BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN THỊ BÍCH NGỌC
PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH
DOANH THƢƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN
KINH TẾ - TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hƣớng ứng dụng)
HÀ NỘI - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN THỊ BÍCH NGỌC
PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH
DOANH THƢƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN
KINH TẾ - TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
các thầy cô giáo của Trường Đại học Luật Hà Nội thân yêu, đặc biệt là những thầy cô
trong khoa Sau đại học – khoa Luật kinh tế.
Để có được luận văn ngày hôm nay em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc
đến Tiến sĩ Lê Vệ Quốc, người đã giúp đỡ và hướng dẫn tận tình để em có thể hoàn thiện
luận văn tốt nghiệp của mình.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến đội ngũ các anh chị quản lý và trông
coi Trung tâm thông tin thư viện của Trường đại Luật Hà Nội đã giúp em tìm kiếm và
khai thác hiệu quả các thông tin tài liệu từ Thư viện của Trường phục vụ cho Luận văn
của em.
Lời cảm ơn cuối cùng em xin gửi đến các anh, chị quản lý và trông coi Thư viện
Quốc gia Việt Nam cũng đã hướng dẫn và hỗ trợ nhiệt tình để em có được những nguồn
thông tin tài liệu vô cùng quý báu và hữu ích cho cuốn Luận văn này.
Cũng qua đây, em xin gửi lời kính chúc sức khỏe, bình an, hạnh phúc và thành
công đến Quý thầy cô và các anh, các chị.
Trân trọng cảm ơn!
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Kinh doanh thương mại
KDTM
Bộ luật dân sự
BLDS
Luật Thương mại
Tòa án nhân dân
Tòa án nhân dân tối cao
NHNNo
thôn
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Bảng số liệu các vụ án KDTM được giải quyết, xét xử
Bảng 2. Bảng số liệu các vụ án KDTM được giải quyết, xét xử của Tòa án kinh tế
- Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU 4
TRONG KINH DOANH THƢƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP
ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH THƢƠNG MẠI
1.1 Hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thƣơng mại
4
1.1.1 Khái niệm
4
1.1.2 Dấu hiệu và xác định hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại
TRONG KINH DOANH THƢƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI TÒA KINH TẾ - TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Những quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng vô hiệu 13
trong kinh doanh thƣơng mại
2.1.1 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong kinh doanh thương mại
13
2.1.2 Các trường hợp hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại
16
2.1.3 Về xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh 23
thương mại
2.1.4 Một số quy định khác
28
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh 30
thƣơng mại tại Tòa án kinh tế - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
2.2.1 Công tác giải quyết, xét xử các vụ án kinh doanh thương mại giai 30
đoạn 2011 – 2017
2.2.2 Bình luận một số bản án
31
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2
77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Pháp luật hợp đồng là nơi chứa đựng nhiều kỹ thuật pháp lý nhất trong khoa học
pháp lý. Do đó việc học tập và nghiên cứu luật hợp đồng thực sự hữu ích cho việc phát
triển tư duy pháp lý. Đất nước ta đã trải qua nhiều truyền thống pháp luật trong suốt
chiều dài lịch sử. Có thể chưa có một sự chắp nối và tinh lọc thật sự giữa các truyền
thống pháp luật này hoặc chưa có sự lựa chọn tinh tế và khoa học giữa các truyền thống
pháp luật đó, nên luật hợp đồng của Việt Nam hiện nay thiếu tính kế thừa và thiếu đồng
bộ. Trước khi thực dân Pháp chiếm đóng, ở Việt Nam chưa phát triển lĩnh vực pháp luật
hợp đồng. Các quy tắc liên quan tới hợp đồng thường dưới dạng các điều cấm theo
truyền thống pháp luật Viễn Đông. Khi thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, pháp luật
của Pháp theo đó mà xâm nhập. Luật hợp đồng được pháp điển hóa theo truyền thống
dân luật – Civil Law. Tới khi thống nhất đất nước, pháp luật hợp đồng của Việt Nam
được pháp điển hóa theo truyền thống pháp luật Xô viết – Sovietique Law. Hiện nay luật
hợp đồng Việt Nam được thể hiện qua nhiều đạo luật.
