Pháp luật về cưỡng chế thi hành án kinh doanh thương mại từ thực tiễn huyện vĩnh bảo, thành phố hải phòng - Pdf 50

TRẦN MINH ĐỨC

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
LUẬT KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN KINH DOANH
THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN VĨNH BẢO,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRẦN MINH ĐỨC

2015 - 2017
HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN KINH DOANH
THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN VĨNH BẢO,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRẦN MINH ĐỨC


Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Viện Đại học Mở Hà Nội
đã tận tình dậy dỗ em trong thời gian vừa qua.
Em xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Nguyễn Xuân Thu đã hướng dẫn tận tình
để em hoàn thành luận văn đề tài “Pháp luật về cưỡng chế thi hành án kinh
doanh thương mại từ thực tiễn huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng”
Em xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã cung cấp số liệu, giúp
đỡ em để em phản ánh chính xác thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi
hành án kinh doanh thương mại tại huyện Vĩnh Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

HỌC VIÊN

Trần Minh Đức

4


MỤC LỤC
Trang

LỜI MỞ ĐẦU

1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT CƯỠNG
CHẾ THI HÀNH ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của việc cưỡng chế thi hành án kinh doanh

7

thương mại

1.2.5. Trình tự, thủ tục áp dụng cưỡng chế thi hành án kinh doanh

24

thương mại
Kết luận Chương 1

34

Chương 2: THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG
CHẾ THI HÀNH ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1. Những kết quả đạt được

35

2.2. Những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vưỡng mắc và nguyên nhân

39

2.2.1 Tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc

40

2.2.2. Nguyên nhân

48

2.2.2.1. Nguyên nhân khách quan


71

kinh doanh thương mại
3.1.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án kinh

74

doanh thương mại
3.2. Nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật pháp luật về cưỡng chế

82

thi hành án kinh doanh thương mại trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo,
thành phố Hải Phòng
Kết luận Chương 3

85

KẾT LUẬN

86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

87

6


LỜI MỞ ĐẦU

vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn áp dụng đã là một trong những nguyên nhân dẫn

7


đến tình trạng án tồn đọng, chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ một cách kịp thời và
có hiệu quả quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án và quyền, lợi ích
hợp pháp của cá nhân, tổ chức khác trong thi hành án dân sự trong quá trình áp
dụng cưỡng chế thi hành án dân sự (trong đó có cưỡng chế thi hành án kinh doanh
thương mại), người có thẩm quyền thi hành án vẫn gặp không tít khó khăn, vướng
mắc. Mặt khác, hoạt động cưỡng chế thi hành án tác động sâu rộng đến các mối
quan hệ xã hội của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền
và nghĩa vụ liên quan trong bản án, quyết định. Nên vấn đề cưỡng chế tài sản của
người phải thi hành án khi họ không tự nguyện thi hành án phải nghiên cứu kỹ
lưỡng để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời đảm bảo quyền lợi
hợp pháp của đương sự. Trong những năm gần đây, tỉ lệ thi hành các bản án, quyết
định kinh doanh thương mại trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
tăng lên nhanh chóng. Trong khi đó, hiệu quả thi hành các bản án, quyết định kinh
doanh thương mại của huyện không cao do các nguyên nhân chủ quan và khách
quan khác nhau. Một trong những nguyên nhân xuất phát từ quy định của pháp luật,
đặc biệt là pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự.
Với những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về cưỡng chế thi
hành án kinh doanh thương mại từ thực tiễn huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải
Phòng” làm luận văn tốt nghiệp. Đây là vấn đề cấp thiết có ý nghĩa thực tiễn sâu
sắc đối với lĩnh vực thi hành án dân sự của một địa phương nhất định, dựa trên điều
kiện kinh tế, xã hội của địa phương để có những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao
hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Việc nghiên cứu kỹ công tác cưỡng chế thi
hành án dân sự, cưỡng chế thi hành án kinh doanh thương mại giúp đem lại quyền
và lợi ích thực tế cho cá nhân, tổ chức, góp phần hoàn hiện và xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa công bằng, văn minh.

