hướng giải quyết, gây
2


khó khăn cho công tác cưỡng chế THA trên thực tiễn.
Bên cạnh đó là Giáo trình môn Luật tố tụng dân sự của trường Đại học Luật
Hà Nội và các trường Đại học có chuyên ngành luật; một số bài viết đăng trên các
tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật…
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã có nội dung nghiên cứu về THADS ở
những khía cạnh, góc độ và mức độ khác nhau. Một số công trình cũng đã đề cập
đến việc áp dụng pháp luật trong công tác THADS ở một số địa phương nhưng chưa
có nhiều công trình nghiên cứu chung về việc áp dụng pháp luật trong công tác thi
hành án đối với các bản án kinh doanh thương mại đặc biệt là giai đoạn năm 2015
đến nay, tức từ thời điểm luật THADS năm 2008 được sửa đổi năm 2014 (Sau đây
viết là luật THADS) có hiệu lực, Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THA dân sự (Sau đây gọi
là Nghị định 62/2015/NĐ-CP) và các văn bản hướng dẫn được ban hành.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ cơ sở lý luận về thi hành án kinh doanh thương mại; nghiên
cứu, phân tích các quy định của pháp Luật Thi hành án dân sự và các quy định pháp

doanh thương mại nói chung và thực tiễn tại quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội nói
riêng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về thi hành án kinh doanh
thương mại, luận văn trực tiếp nghiên cứu làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, vai trò
và ý nghĩa của thi hành án kinh doanh thương mại; khái quát và đánh giá mức độ
hoàn thiện của các quy định pháp luật về thi hành án kinh doanh thương mại, trong
đó có sự tham chiếu với số liệu thực tiễn tại quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội; đưa
ra các định hướng và đề xuất hoàn thiện pháp luật về thi hành án kinh doanh thương
mại.
4


5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước
ta về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp, cải cách
hành chính. Luận văn sử dụng các biện pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, và các biện pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích
– tổng hợp, lịch sử, thống kê, so sánh, …
Trong thực tế, hoạt động nói chung và thi hành án kinh doanh thương mại
nói riêng ở nước ta diễn ra rất phức tạp do chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố,
trong đó nổi bật là yếu tố kinh tế và xã hội; ngoài ra, hoạt động thi hành án dân sự
về mặt lý luận còn có nhiều quan điểm khác nhau. Vì vậy, luận văn sử dụng nhiều
phương pháp nghiên cứu để có cái nhìn toàn diện và khách quan nhất đối với vấn đề
nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn hướng đến làm rõ hơn khái niệm, ý nghĩa và vai trò của các vấn đề
pháp lý về thi hành án kinh doanh thương mại ở Việt Nam hiện nay và luận giải

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH ÁN KINH
DOANH THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN
KINH DOANH THƯƠNG MẠI
1.1.

Một số vấn đề lý luận về pháp luật thi hành án kinh doanh thương mại

1.1.1. Khái niệm pháp luật thi hành án kinh doanh thương mại
Pháp luật thi hành án kinh doanh thương mại là một bộ phận của pháp luật
thi hành án dân sự, nằm trong hệ thống pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Để làm sáng tỏ khái niệm pháp luật thi hành án kinh doanh thương
mại chúng ta cần làm sáng tỏ một số khái niệm có liên quan như khái niệm thi hành
án kinh doanh thương mại, khái niệm pháp luật.
Về khái niệm thi hành án kinh doanh thương mại:
Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ
quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức cá nhân hữu quan phải nghiêm
chỉnh chấp hành (theo quy định tại Điều 106 Hiến pháp năm 2013) [01]. Điều này
có thể hiểu đơn giản là bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì phải
được thực thi và giải quyết triệt để trên thực tế.
Xuất phát từ nguyên tắc Hiến định nêu trên và yêu cầu khách quan trong hoạt
động của Nhà nước, hoạt động thi hành án nói chung và hoạt động thi hành án dân
sự nói riêng chính là sự đảm bảo cho các bản án, quyết định được thi hành trên thực
tế. Trong đó, hoạt động thi hành án dân sự có hiệu quả góp phần bảo đảm tính
nghiêm minh của pháp luật; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức
và lợi ích của Nhà nước, qua đó góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự xã hội,
tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ và

Chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc
thi hành án và được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và
uy tín (theo quy định tại Điều 17 và Điều 20 Luật Thi hành án dân sự). Các cá nhân,
cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình chấp hành
8


nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc
thi hành án (Điều 4 Luật Thi hành án dân sự) [05]..
Thủ tục thi hành án dân sự được thực hiện theo trình tự quy định cụ thể tại
chương III Luật Thi hành án dân sự, có thể đơn giản hóa như sau: Việc thi hành án
dân sự bắt đầu khi Cơ quan Thi hành án dân sự nhận bản án, quyết định do Tòa án
có thẩm quyền chuyển hoặc nhận yêu cầu thi hành án của người được thi hành án,
người phải thi hành án (thời hiệu yêu cầu thi hành án 05 năm). Sau khi kiểm tra tính
hợp lệ, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án ra quyết định thi hành án và phân công cho
Chấp hành viên tổ chức thi hành. Việc thi hành án được thi hành xong khi các
đương sự đã thực hiện xong quyền và nghĩa vụ của mình hoặc có quyết định đình
chỉ thi hành án theo quy định tại Điều 52 Luật Thi hành án dân sự.
Dưới góc độ lý luận, hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về thi hành
án dân sự:
Có quan điểm cho rằng thi hành án dân sự là một dạng hoạt động tư pháp.
Quan điểm này cho rằng thi hành án dân sự là hoạt động tiếp nối hoạt động xét xử,
giải quyết tranh chấp, đóng vai trò thực thi trên thực tế các bản án, quyết định của
cơ quan xét xử, cơ quan giải quyết tranh chấp; hoạt động thi hành án dân sự là hoạt
động độc lập – là đặc trưng của hoạt động tư pháp; hoạt động thi hành án dân sự do
cơ quan thi hành án dân sự - một trong các cơ quan thực hiện quyền tư pháp của
Nhà nước thực hiện.
Có quan điểm cho rằng, thi hành án dân sự là một dạng hoạt động hành
chính. Quan điểm này cho rằng thi hành án dân sự là hoạt động mang tính điều hành
– chấp hành, là đặc trưng của hoạt động hành chính; là hoạt động thực hiện quyết

là các Cục thi hành án dân sự và Chi cục thi hành án dân sự thực hiện.
- Thi hành án dân sự là hoạt động có tính quản lý, bởi vì thi hành án dân sự
luôn đòi hỏi các yếu tố kế hoạch, tổ chức, đôn đốc, kiểm tra, xử lý, … tác động tới
người phải thi hành án để người phải thi hành án tự nguyện thi hành các nghĩa vụ
của họ; trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thực hiện các nghĩa vụ
đã được xác định trong các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì có thể bị áp
dụng các biện pháp cưỡng chế để buộc họ thi hành nghĩa vụ.
- Quá trình thi hành án dân sự có sự tham gia của nhiều cá nhân, cơ quan, tổ
chức, trong đó trung tâm là các cơ quan thi hành án dân sự.
10


- Thi hành án kinh doanh thương mại là một loại việc trong thi hành án dân
sự. Các loại việc trong thi hành án dân sự được xác định trên cơ sở nội dung các các
bản án, quyết định của Tòa án.
Bản án, quyết định kinh doanh thương mại là phán quyết của Tòa án đối với
các tranh chấp được quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự, bao gồm:
- Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân,
tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ
chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
- Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch
về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.
- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa
công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội
đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên
của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập,
hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của
công ty.
- Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm

gia cấp, đồng thời đưa ra khái niệm về pháp luật: Là hệ thống các quy tắc xử sự
chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị,
được nhà nước bảo đảm thực hiện, kể cả bằng biện pháp cưỡng chế, để điều chỉnh
các quan hệ xã hội, duy trì xã hội trong một trật tự có lợi cho giai cấp thống trị [36; tr139].
Qua những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm pháp luật thi hành án kinh
doanh thương mại như sau: Pháp luật thi hành án kinh doanh thương mại là hệ
thống các quy định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh
quy tắc, hành vi xử sự chung của cơ quan thi hành án dân sự, của các cơ quan, tổ
chức, cá nhân trong quá trình tổ chức thực thi các bản án, quyết định của Tòa án về
kinh doanh thương mại.
12


1.1.2. Vai trò của pháp luật thi hành án kinh doanh thương mại
- Pháp luật thi hành án kinh doanh thương mại là phương tiện để thực thi các
bản án, quyết định có hiệu lực của tòa án trong thực tế:
Thi hành án kinh doanh thương mại là quá trình thực thi trên thực tế các bản
án, quyết định có hiệu lực pháp luật về kinh doanh thương mại của tòa án. Quá trình
này ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều cá nhân, tổ chức khác nhau mà cụ thể là người
phải thi hành án, người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Cũng như việc tổ chức thi hành án dân sự nói chung, người phải thi hành án
trong thi hành án kinh doanh thương mại thường có tâm lý để chây ỳ, trốn tránh
việc thi hành án. Do đó, trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự nói chung và thi
hành án kinh doanh thương mại nói riêng, Chấp hành viên được sử dụng quyền lực
nhà nước, thông qua việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế để tổ chức thi hành dứt
điểm các vụ việc.
Vì vậy, pháp luật về thi hành án kinh một mặt định rõ các quyền, nghĩa vụ
của các đương sự trong thi hành án kinh doanh thương mại, đặc biệt là quyền và
nghĩa vụ của người phải thi hành án; một mặt khác, pháp luật thi hành án kinh
doanh thương mại tạo hành lang pháp lý để Chấp hành viên tổ chức thi hành án hiệu

