TRỊNH HƯƠNG GIANG
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÀ NAM
TRỊNH HƯƠNG GIANG
2015 - 2017
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÀ NAM
TRỊNH HƯƠNG GIANG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
Trịnh Hương Giang
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU ....................................................................................................1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN
KINH DOANH, THƯƠNG MẠI ..........................................................................6
1.1. Khái quát về thi hành án kinh doanh thương mại .......................................... 6
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của thi hành án kinh doanh thương mại .................... 6
1.1.2. Vai trò, ý nghĩa của thi hành án kinh doanh, thương mại............................ 7
1.2. Tổng quan pháp luật về thi hành án kinh doanh, thương mại .................... 9
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về thi hành án kinh doanh, thương mại... 9
1.2.2. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật thi hành án kinh doanh, thương mại .. 12
1.2.3. Nội dung của pháp luật thi hành án kinh doanh, thương mại .................... 20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1..................................................................................... 22
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở TỈNH HÀ NAM ............... 24
2.1. Thực trạng pháp luật về thi hành án kinh doanh, thương mại ở Việt Nam
hiện nay ............................................................................................................................. 24
2.1.1. Đối tượng thi hành án kinh doanh, thương mại ......................................... 24
2.1.2. Chấp hành viên và cơ quan thi hành án dân sự .......................................... 25
2.1.3. Ra quyết định thi hành án kinh doanh, thương mại ................................... 28
2.1.4. Trình tự, thủ tục thi hành án kinh doanh, thương mại ............................... 34
2.1.5. Giải quyết khiếu nại, tố cáo thi hành án kinh doanh, thương mại............. 43
2.2. Thực tiễn thực hiện thi hành án kinh doanh, thương mại trên địa bàn tỉnh
2. CQTHA: Cơ quan thi hành án
3. CQTHADS: Cơ quan thi hành án dân sự
4. TAND: Tòa án nhân dân
5. THA: Thi hành án
6. THADS: Thi hành án dân sự
7. VKSND: Viện Kiểm sát nhân dân
8. THAKDTM: Thi hành án kinh doanh thương mại
9. KDTM: Kinh doanh thương mại
10. BLDS: Bộ luật dân sự
11. UBND: Ủy ban nhân dân
12. MTTQ: Mặt trận tổ quốc
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng số liệu tổng số việc THAKDTM so với tổng số việc THADS trong
giai đoạn 2014-2017 tại Hà Nam
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường sôi động, thường nảy sinh nhiều tranh chấp, đặc
biệt là các tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại, vì vậy, ngoài việc
phải có những cơ quan tài phán đủ mạnh để giải quyết tranh chấp còn cần phải có
những cơ quan để đảm bảo thực thi hiệu quả các phán quyết này, đó chính là cơ
quan thi hành án dân sự. Đây là cơ quan được Nhà nước ủy quyền, thay mặt Nhà
nước can thiệp vào tài sản và quyền riêng tư của cá nhân, tổ chức đã được quyết
định bởi cơ quan tài phán để thực hiện bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài
thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc
kinh doanh, thương mại nói riêng là chủ đề được khoa học pháp lý quan tâm và chú
trọng nghiên cứu. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu như: Đề tài nghiên cứu
cấp Bộ: “Mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án”, mã số 96-98- 027/ĐT
do Cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện; Đề tài cấp Nhà nước:
"Luận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam
trong giai đoạn mới" do Bộ Tư pháp chủ trì; Đề tài: "Thi hành án dân sự, thực
trạng và hướng hoàn thiện của Dự án VIE/98/001" do Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện
dự án. Một số luận án và công trình nghiên cứu khác như: Luận văn Thạc sĩ luật
học: "Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, thực tiễn áp dụng và hướng
hoàn thiện" của tác giả Nguyễn Công Long; Luận văn Thạc sĩ luật học "Hoàn thiện