của Học viện Tư pháp do TS. Lê Thu Hà chủ biên năm 2012; Tài liệu tập huấn triển
khai các nội dung mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án
dân sự, các văn bản hướng dẫn thi hành và kỹ năng rà soát chỉ đạo, giải quyết các
vụ việc khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự” của Tổng cục Thi hành án dân sự Bộ tư pháp, Hà Nội tháng 12/2015; “Thi hành án kinh doanh, thương mại – Thực
trạng và những giải pháp nâng cao kết quả trong thời gian tới” của tác giả Nguyễn
Thị Nhàn, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số tháng 8 (293) năm 2016; “Một số vướng
mắc khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự” của tác giả Nguyễn
Doãn Phương, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số tháng 8 (293) năm 2016…
Các công trình nêu trên đã có nội dung nghiên cứu về thi hành án dân sự ở
những góc độ, khía cạnh và mức độ khác nhau. Nhiều công trình cũng đã đề cập
đến vấn đề pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự, nhưng chủ yếu đi sâu tìm

9


hiểu những vấn đề có liên quan đến pháp luật, chưa có công trình nào nghiên cứu
vấn đề pháp luật về cưỡng chế thi hành án kinh doanh thương mại từ thực tiễn của
một địa phương nhất định, dựa trên điều kiện kinh tế, xã hội của địa phương để có
những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án kinh
doanh thương mại.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu, phân tích quy
định về cưỡng chế thi hành án kinh doanh thương mại, tác giả mong muốn có thể
làm rõ hơn cơ sở lý luận và chỉ ra những bất cập trong thực tiễn khi áp dụng, từ đó
đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác cưỡng chế thi hành án dân sự
nói chung và hoạt động cưỡng chế thi hành án kinh doanh thương mại nói riêng.
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về cưỡng chế thi hành án dân sự
nói chung, đặc biệt các quy định về cưỡng chế thi hành án kinh doanh thương mại;
- Đánh giá một cách toàn diện thực tiễn áp dụng các quy định về cưỡng

pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích,
phương pháp chứng minh, phương pháp so sánh...

6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1. Một số vấn đề chung về pháp luật cưỡng chế thi hành án kinh
doanh thương mại.
Chương 2. Thực tiễn thi hành pháp luật về cưỡng chế thi hành án kinh doanh
thương mại trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án
kinh doanh thương mại và nâng cao hiệu quả thi hành trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo,
thành phố Hải Phòng.

11


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT CƯỠNG CHẾ
THI HÀNH ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của việc cưỡng chế thi hành án kinh doanh thương mại
1.1.1. Khái niệm
Bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh
có hiệu lực pháp luật có được thi hành nghiêm chỉnh, dứt điểm hay không; kỷ
cương pháp luật có được tôn trọng; lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tập thể, của
các tổ chức xã hội và mọi công dân có được bảo đảm hay không phụ thuộc nhiều
vào kết quả của việc thi hành án. Với tính chất dân sự của mình, thi hành án dân sự
là quá trình thực hiện các quyền, nghĩa vụ (chủ yếu là các quyền, nghĩa vụ về tài
sản) của các bên đã được bản án, quyết định của Tòa án và các cơ quan tài phán
khác ghi nhận. Trong thi hành án dân sự, các bên đương sự có quyền tự định đoạt,

thi hành án bao gồm Chấp hành viên và Thừa phát lại.
Hiện tại trong Luật thi hành án dân sự yếu tố “kinh doanh thương mại” chưa
được thể hiện rõ (ngoài đối tượng là quyết định trọng tài thương mại). Nhưng bản
án, quyết định dân sự được đề cập trong Luật thi hành án dân sự là bao hàm cả bản
án, quyết định về kinh doanh thương mại, do tính chất tương đồng giữa vụ án và
việc dân sự với vụ việc kinh doanh thương mại nên pháp luật thi hành án dân sự
không tách bạch giữa pháp luật thi hành án dân sự với pháp luật thi hành án kinh
doanh thương mại và giữa cưỡng chế thi hành án dân sự với cưỡng chế thi hành án
kinh doanh thương mại.
Như vậy, cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng bức bắt buộc
của cơ quan thi hành án do Chấp hành viên hoặc Thừa phát lại quyết định theo
thẩm quyền quy định nhằm buộc đương sự (người phải thi hành án) phải thực hiện
những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án, được
áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà

13


không tự nguyện thi hành án trong thời hạn do Chấp hành viên hoặc Thừa phát lại
ấn định hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi
tẩu tán, hủy hoại tài sản.
Từ khái niệm này có thể khẳng định cưỡng chế thi hành án kinh doanh
thương mại là một bộ phận của cưỡng chế thi hành án dân sự.
1.1.2. Ý nghĩa của việc cưỡng chế thi hành án kinh doanh thương mại
Cưỡng chế thi hành án dân sự nói chung, cưỡng chế thi hành án kinh doanh
thương mại nói riêng có vai trò quan trọng trong hoạt động tư pháp nói chung và
quá trình giải quyết vụ án nói riêng. Bản án, quyết định của Tòa án chỉ thực sự có
giá trị khi được thi hành trên thực tế. Hoạt động thi hành án là công đoạn cuối cùng,
bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính
nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích

và lợi ích của đương sự. Từ đó công tác xét xử được củng cố, hiệu lực các bản án,
quyết định của Tòa án được bảo đảm thực thi, góp phần củng cố, tăng cường uy
tín của cơ quan xét xử trước xã hội.
Cưỡng chế thi hành án có ý nghĩa quan trọng, vừa góp phần bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của các đương sự vừa góp phần giáo dục nâng cao ý thức pháp
luật của họ và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật trong công tác thi hành án
dân sự. Cưỡng chế thi hành án góp phần giữ gìn trật tự, kỷ cương an toàn xã hội,
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp
luật của nhân dân.
1.2. Pháp luật hiện hành về cưỡng chế thi hành án kinh doanh thương mại
1.2.1. Điều kiện áp dụng cưỡng chế thi hành án kinh doanh thương mại
Theo quy định tại Điều 45, Điều 46 Luật Thi hành án dân sự thì điều kiện áp
dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án được quy định cụ thể như sau:
“Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 45 của Luật này, người phải thi
hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế”.
“Trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy
hoại tài sản hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên
áp dụng ngay biện pháp quy định tại Chương IV của Luật này”.

1

.Lê Dương Hưng (2015), Pháp luật thi hành án kinh doanh, thương mại từ thực tiễn thực hiện tại địa bàn
thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ luật học, Viện Đại học Mở Hà Nội. Tr 13-14

Như vậy, để áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án kinh doanh thương
mại, Chấp hành viên cần xem xét các điều kiện. Điều kiện để áp dụng biện pháp
cưỡng chế thi hành án kinh doanh thương mại, đó là:

15


theo bản án, quyết định của Tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi
hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành trong thời gian do

16


Chấp hành viên ấn định, hoặc trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu
tán, hủy hoại tài sản. Như vậy, cưỡng chế thi hành án kinh doanh thương mại là việc
Chấp hành viên trong thực thi công vụ đã sử dụng quyền lực Nhà nước để buộc
người phải thi hành án thi hành nghĩa vụ mà bản án, quyết định đã tuyên. Do đó,
Chấp hành viên chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế khi người phải thi hành án
có điều kiện thi hành án và đã hết thời gian tự nguyện thi hành án hoặc trong trường
hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản. Vì vậy, về
nguyên tắc Chấp hành viên chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với tài sản
của người phải thi hành án để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của họ mà không được
kê biên tài sản của người không có nghĩa vụ thi hành án (trừ trường hợp theo luật
định). Cưỡng chế thi hành án là một biện pháp nghiêm khắc nhất trong các biện
pháp thi hành án, do đó Chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án không
được áp dụng một cách tùy tiện mà phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định.
Xuất phát từ đặc trưng của thi hành án dân sự là việc tổ chức thi hành bản án,
phần quyết định của Tòa án về tài chính hoặc quyết định của trọng tài, quyết định
xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc phải nộp phí
thi hành án nên đối tượng của cưỡng chế thi hành án là tài sản. Điều này hoàn toàn
khác biệt so với đặc trưng của thi hành án hình sự là nhằm hạn chế hoặc tước đoạt
quyền và lợi ích của người bị kết án. Chính vì vậy, cưỡng chế thi hành án hình sự
mang tính cứng rắn và tuyệt đối còn thi hành án dân sự mang tính nềm dẻo hơn.
Điều này thể hiện ở các nguyên tắc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án
dân sự. Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự thì cần phải đảm bảo
các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, chỉ người có thẩm quyền thi hành án mới có quyền áp dụng biện