Để một hợp đồng phát huy được giá trị của nó thì hợp đồng đó phải đáp ứng đầy
đủ các điều kiện để hợp đồng có hiệu lực. Trong hoạt động kinh doanh thương mại
không thể thiếu sự hiện diện của hợp đồng. Với xu thế hội nhập, các chủ thể kinh doanh
không chỉ “chơi” với các doanh nghiệp/thương nhân trong nước – sân nhà, mà còn có cơ
hội và cũng là thách thức khi “chơi” với doanh nghiệp/thương nhân nước ngoài. Vì lẽ đó,
doanh nghiệp/thương nhân muốn chủ động, muốn phát triển và muốn tìm kiếm lợi nhuận
thì phải nắm chắc “luật chơi” trên sân nhà cũng như quốc tế. Chính vì vậy, giá trị pháp lý
của hợp đồng là vấn đề vô cùng quan trọng. Làm sao để hợp đồng không bị vô hiệu, làm
sao để loại trừ rủi ro do hợp đồng vô hiệu? Vì những lý do quan trọng trên, tác giả lựa
2005. Chính vì vậy, trong bối cảnh Bộ luật Dân sự năm 2015 đã đi vào thực tiễn được
một thời gian và cũng đã bộc lộ một số vấn đề cần hoàn thiện, tác giả quyết định lựa
chọn đề tài này cho luận văn tốt nghiệp của mình.
3. Mục đích, đối tƣợng và giới hạn phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Luận văn hướng đến cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật vô
hiệu trong kinh doanh thương mại; cung cấp những quy định của pháp luật về hợp đồng
vô hiệu trong kinh doanh thương mại, đặc biệt là các quy định của pháp luật hiện hành
góp phần giúp các chủ thể tham gia hợp đồng trong kinh doanh thương mại phòng tránh
được phần nào rủi ro trong quan hệ hợp đồng. Trong luận văn này tác giả tập trung tìm
hiểu, nghiên cứu, phân tích và đánh giá vào các vấn đề sau: i) Các quy định của pháp luật
Việt Nam hiện hành về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại, tập trung chủ
yếu là BLDS 2015, Luật Thương mại 2005 và một số văn bản pháp luật có liên quan; ii)
Thực tiễn áp dụng các quy định về hợp đồng thương mại tại Tòa kinh tế - Tòa án nhân
thành phố Hà Nội. Thông qua nghiên cứu và bình luận một số bản án, quyết định cụ thể
của Tòa án dựa trên các quy định của pháp luật được áp dụng (tại thời điểm xét xử),
đồng thời có sự so sánh và đánh giá sự tương thích với quy định của pháp luật hiện hành.
4. Các phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề trong luận văn dựa trên cơ sở phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác –
3
Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Bên cạnh đó một số phương
pháp khác cũng được tác giả kết hợp sử dụng đó là: Phương pháp phân tích: Được sử
dụng để làm rõ những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu; Phương pháp tổng hợp: Được
sử dụng để khái quát hóa nội dung cần nghiên cứu, đưa ra hướng nghiên cứu logic để
làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu; Phương pháp so sánh: Sử dụng để so sánh các quy
định của pháp luật giai đoạn trước với pháp luật hiện hành từ đó cho thấy sự hoàn thiện
của các quy định pháp luật qua từng giai đoạn; Phương pháp thống kê: Thống kê các số
liệu có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu, từ đó, phân tích, tổng hợp và đánh giá số
TRONG KINH DOANH THƢƠNG MẠI
1.1 Hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thƣơng mại
1.1.1 Khái niệm
Vô hiệu theo nghĩa thông thường là “không có hiệu lực, không có hiệu quả”1. Từ
đó có thể suy ra, HĐ vô hiệu là HĐ không tồn tại theo quy định của pháp luật, không có
hiệu lực pháp lý. Trong khoa học pháp lý, HĐ vô hiệu dùng để chỉ tình trạng một HĐ trái
với ý chí của các bên hoặc trái với điều kiện có hiệu lực của pháp luật. Khi một HĐ bị
tuyên bố vô hiệu có nghĩa HĐ không có giá trị ngay từ thời điểm giao kết HĐ. Như trên
đã nói HĐ trong lĩnh vực KDTM là một loại HĐ dân sự đặc thù, chúng có mối quan hệ