pháp luật thi hành án dân sự" của tác giả Nguyễn Thanh Thủy; Luận văn Thạc sĩ
luật học của tác giả Lê Xuân Hồng về "Xã hội hóa thi hành án dân sự ở Việt Nam";
Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Quang Thái về "Đổi mới tổ chức và
hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam"; Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Lê
Anh Tuấn về "Đổi mới thủ tục thi hành án dân sự ở Việt Nam” - Luận văn Thạc sĩ
Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia: “Cơ sở lý luận và thực
tiễn khắc phục án tồn đọng trong thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay” của
Nguyễn Đức Nghĩa (2005); “Thi hành án hành chính ở Việt Nam” của Nguyễn Văn
Vạn (2013)…
2
Về pháp luật thi hành án kinh doanh, thương mại nói riêng, có Luận án Tiến
sĩ luật học của tác giả Lê Vĩnh Châu với đề tài “Thi hành bản án, quyết định của
Tòa án về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại ở Việt Nam hiện
nay”, Học viện Khoa học Xã hội, năm 2016; Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả
Lê Dương Hưng với đề tài “Pháp luật thi hành án kinh doanh, thương mại từ thực
tiễn thành phố Hà Nội”, Viện Đại học Mở Hà Nội, năm 2016…
Những công trình nghiên cứu trên đây đã nghiên cứu những vấn đề mang
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận pháp luật về thi
hành án kinh doanh, thương mại; hệ thống quy định pháp luật Việt Nam hiện hành
về thi hành án kinh doanh, thương mại và thực tiễn thực hiện pháp luật về thi hành
án kinh doanh, thương mại tại tỉnh Hà Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là các vấn đề lý luận và thực trạng pháp
luật về thi hành án dân sự nói chung, nhưng làm rõ các đặc thù của thi hành án kinh
doanh, thương mại; nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này trên
địa bàn tỉnh Hà Nam trong thời gian từ 2014 đến nay.
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên phương pháp luận khoa học xã hội ở Việt Nam
mà nền tảng là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về duy vật lịch sử và duy vật
biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và
Nhà nước ta về nhà nước và pháp luật, về mối quan hệ giữa pháp luật và đời sống
thực tiễn, giữa thực thi pháp luật và xây dựng pháp luật.
Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu, luận văn còn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu truyền thống, có độ tin cậy như: Phân tích, tổng hợp, diễn giải, so
sánh, khảo sát thực tiễn… để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra đối với việc nghiên
cứu đề tài.
4
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn
Về mặt khoa học, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung các vấn
đề lý luận pháp luật về thi hành án dân sự nói chung và thi hành án kinh doanh,
thương mại nói riêng nhằm thống nhất nhận thức về bản chất, nội dung thi hành án
dân sự và thấy được tính đặc thù trong việc thi hành án dân sự đối với các vụ án
kinh doanh, thương mại.
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo có
doanh, thương mại, tài sản đưa ra thi hành thường có giá trị rất lớn...
Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự thì thi hành án trong lĩnh vực
kinh doanh thương mại là một hình thức cụ thể của hoạt động thi hành án dân sự.
Đó cũng là hoạt động hành chính - tư pháp, do các cơ quan thi hành án có thẩm
quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật thi hành án quy định. Thi hành án
kinh doanh thương mại mang đầy đủ những đặc điểm của thi hành án dân sự, tuy
nhiên, thi hành án kinh doanh thương mại vẫn có có một số đặc trưng riêng, cụ thể:
Thứ nhất, chủ thể thi hành án kinh doanh thương mại chủ yếu là các doanh
nghiệp. Xuất phát từ quy định của Luật Thương mại, Luật Tố tụng dân sự. Theo đó,
đặc điểm để xác định các vụ án kinh doanh thương mại là tranh chấp giữa các chủ
thể kinh doanh với nhau là vì mục đích lợi nhuận. Hiện nay, chủ yếu là tranh chấp
giữa một bên là ngân hàng, tổ chức tín dụng với một bên là doanh nghiệp. Ví dụ,
ngân hàng với công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc cũng có thể giữa ngân hàng với
6
các hộ kinh doanh cá thể... vấn đề quan trọng là lý do của tranh chấp xuất phát từ
hoạt động kinh doanh, mục đích của việc vay vốn nhằm kinh doanh.