không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế. Tuy nhiên, để đảm bảo công tác thi
hành án thật sự hiệu quả, với mục đích ngăn chặn những hành vi tẩu tán tài sản, hủy
hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án của đương sự trong thời gian tự
nguyện thi hành án thì chủ thể có thẩm quyền vẫn được áp dụng quy định tại
Chương IV Luật thi hành án dân sự.
Thứ ba, không được cưỡng chế thi hành án trong thời gian mà pháp luật quy
định không được cưỡng chế thi hành án.
Pháp luật quy định không tổ chức cưỡng chế thi hành án trong thời gian từ
22 giờ đến 06 giờ sáng hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật
và các trường hợp đặc biệt như 15 ngày trước và sau tết nguyên đán, các ngày
truyền thống của các đối tượng chính sách. Quy định này xuất phát từ mục đích
nhân đạo đối với người phải thi hành án.

18


Thứ tư, chủ thể có thẩm quyền có thể áp dụng một hoặc nhiều biện pháp
cưỡng chế thi hành án dân sự. Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải tương ứng
với nghĩa vụ của người phải thi hành án và chi phí hợp lý về thi hành án.
Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự phải tương ứng với
nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết. Trường hợp người phải
thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều so với nghĩa vụ phải thi hành
án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể
giá trị của tài sản thì người có thẩm quyền thi hành án vẫn có quyền áp dụng biện
pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế để thi hành án.
Không được kê biên những tài sản mà pháp luật quy định không được kê
biên. Tài sản không được kê biên gồm:
- Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ quốc
phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách nhà nước cấp cho cơ quan,
tổ chức.


. Lê Thanh Tình (2016), Kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án kinh doanh thương mại qua thực tiễn
tỉnh Thái Bình, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện khoa học xã hội

Nhưng đối với án kinh doanh thương mại là loại án có nghĩa vụ thanh toán
chính là tiền, nên việc cưỡng chế thi hành án được áp dụng theo các biện pháp đó
là: i) Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải
thi hành án; ii) Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; iii) Kê biên, xử lý tài
sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ; iv) Khai thác
tài sản của người phải thi hành án.
1.2.3. Căn cứ cưỡng chế thi hành án kinh doanh thương mại
Theo Điều 70 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi bổ sung năm
2014), căn cứ tổ chức cưỡng chế thi hành gồm có: Bản án, quyết định; quyết định
thi hành án; quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã
tuyên kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án.
Trên cơ sở pháp lý đã có, Chấp hành viên cần phải tuân thủ đúng và đầy đủ
những quy định của pháp luật để áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án. Nhưng
để có thể tổ chức được việc cưỡng chế thi hành án, Chấp hành viên phải thực hiện
những trình tự, thủ tục theo quy định.