biện chứng với nhau. Đây là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, trong đó, HĐ dân
sự là cái chung và HĐ KDTM là cái riêng. Với tư cách là cái chung và cái riêng, HĐ dân
sự và HĐ trong KDTM đều tồn tại khách quan và độc lập tương đối với nhau; những
thuộc tính vốn có của HĐ dân sự được biểu hiện cụ thể trong HĐ trong KDTM, đồng
thời HĐ trong KDTM cũng có những đặc thù riêng của nó. Ở Việt Nam, BLDS được coi
là “luật mẹ” hay “luật gốc” điều chỉnh những vấn đề chung nhất trong dân sự. Trong khi
đó, hiện nay các luật chuyên ngành kinh tế không có quy định về vấn đề này do vậy, để
xác định HĐ vô hiệu trong KDTM, chúng ta cần căn cứ vào quy định tại Điều 117 và
Điều 122 BLDS 2015. Theo đó, có thể hiểu HĐ vô hiệu trong KDTM là HĐ không tuân
thủ đầy đủ điều kiện có hiệu lực của HĐ. Khi HĐ vi phạm một hay nhiều điều kiện có
hiệu lực của HĐ thì HĐ đó bị coi là vô hiệu.
Tóm lại, HĐ vô hiệu trong KDTM là những HĐ trong KDTM mà các chủ thể
tham gia HĐ không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định. Hậu quả là
HĐ không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ
thời điểm xác lập HĐ.
1.1.2 Dấu hiệu và xác định hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại
1.1.2.1 Dấu hiệu nhận biết hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại
Thứ nhất, không đáp ứng một trong các điều kiện theo quy định của pháp luật đối
với HĐ có hiệu lực, bao gồm:
i) Điều kiện về chủ thể tham gia HĐ. Bản chất của HĐ là sự thống nhất ý chí và
bày tỏ ý chí của các chủ thể trong HĐ nhưng không phải bất cứ ai cũng có quyền tham
Việc quy định một số loại HĐ phải tuân thủ các quy định về hình thức dựa trên cơ sở là đối
tượng của các loại HĐ này có giá trị lớn hoặc có tính năng đặc biệt, nên hình thức của HĐ là
căn cứ xác định chính xác nội dung các cam kết, thỏa thuận của các bên. Mặt khác, những
quy định đó còn là cơ sở để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, giám sát việc
chuyển dịch các tài sản này.
Thứ hai, các bên tham gia HĐ phải gánh chịu hậu quả pháp lý nhất định. Khi HĐ
vô hiệu, quay lại tình trạng ban đầu, các bên tham gia HĐ hoàn lại cho nhau những gì đã
nhận. Về mặt lý thuyết, đây là sự tổn thất của các bên, vì các bên không đạt được mục
đích như đã mong muốn mà quay lại tình trạng như trước khi tham gia HĐ. Tuy nhiên,
về mặt thực tế có trường hợp khi tuyên bố HĐ vô hiệu, có bên được hưởng lợi, có bên bị
thiệt hại, có thể nói đây là vấn đề phức tạp nhất khi giải quyết hậu quả pháp lý HĐ vô
hiệu trong thực tế.
1.1.2.2 Xác định hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại
Về nguyên tắc, để một HĐ phát sinh hiệu lực pháp lý thì HĐ đó phải thỏa mãn
các điều kiện do luật định. BLDS đưa ra những điều kiện chung nhất về điều kiện có hiệu
lực của các GDDS, trên cơ sở đó luật chuyên ngành có thể có những quy định bổ sung cụ
thể hóa về điều kiện có hiệu lực đối với từng loại HĐ cụ thể. Điều 116 BLDS 2015 quy
định: “GDDS là hợp đồng, hoặc…, nghĩa vụ dân sự”. Như vậy, HĐ (dân sự) trong mọi
trường hợp được coi là GDDS. Do vậy điều kiện có hiệu lực của GDDS cũng là điều
kiện có hiệu lực của HĐ (dân sự), những quy định về điều kiện có hiệu lực của GDDS sẽ
được áp dụng khi giao kết và thực hiện HĐ (dân sự). Cũng từ đó, khi xem xét hiệu lực
của HĐ trong KDTM – một loại HĐ dân sự đặc thù, ta cũng áp dụng các điều kiện có
hiệu lực của GDDS, bởi luật chuyên ngành không có quy định về vấn đề này. Theo đó, các
điều kiện dẫn đến sự vô hiệu của HĐ trong KDTM, đó là – dựa theo Điều 117 BLDS 2015:
6
Thứ nhất, chủ thể không có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự
phù hợp với HĐ được xác lập.