Thứ hai, tài sản để đưa ra thi hành trong án kinh doanh thương mại thường
có giá trị lớn. Tài sản của các chủ thể kinh doanh thương mại tồn tại dưới nhiều
hình thức khác nhau như: tài khoản tại ngân hàng, sản phẩm hàng hóa,... và nhiều
tài sản tương đối đặc biệt như: dây chuyền công nghệ, thương hiệu kinh doanh,
nhãn hiệu hàng hóa... Đây đều là những tài sản có giá trị lớn.
Trong quá trình hoạt động, để có được vốn hoạt động thì các doanh nghiệp
phải thực hiện huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó vay vốn ngân hàng
để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm
bảo có đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp là
hình thức được các doanh nghiệp sử dụng khá phổ biến. Do đó, doanh nghiệp
thường sử dụng chính tài sản sẵn có của mình để đảm bảo các khoản vay có giá trị,
những phán quyết của Tòa án, phản ánh trung thực chất lượng và hiệu quả của hoạt
động xét xử. Thông qua hoạt động thi hành án, các thẩm phán TAND có thể rút ra
cho mình những bài học bổ ích, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác xét xử[2].
Ngoài ra, thi hành án dân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục ý thức
pháp luật của nhân dân. Đặc thù của thi hành án dân sự nước ta là sự kết hợp chặt
chẽ giữa vai trò chủ động, phát huy trách nhiệm của CHV, cơ quan THA. Trong
THA còn có sự chỉ đạo sát xao, cụ thể của chính quyền địa phương, sự phối hợp của
các cơ quan tổ chức có liên quan, sự đồng tình của quần chúng, tạo ra sức mạnh
tổng hợp, nâng cao ý thức trách nhiệm của cộng đồng trong hoạt động THADS.
Do vậy, thi hành án không chỉ là hoạt động nghiệp vụ riêng của cơ quan
THA, CHV mà còn là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương,
đoàn thể xã hội và mọi thành viên trong cộng đồng. Nói cách khác đó còn là trách
nhiệm của cả hệ thống chính trị. Thông qua các quy định của pháp luật thi hành án
dân sự và áp dụng trong việc xử lý các hành vi chống đối, cản trở hoặc can thiệp trái
pháp luật vào quá trình thi hành án, mọi người càng thấy được thái độ cụ thể của
2- Nguyễn Thanh Thủy (2001), Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự, Luận văn thạc sĩ luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội. Tr 19-20
8
pháp luật đối với những người cố ý vi phạm. Cũng từ đó nhận thức pháp luật được
nâng lên, ý thức pháp luật của nhân dân, vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ
chức được nâng cao. Tổ chức tốt công tác thi hành án còn tạo niềm tin của mọi tầng
lớp nhân dân vào tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật và sức mạnh của Nhà
nước ngày càng được củng cố vững chắc.
Bên cạnh những ý nghĩa chung của hoạt động thi hành dân sự, hoạt động
THAKDTM có ý nghĩa đặc trưng. Cụ thể:
- Kinh doanh, thương mại là môi trường hiện đang có nhiều bất cập, nhất là
trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh và đảm bảo khôi phục quyền và lợi ích
pháp mang tính quyền lực nhà nước, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thi
hành theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định, thông qua đó bản án, quyết định
của cơ quan có thẩm quyền được thi hành trên thực tế.
Để có một khái niệm chính xác về thi hành án kinh doanh thương mại, ta cần
hiểu thế nào là kinh doanh thương mại, hoạt động thương mại, án kinh doanh
thương mại từ đó mới có khái niệm về thi hành án kinh doanh thưong mại cụ thể.