thực hiện nghĩa vụ đối với người được thi hành án, xử lý đối với các hành vi chống
đối, chây ì. Đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người được thi hành
án, đảm bảo mọi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án đều được thực
thi, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và công bằng xã hội.
1.2. Chủ thể của hoạt động thi hành án kinh doanh thương mại
1.2.1. Cơ quan thi hành án dân sự
Cơ quan thi hành án dân sự bao gồm Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành
phố thuộc trung ương, Cơ quan thi hành án dân sự huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh và Cơ quan thi hành án quân khu và tương đương.
Đối với thi hành án kinh doanh thương mại, theo quy định tại Điều 35 Luật
Thi hành án dân sự thì:
14


- Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có thẩm quyền thi hành:
+ Bản án, quyết định sơ thẩm về kinh doanh thương mại của Tòa án nhân
dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương nơi cơ quan thi hành
án dân sự có trụ sở;
+ Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương đối với bản án, quyết định sơ thẩm về kinh doanh thương mại của
Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương nơi cơ
quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở;
+ Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao đối với
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật về kinh doanh thương mại của Tòa án
nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương nơi cơ quan thi
hành án dân sự có trụ sở;
+ Bản án, quyết định về kinh doanh thương mại do cơ quan thi hành án dân
sự cấp huyện nơi khác, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành
án cấp quân khu ủy thác.
-

Chấp hành viên là chức danh do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm thông qua
trình tự, thủ tục thi tuyển, bổ nhiệm Chấp hành viên, là người được Nhà nước giao
nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định (theo quy định tại Điều 17 Luật Thi hành
án dân sự). Chấp hành viên chịu trách nhiệm chính trong nhiệm vụ tổ chức thi hành
án, giai đoạn quan trọng nhất trong quy trình tổ chức thi hành quyết định thi hành
án (theo quy định tại điểm 8.1 Quy trình tổ chức thi hành án trong nội bộ cơ quan
thi hành án dân sự được ban hành kèm theo Quyết định số 273/QĐ-TCTHADS
ngày 22/02/2017 của Tổng cục trưởng Tổng cục thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp).
Do vậy, năng lực của Chấp hành viên là yếu tố quan trọng để đảm bảo cho hoạt
động thi hành án dân sự nói chung và hoạt động thi hành án kinh doanh thương mại
nói riêng.
Theo quy định tại Thông tư số 03/2017/TT-BTP Quy định chức danh, mã số
ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chuyên ngành Thi hành án dân
16


sự thì Chấp hành viên cần có tiêu chuẩn chung về năng lực, chuyên môn, nghiệp vụ
như sau:
- Nắm vững đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chỉ
thị, nghị quyết của cấp trên để vận dụng vào công tác thi hành án dân sự, thi hành
án hành chính;
-

Nắm vững nội dung pháp luật về thi hành án dân sự, thi hành án hành

chính và áp dụng thành thạo các nguyên tắc, chế độ, thủ tục về nghiệp vụ thi hành
án trong việc tổ chức thi hành các vụ việc được giao;
-

Nắm được tình hình kinh tế, xã hội ở địa phương; thông thạo địa bàn


17


-

Triệu tập đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết

việc thi hành án.
- Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; yêu
cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài
sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên quan xử lý vật
chứng, tài sản và những việc khác liên quan đến thi hành án.
- Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế
thi hành án; lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án; thu giữ tài sản thi hành án.
- Yêu cầu cơ quan Công an tạm giữ người chống đối việc thi hành án theo
quy định của pháp luật.
- Lập biên bản về hành vi vi phạm pháp luật về thi hành án; xử phạt vi
phạm hành chính theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật,
xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi
phạm.
- Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế để thu hồi tiền, tài sản đã chi trả
cho đương sự không đúng quy định của pháp luật, thu phí thi hành án và các khoản
phải nộp khác.
-

Được sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định

của Chính phủ.
-


thực hiện nhiệm vụ thi hành án.
-

Cố ý thi hành trái nội dung bản án, quyết định; trì hoãn hoặc kéo dài thời

gian giải quyết việc thi hành án được giao không có căn cứ pháp luật [05].
1.2.3. Người được thi hành án
Người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ
trong bản án, quyết định được thi hành (theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Thi
hành án dân sự). Thực tế, trong số các việc thi hành án kinh doanh thương mại hiện
nay, người được thi hành án chủ yếu là các tổ chức tín dụng
Trong quá trình thi hành án, người được thi hành án có các quyền được quy
định tại khoản 1 Điều 7 Luật Thi hành án dân sự, gồm những quyền sau:
- Yêu cầu thi hành án, đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết
định, áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án được
quy định trong Luật Thi hành án dân sự;
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status