Để đảm bảo tính thống nhất của pháp luật HĐ, khi quy định về các loại HĐ cụ thể
khác, lợi ích Nhà nước cũng như lợi ích chung của cộng đồng, pháp luật quy định những
hành vi nhất định mà các chủ thể không được thực hiện – điều cấm của luật. Do vậy các
bên khi tham gia HĐ cần tôn trọng và tuân thủ. Bên cạnh các quy định cấm của luật thì
những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn
trọng các bên cũng phải tôn trọng và thực hiện đúng để tránh sự vô hiệu cho HĐ đã xác lập.
2
Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Minh Hằng, tlđd 1, tr.55
7
Thứ tƣ, hình thức HĐ không đúng quy định trong trường hợp luật quy định hình
thức là điều kiện có hiệu lực của HĐ. Hình thức của HĐ là cách thức biểu hiện ra bên
ngoài, là phương thức thể hiện ý chí của các chủ thể trong HĐ. Hình thức của hợp đồng
nói chung có thể được thể hiện dưới dạng lời nói, hành vi hoặc văn bản. Những quy định
cụ thể về hình thức này (nếu có) phần lớn là được quy định tại các luật chuyên ngành.
Chính vì vậy, để HĐ không bị vô hiệu về mặt hình thức thì các bên cần tìm hiểu các quy
định cụ thể có liên quan của luật chuyên ngành và tuân theo đúng các quy định đó.
Trường hợp luật không có quy định điều kiện về hình thức, các bên sẽ có thể tùy nghi lựa
chọn hình thức cho HĐ mà mình tham gia.
Ngoài ra, đối với HĐ thương mại quốc tế, các quy định điều chỉnh quan hệ HĐ
này còn được ghi nhận trong các điều ước quốc tế song phương và đa phương mà Việt
Nam tham gia với tư cách thành viên. Chẳng hạn như: Hiệp định thương mại Việt Nam –
Hòa Kỳ (BTA), Hiệp định chung về thương mại dịch vụ của WTO (GATS), Hiệp định
thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (FTA), Công ước Viên năm 1980 về
HĐ MBHH quốc tế (CISG)... Những quy định trong các điều ước quốc tế trực tiếp hoặc
gián tiếp điều chỉnh các quan hệ HĐ trong lĩnh vực thương mại nói chung và HĐ thương
mại quốc tế nói riêng. Do đó, khi đánh giá hiệu lực pháp lý của những HĐ này phải lưu ý
quan tâm đến các văn bản pháp luật có liên quan đó.
trường hợp các bên đã thực hiện toàn bộ hoặc một phần những gì mà họ đã thỏa thuận
với nhau. Do vậy, rất ít trường hợp khi TA tuyên bố HĐ vô hiệu có thể khắc phục hậu
quả đúng như nhà làm luật quy định.
Tóm lại, khi HĐ vô hiệu thì không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm HĐ được xác lập. Khi HĐ vô hiệu thì các bên khôi
phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể
hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả. Bên ngay tình trong việc
thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó. Bên có lỗi gây thiệt hại thì
phải bồi thường. Việc giải quyết hậu quả của GD dân sự vô hiệu liên quan đến quyền
nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định – Điều 131 BLDS 2015.