Trong phạm vi điều chỉnh của Luật THADS số 26/2008/QH12 sửa đổi 2014 (Luật
thi hành án dân sự) yếu tố "kinh doanh thương mại" chưa được thể hiện rõ (ngoài
đối tượng là quyết định của trọng tài thương mại). Tuy nhiên, án kinh doanh thương
mại là loại án có vị trí quan trọng trong lĩnh vực thi hành án, xuất phát từ tính chất
và giá trị cần được thi hành án. Vậy, căn cứ nào để cơ quan THADS thụ lý, tổ chức
thi hành các bản án, quyết định có yếu tố "kinh doanh thương mại"?
Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi nhuận, bao gồm
mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động
nhằm mục đích sinh lợi khác[3]. Ngày nay, xã hội ngày càng phát triển thì các hoạt
động nhằm mục đích sinh lợi nhuận càng nhiều, các hoạt động kinh doanh thương
mại ngày càng đa dạng và phong phú, cũng vì vậy các tranh chấp, các vụ viêc liên
quan đến hoạt động kinh doanh thương mại xảy ra nhiều hơn. Theo Điều 29 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2004, những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm
quyền giải quyết của Toà án gồm có:
3-Theo khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005
10
- Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân,
tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận[4];
- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ
chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận;
THAKDTM. Những quy định của pháp luật THADS cũng chính là các quy định
của pháp luật THAKDTM. Do đó, không tồn tại một hệ thống pháp luật
THAKDTM chuyên biệt, độc lập so với hệ thống pháp luật THADS nói chung. Như
vậy, “pháp luật thi hành án kinh doanh thương mại là hoạt động hành chính - tư
pháp, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do
pháp luật quy định nhằm bảo đảm thi hành phần tài sản, lợi ích của các bên trong
bản án, quyết định của Tòa án trong vụ án kinh doanh thương mại”.
1.2.2. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật thi hành án kinh doanh, thương mại
* Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định
Bản án, quyết định là cơ sở pháp lý để ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các
bên có liên quan. Vì vậy, để các bản án có thể thi hành trên thực tế thì trước hết bản
án, quyết định của Tòa án về kinh doanh, thương mại phải cụ thể về nội dung.
Quyền và nghĩa vụ được ghi nhận trong bản án, quyết định của Tòa án phải có khả
năng thực thi trên thực tế. Ngoài ra, để tránh hiểu sai, hiểu không đúng thì lời văn
của bản án, phải rõ ràng, dễ hiểu và chỉ hiểu theo một nghĩa. Bản án, quyết định của
Tòa án phải đảm bảo tính chung thẩm cao. Có như vậy mới hạn chế được tình trạng
bản án, quyết định kinh doanh thương mại có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi
hành nhưng sau đó lại được hoãn, tạm đình chỉ, kháng nghị, huỷ hoặc cải sửa làm
ảnh hưởng tới quá trình thực thi bản án của các bên có liên quan.
Để bảo đảm thi hành hiệu quả các bản án, quyết định về kinh doanh thương
mại cần thiết phải:
Một là, việc xác minh điều kiện THADS phải được tiến hành và được áp
dụng biện pháp bảo đảm thi hành trước khi xét xử; nhằm ngăn chặn hành vi tẩu tán
tài sản, trốn tránh việc thi hành án; khắc phục một phần tình trạng bản án, quyết
12
định của Toà án có hiệu lực pháp luật chỉ có ý nghĩa trên giấy, không được chấp
hành trên thực tế.
nguyện thi hành, mà biện pháp khuyến khích này nên được tiến hành khi Toà tuyên
án và được ghi trong án văn “Nếu người phải THADS tự nguyện thi hành sớm thì
không phải chịu lãi suất cơ bản theo quy định của Ngân hàng Nhà nước tương ứng
số tiền và thời gian chậm THA; không bị áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp
cưỡng chế và phải chịu chi phí cưỡng chế THA[5]”. Đối với người phải THADS
đồng thời là người phải chấp hành hình phạt tù, có thể thêm nội dung: “Nếu người
phải THA tự nguyện THA thì đó là một tiêu chí để được xét miễn giảm thời hạn
chấp hành hình phạt tù…”.