20


1.2.4. Các biện pháp cưỡng chế thi hành án kinh doanh thương mại
Thứ nhất, khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của
người phải thi hành án.
Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của
người phải thi hành án là một trong các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự,
được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ trả

được khấu trừ hết số tiền trong tài khoản của người phải thi hành án để thực hiện
nghĩa vụ mà nguồn lợi thu được từ việc gửi tài sản đó là nguồn sống duy nhất của
người phải thi hành án và gia đình họ.
Thứ hai, trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
Biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là một trong các biện
pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng trong trường hợp người phải thi
hành án phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định. Người phải thi
hành án có thu nhập thực tế và không tự nguyện thi hành.
Biện pháp trừ vào thu nhập được quy định tại Điều 78 Luật thi hành dân sự.
Giống với đối tượng của biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, đối tượng của biện
pháp này cũng là tiền, nhưng thu nhập theo quy định của biện pháp cưỡng chế biện
pháp trừ vào thu nhập khác với thu nhập từ hoạt động kinh doanh của biện pháp
khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá. Theo quy định của
pháp luật, tiền bị cưỡng chế là thu nhập của người phải thi hành án gồm: tiền lương,
tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác.
Việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được thực hiện theo thỏa
thuận của đương sự; bản án, quyết định ấn định trừ vào thu nhập của người phải thi
hành; thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành
không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án.
Mức trừ cao nhất được trừ vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ
cấp mất sức lao động là 30% tổng số tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp
đương sự có thỏa thuận khác. Đối với thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào
thu nhập thực tế của người phải thi hành án, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh
hoạt tối thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.
Đối với lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính thì mức đối với tiền lương, bảo hiểm xã

22


hội tỷ lệ khấu trừ mỗi lần không quá 30% tổng số tiền lương, bảo hiểm xã hội được



của người phải thi hành án và gia đình; iv) Công cụ lao động cần thiết, có giá trị
không lớn được dùng làm phương tiện sinh sống chủ yếu hoặc duy nhất của người
phải thi hành án và gia đình; v) Đồ dùng sinh hoạt cần thiết cho người phải thi hành
án và gia đình.
Khi tiến hành kê biên tài sản của người phải thi hành án, người có thẩm
quyền thi hành án phải phân biệt tài sản thuộc sở hữu chung hoặc đang có tranh
chấp hay không.
Theo quy định tại Điều 91 Luật thi hành án dân sự và Điều 23 Nghị định
62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ, khi Chấp hành viên xác minh tài
sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ, trong trường hợp: Tài sản
của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ đã được xác định bằng bản án,
quyết định của Tòa án, khi Chấp hành viên xác minh điều kiện thi hành án của
người phải thi hành án mà phát hiện tổ chức, cá nhân đang phải trả tiền, tài sản cho
người phải thi hành án mà khoản tiền, tài sản đó đã được xác định bằng bản án,
quyết định của Tòa án đang có hiệu lực pháp luật thì Chấp hành viên áp dụng biện
pháp cưỡng chế thi hành án cần thiết đối với tổ chức, cá nhân đó để thu tiền, tài sản
thi hành án. Chi phí cưỡng chế thi hành án trong trường hợp này do tổ chức, cá
nhân bị cưỡng chế thi hành án chịu. Tuy nhiên, xử lý tài sản đã được xác định bằng
bản án, quyết định của Tòa án. Nhà nước luôn khuyến khích các đương sự thỏa
thuận tự thi hành án cho nhau hoặc yêu cầu Thừa phát lại tổ chức thi hành án. Do đó
Chấp hành viên cần xác định, làm rõ đối với các trường hợp đã thi hành án không
thông qua cơ quan thi hành án để tránh tình trạng buộc một người phải thi hành án
hai lần cho một nghĩa vụ. Trường hợp tài sản của người phải thi hành án đang do
người thứ ba giữ xác định không bằng bản án, quyết định của Tòa án, thì để có cơ
sở kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ, Chấp
hành viên phải làm rõ tài sản đó là tài sản gì và tài sản đó là của người phải thi hành
án (ví dụ, tài sản đó được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu,
quyền sử dụng hoặc công nhận là của người phải thi hành án); Người thứ ba đang

Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Người có thẩm quyền thi
hành án xử lý tài sản đã kê biên theo quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm
quyền. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày người có thẩm quyền thi hành án yêu
cầu mà đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ
quan có thẩm quyền giải quyết thì tài sản được xử lý để thi hành án theo quy định
của luật này.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status