1.2 Pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thƣơng mại
1.2.1 Khái niệm
Pháp luật điều chỉnh HĐ trong lĩnh vực thương mại được hiểu là tổng thể quy
phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội
phát sinh trong quá trình ký kết và thực hiện HĐ trong lĩnh vực thương mại. Theo đó,
pháp luật về HĐ vô hiệu trong KDTM bao gồm tổng thể các quy phạm do nhà nước ban
hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các vấn đề về HĐ và HĐ vô hiệu phát sinh trong hoạt
động KDTM giữa các thương nhân với nhau và giữa các thương nhân với các chủ thể
khác. Ví dụ như: vấn đề HĐ vô hiệu, thẩm quyền tuyên bố HĐ vô hiệu, thời hiệu yêu cầu
tuyên bố HĐ vô hiệu, xử lý hậu quả của HĐ vô hiệu…
1.2.2 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển
Pháp luật về HĐ trong KDTM nói chung và pháp luật về HĐ vô hiệu trong
KDTM nói riêng ở nước ta đã có quá trình phát triển qua nhiều giai đoạn với những đặc
điểm khác nhau về điều kiện kinh tế, xã hội. Đến năm 1986 đất nước ta bắt đầu bước vào
giai đoạn mới: chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế thị trường, HĐ kinh tế
giữ vai trò vô cùng quan trọng. Yếu tố mệnh lệnh hành chính trong quan hệ kinh tế
không còn phù hợp nữa. Vì thế HĐ kinh tế được trả lại giá trị đích thực của nó. Ngày
25/09/1989 Pháp lệnh HĐ kinh tế được ban hành. Lần đầu tiên các quy định về HĐ kinh
tế vô hiệu được ghi nhận một cách có hệ thống trong một văn bản pháp luật khi nền kinh
dụng quy định của luật đó. Hoạt động thương mại không được quy định trong LTM và trong
các luật khác thì áp dụng quy định của BLDS.
Như vậy có thể thấy rằng, lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật HĐ vô
hiệu trong KDTM đã trải qua nhiều thời kỳ tương ứng với điều kiện, hoàn cảnh và tình
hình phát triển kinh tế - xã hội mỗi giai đoạn. Hiện nay, vấn đề HĐ vô hiệu chủ yếu được
quy định tại BLDS 2015 – văn bản “gốc” điều chỉnh quan hệ HĐ nói chung và hướng tới
không có sự phân biệt giữa HĐ dân sự và HĐ trong KDTM.
1.2.3 Nội dung cơ bản pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại
Ở Việt Nam hiện nay, pháp luật điều chỉnh quan hệ HĐ được chế định trong nhiều
văn bản khác nhau. Ngoài những quy định về HĐ trong BLDS, LTM, còn có thể tìm thấy
nhiều quy định liên quan đến HĐ trong các văn bản pháp luật điều chỉnh các lĩnh vực
trong KDTM như: tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm, xây dựng, vận chuyển, đầu tư, đất
đai… Nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh HĐ trong lĩnh vực thương mại bao gồm:
- Những quy định về bản chất, chủ thể của HĐ trong lĩnh vực KDTM;
- Những quy định về điều kiện, thủ tục giao kết và thực hiện HĐ trong lĩnh vực
KDTM;
- Các điều kiện có hiệu lực của HĐ và các quy định về các trường hợp HĐ vô hiệu;
- Những quy định về sửa đổi, bổ sung, thay đổi, đình chỉ, hủy bỏ, chuyển giao
quyền và nghĩa vụ theo HĐ, chấm dứt, thanh lý HĐBH;
- Những quy định về trách nhiệm vật chất (chế tài thương mại) do vi phạm HĐ
trong lĩnh vực thương mại;
10
Các biện pháp bảo đảm thực hiện HĐ.
Như vậy có thể thấy các quy định về HĐ vô hiệu trong KDTM là một phần trong
chế định HĐ. Và nội dung cơ bản của pháp luật về HĐ vô hiệu trong KDTM bao gồm: 1)
những quy định về điều kiện có hiệu lực của HĐ trong KDTM; 2) các trường hợp HĐ vô
hiệu trong KDTM; 3) các quy định về xử lý hậu quả pháp lý của HĐ vô hiệu trong
mại được thiết lập giữa các bên thì trừ trường hợp có thoả thuận khác, các bên được coi
là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các
bên đó mà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được trái với quy định của pháp
luật. Như vậy, trường hợp các bên ký kết HĐ không thỏa thuận cụ thể thì có thể áp dụng
theo thói quen trong hoạt động thương mại đã hình thành giữa các bên.