Bốn là, quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức nơi người phải
THA cư trú, công tác, có trụ sở hoặc có tài sản trong THADS. Luật THADS quy
định khá rõ về nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân cấp xã; nhiệm vụ, quyền
hạn của cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành hình
phạt tù góp phần tháo gỡ được nhiều khó khăn, vướng mắc, giảm được nhiều việc
THA tồn đọng. Trong thực tiễn đã có nhiều cơ quan, tổ chức nơi có người phải
THA cư trú, công tác, mặc dù không có quy định về nhiệm vụ, quyền hạn trong
THA dân sự, nhưng các cơ quan, tổ chức này đã tôn trọng bản án, quyết định của
Toà án, tích cực tác động, giáo dục, thuyết phục người phải THA tự nguyện thi
hành. Ngược lại, cũng có một số cơ quan, tổ chức nơi có người phải THA không
quan tâm hoặc tác động ngược, giúp người phải THA trốn tránh việc THA, làm cho
việc THA thêm phức tạp, khó thi hành.
Các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải
được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang
nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm
chỉnh chấp hành[6]. Vì vậy, bảo đảm cho bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực
pháp luật được chấp hành trên thực tế phải là mục đích tối thượng của việc hoàn
thiện pháp luật về tố tụng và THA.
5- Theo quy định tại Điều 66, 71, 73 Luật THADS…
6 - Hiến pháp 2013 đã quy định:
dụng đối với tất cả các bên đương sự.
15
- Đổi tượng, phạm vi, biện pháp bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong
tố tụng dân sự do pháp luật quy định.
- Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự có tính chất hỗ trợ việc thực hiện các
quyền tố tụng dân sự của đương sự.
Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng là một trong
những nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự, thể hiện trách nhiệm của người tiến
hành và cơ quan tiến hành tố tụng dân sự, đồng thời cũng đảm bảo được sự công
bằng cho các đương sự trước tòa án, tránh tình trạng đương sự bị “oan” nhưng
không thể chứng minh. Hơn nữa, giảm bớt tình trạng tồn đọng án cho các cá nhân,
tổ chức tiến hành tố tụng dân sự và tạo tiền đề cho người dân tin tưởng hơn vào các
cơ quan tư pháp của Nhà nước.
* Tôn trọng việc thoả thuận thi hành án
Thoả thuận là quyền dân sự của công dân trong giao lưu dân sự được pháp
luật công nhận và bảo vệ. Khi giao kết dân sự, các bên thỏa thuận với nhau về việc
xác lập, thay đổi chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, nhưng không được trái pháp
luật, đạo đức xã hội. Họ thể hiện ý chí của mình trong giao lưu dân sự tự nguyên,
bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng.
Trong thi hành án dân sự, các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về
việc thi hành án có ý nghĩa rất quan trọng. Không những các bên giữ mối quan hệ
tình cảm với nhau, thông qua đó hiểu nhau hơn, tình cảm thân thiết, gắn bó với
nhau, thông qua đó hiểu nhau hơn, tình cảm thân thiết hơn, gắn bó với nhau hơn…
Mà việc THA được giải quyết nhanh gọn, rút ngắn thời gian, đỡ tốn kém về công
sức tiền bạc để tổ chức THA. Pháp luật thi hành dân sự hiện hành đã quy định thỏa
thuận trong thi hành án dân sự. Tuy nhiên, để việc thỏa thuận trong thi hành án dân
sự được thực hiện thuận lợi, pháp luật phải quy định cụ thể, rõ ràng, dễ thực hiện.