-
11
Thứ tƣ, áp dụng tập quán thương mại. Tập quán thương mại là nguồn luật rất
quan trọng điều chỉnh các quan hệ HĐ trong lĩnh vực thương mại, đặc biệt là trong
thương mại quốc tế. Tập quán thương mại thường được áp dụng để điều chỉnh các quan
hệ HĐ trong lĩnh vực thương mại, khi các mối quan hệ này không được điều chỉnh bởi
HĐ giữa các bên hoặc điều ước quốc tế và luật pháp của các quốc gia. Trong mối quan
hệ với HĐ, tập quán được áp dụng theo nguyên tắc: nếu pháp luật quốc gia không có quy
định, các bên không có thỏa thuận và không có thói quen đã được thiết lập giữa các bên
thì tập quán được áp dụng nhưng không trái với những nguyên tắc của pháp luật.
Thứ năm, áp dụng án lệ. Việc án lệ được công nhận và áp dụng tại Việt Nam là
một điểm mới rất tiến bộ và đáng ghi nhận của BLDS 2015. Theo đó, Điều 6 BLDS 2015
quy định: “Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân
sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán
được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự”.
“Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này
thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật
này, án lệ, lẽ công bằng”.
1.2.5 Pháp luật một số nước về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại
Thứ nhất, hệ thống các nƣớc theo truyền thống luật Châu Âu lục địa – Civil Law.
Pháp luật các nước theo truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa như Pháp, Đức và các
nước chịu ảnh hưởng của truyền thống pháp luật này (Bỉ, Tây Ban Nha, một số nước ở
toàn cầu.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Ngày nay trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nền kinh tế nước ta phải phát
huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định
hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi tính dân tộc, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, bảo
vệ môi trường để tạo nên uy tín và sức mạnh cho nước ta trên trường thế giới. Tham gia
sân chơi trong khu vực và thế giới đòi hỏi nền kinh tế nước nhà phải vững mạnh, hệ
thống pháp luật liên quan cần phải thông thoáng, nhưng chặt chẽ để các nhà đầu tư trong
và ngoài nước yên tâm, thu hút đầu tư và hơn hết các cá nhân, tổ chức, pháp nhân hoạt
động thương mại cần thiết phải bản lĩnh, thông minh và không chỉ dừng lại ở biết luật mà
còn hiểu đúng, hiểu sâu và nắm bắt kịp thời, chính xác các quy định pháp luật hiện hành
để thu lợi nhuận và hạn chế rủi ro cho chính bản thân. Công cụ thể xác lập quyền, nghĩa
vụ của các chủ thể hoạt động thương mại là HĐ. Do đó, HĐ phải tuân thủ theo quy định
của pháp luật để có hiệu lực ràng buộc các bên kết ước, góp phần bảo vệ lợi ích chính
đáng của những chủ thể kinh doanh chân chính.
Do vậy, xuất phát từ sự quan trọng của HĐ trong kinh doanh và thực tiễn trong
việc lợi dụng HĐ để tuyên vô hiệu, gây hoang mang, bất ổn định của những doanh
nghiệp kinh doanh chân chính, nên việc phân tích và nghiên cứu các trường hợp HĐ vô
hiệu trong KDTM là vô cùng cần thiết. Và qua chương 1 của cuốn luận văn tác giả giải
quyết hai vấn đề cơ bản nhất: i) Đƣa ra những vấn đề cơ bản của HĐ vô hiệu trong
KDTM và giải quyết mối quan hệ giữa HĐ dân sự và HĐ trong KDTM. Từ đó giải
thích tại sao BLDS là nguồn căn cứ/văn bản “gốc” để điều chỉnh HĐ trong KDTM
vô hiệu; ii) Đánh giá những quy định pháp luật về HĐ vô hiệu trong KDTM qua các
thời kỳ phát triển và hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Nêu, phân tích và đánh giá
những vấn đề cơ bản nhất của pháp luật hiện hành về HĐ vô hiệu trong KDTM.
Đồng thời có sự nghiên cứu và so sánh với hệ thống pháp luật điển hình trên thế giới.
13
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG
dân sự và có các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ đó.
Quy định về năng lực hành vi dân sự của cá nhân, căn cứ vào BLDS 2015 thì
người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên và người thành niên là người có năng lực
hành vi dân sự đầy đủ.
Về năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân. Theo quy định tại khoản 2 Điều 86
BLDS 2015 thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải
14
đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm
ghi vào sổ đăng ký.
Năng lực hành vi dân sự của pháp nhân. Về nguyên tắc, thời điểm tổ chức, doanh
nghiệp hay pháp nhân được coi là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ phải căn cứ vào quy
định của pháp luật. Pháp luật doanh nghiệp được coi là nguồn pháp lý chủ yếu điều
chỉnh/quy định năng lực hành vi dân sự của doanh nghiệp/pháp nhân. Bên cạnh đó,
doanh nghiệp/pháp nhân hoạt động trong lĩnh vực nào thì sẽ chịu thêm sự điều chỉnh của
văn bản pháp luật của lĩnh vực đó.
Như vậy, năng lực pháp luật và năng lực hành vi là hai yếu tố của chủ thể khi
tham gia quan hệ HĐ, chúng có nội hàm khác nhau, ảnh hưởng đến tính có hiệu lực của
HĐ là rất khác nhau.
Thứ hai, chủ thể tham gia HĐ hoàn toàn tự nguyện. BLDS 2015 kế thừa hoàn
toàn quy định này từ BLDS 2005. Ý chí của chủ thể, sự tự do tự nguyện tham gia HĐ là
rất quan trọng, nó vừa là quyền con người, quyền công dân vừa là một điều kiện quan
trọng để HĐ có hiệu lực pháp lý. Có thể thấy các quy định tại Điều 126, Điều 127 BLDS
2015 là biểu hiện của trường hợp vô hiệu do vi phạm điều kiện này.
Thứ ba, mục đích và nội dung của HĐ không vi phạm điều cấm của luật, không
trái đạo đức xã hội. Điều cấm của luật là những quy định quy luật không cho phép chủ
thể thực hiện những hành vi nhất định. Còn chuẩn mực xã hội là những chuẩn mực ứng
xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Để có được quy
GD có vi phạm điều kiện này hay không. Dưới góc độ thực tiễn thì lợi ích của người dân
nói chung, lợi ích chính đáng của các bên trong HĐ nói riêng phải được bảo đảm một
cách chắc chắn bởi cơ quan quyền lực cao nhất, có như vậy mới không còn nguy cơ bị
méo mó bởi những văn bản dưới luật của cơ quan hành pháp hoặc cơ quan tư pháp, có
tác dụng tăng niềm tin khi các bên tham gia HĐ, góp phần thúc đẩy quan hệ HĐ.
Đây là một trong những điều kiện quan trọng, có thể coi là quan trọng nhất. Bởi
lẽ, mục đích, nội dung của HĐ chính là “linh hồn” của HĐ, nó không chỉ tác động trực
tiếp đến lợi ích của các bên tham gia HĐ mà có thể ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ
thể khác, dù họ không tham gia HĐ, nếu các bên tham gia HĐ không lấy pháp luật, đạo
đức xã hội làm chuẩn, làm cơ sở trong quá trình xác lập HĐ.
Thứ tƣ, hình thức của HĐ là điều kiện có hiệu lực của HĐ trong trường hợp luật
có quy định. Hình thức của HĐ trong KDTM phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với một số HĐ trong KDTM đặc biệt mà pháp luật quy định phải được lập thành văn
bản mới có hiệu lực pháp luật (HĐ MBHH quốc tế, HĐ quảng cáo, HĐ tín dụng...) hoặc
công chứng, chứng thực hay đăng ký (HĐ bảo lãnh, HĐ thế chấp QSDĐ...) thì việc lập
HĐ bằng văn bản và công chứng, chứng thực hay đăng ký là điều bắt buộc.
Đối với điều kiện này, BLDS 2015 đã bỏ chữ “pháp” trong thuật ngữ “pháp luật”
so với BLDS 2005 – khoản 2 Điều 119, còn những nội dung khác BLDS 2015 vẫn giữ
nguyên. BLDS 2015 gần như kế thừa quy định về hình thức của GD được quy định tại
Điều 124 BLDS 2005, khoản 1 Điều này chỉ bổ sung cho cụ thể hơn, và khoản 2 bỏ chữ
“pháp” để vừa đảm bảo tính nhất quán giữa các quy định, vừa khẳng định chỉ khi “luật
quy định GD dân sự phải được thể hiện bằn văn bản có công chứng, chứng thực, đăng
ký” thì các bên mới bắt buộc phải tuân theo quy định đó.
Như vậy, hình thức của HĐ phải được thể hiện dưới hình thức văn bản có công
chứng, chứng thực, đăng ký chỉ khi có luật định, khi đó nó mới trở thành điều kiện bắt
buộc về hình thức của HĐ. Vì vậy, dù HĐ đó quan trọng hay không quan trọng mà
không có luật nào quy định HĐ phải công chứng, chứng thực, đăng ký thì các bên không
thực hiện công chứng, chứng thực, đăng ký HĐ vẫn có hiệu lực. Quy định này đã thể
hiện rõ hơn triết lý “việc dân sự cốt ở hai bên”, nội dung của HĐ, sự tự nguyện của các
chủ thể mới là yếu tố quan trọng, còn hình thức của HĐ chỉ có ý nghĩa trong một chừng
cho phép, thì khi BLDS 2005 được thông qua một tư duy mới đã bắt đầu nảy nở với ý
tưởng là công dân được làm những gì pháp luật không cấm. Tư tưởng này đã được khẳng
định trong Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa rõ nét trong BLDS 2015.
Khi một bên hoặc cơ quan có thẩm quyền cho rằng, HĐ vi phạm điều cấm của
luật, trái đạo đức xã hội thì phải chỉ rõ điều cấm nào của luật, quy định nào không cho
phép các bên xác lập HĐ, nếu vi phạm thuộc lĩnh vực đạo đức cũng phải chỉ rõ vi phạm
chuẩn mực nào trong lĩnh vực đạo đức. Nếu không chỉ ra các căn cứ pháp lý cụ thể thì
không áp dụng điểm c khoản 1 Điều 117, Điều 123 của Bộ luật để tuyên vô hiệu HĐ.
Ví dụ: Doanh nghiệp tư nhân HB ký HĐ mua bán Rùa nước ngọt đốm đen với
Doanh nghiệp X – quốc tịch nước ngoài. HĐ mua bán này vô hiệu do vi phạm điều cấm
của luật. Cụ thể là vi phạm điểm c khoản 1 Điều 6 Luật Đầu tư năm 2014, mua bán động
vật thuộc danh mục cấm kinh doanh theo Phụ lục I, phần III mục 1 tiểu mục 1.3 Công
ước quốc tế về buôn bán các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ký tại
Washington D.C ngày 01/3/1973.
Thứ hai, HĐ vô hiệu do giả tạo – dựa theo Điều 124 BLDS 2015.
Điều 124 BLDS 2015 quy định: “1. Khi các bên xác lập GDDS một cách giả tạo
nhằm che giấu một GDDS khác thì GDDS giả tạo vô hiệu, còn GDDS bị che giấu vẫn có
17
hiệu lực, trừ trường hợp GD đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật
khác có liên quan; 2. Trường hợp xác lập GDDS giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với
người thứ ba thì GDDS đó vô hiệu”.
Theo đó, sẽ có hai dạng HĐ bị coi là giả tạo: i) Dạng giả tạo thứ nhất: hai bên tạo
ra hai HĐ nhưng thực chất chỉ có một HĐ là có thực còn một HĐ là giả. Như vậy, khi
một HĐ được coi là giả tạo thì dù biểu hiện về hình thức là một HĐ, có đủ các yếu tố cấu
thành của HĐ, nhưng các bên không có ý định thực hiện HĐ, không phát sinh quyền,
nghĩa vụ thực sự cho các bên, việc tạo ra HĐ này chỉ nhằm che giấu một HĐ có thực
khác, nên theo quy định tại Điều 124 BLDS 2015 thì HĐ này bị vô hiệu, còn HĐ có thực
bị che giấu vẫn có hiệu lực.