BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG LĨNH VỰC
THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ LUẬN VĂN: NGÔ THỊ THU HÀ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.NGUYỄN QUÝ TRỌNG
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình
khác. Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình.
Người cam đoan
Ngô Thị Thu Hà
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình, tôi xin gửi lời cảm ơn chân
thành nhất đến tập thể giáo viên Khoa đào tạo Sau đại học – Viện đại học Mở Hà
Nội đã hết lòng tận tình chỉ dạy, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình
học tập tại trường thời gian qua .
hợp đồng thương mại vô hiệu......................................................................... 22
1.2.2. Khái niệm và nội dung chủ yếu của pháp luật điều chỉnh hợp đồng
thương mại vô hiệu. ....................................................................................... 33
Chương 2 THỰC TRẠNG XỬ LÝ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÔ HIỆU
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI .......................................... 35
2.1. Các điều kiện kiện kinh tế-xã hội của thành phố Hà Nội ảnh hưởng tới
việc xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu .......................................................... 35
2.1.1.Thuận lợi ............................................................................................... 35
2.1.2.Khó khăn................................................................................................ 36
2.2. Thực tiễn các quy định pháp luật về xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu ..... 37
2.2.1. Số liệu xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu tại TAND thành phố Hà nội ... 37
2.2.2.Đánh giá hoạt động xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu tại TAND thành
phố Hà Nội ..................................................................................................... 41
Chương 3 NHỮNG YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ XỬ LÝ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÔ HIỆU Ở VIỆT NAM ................ 65
3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật hợp đồng và xử lý hợp đồng thương mại
vô hiệu. .............................................................................................................. 65
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật hợp đồng và xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu
là một tất yếu khách quan, sự đòi hỏi của thực tiễn. ...................................... 65
3.1.2 Yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp
đồng thương mại vô hiệu. ............................................................................... 67
3.2 Những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng thương
mại vô hiệu và xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu. ....................................... 71
3.2.1 Hoàn thiện các quy định chung về điều kiện có hiệu lực của giao
dịch dân sự. ................................................................................................... 71
3.2.2 Về các trường hợp tuyên bố hợp đồng thương mại vô hiệu................... 74
3.3.3 Giải pháp nhằm nâng cao hoạt động xét xử hợp đồng thương mại vô
hiệu ................................................................................................................. 84
7. PLHĐKT
: Pháp luật hợp đồng kinh tế
8. TAND
: Tòa án nhân dân
9. TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Chúng ta không thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của hợp đồng thương
mại trong đời sống xã hội đặc biệt là trong các hoạt động giao thương hàng hóa dịch
vụ giữa các chủ thể với nhau. Chế định hợp đồng nói chung và hợp đồng kinh doanh
thương mại nói riêng luôn được coi là một chế định pháp lý quan trọng không thể
thiếu trong hoạt động thương mại của mỗi quốc gia khi mà cơ chế hội nhập quốc tế
ngày càng được mở rộng. Hợp đồng thương mại tạo ra những tiền đề pháp lý cho sự
vận động linh hoạt và an toàn trong các giao dịch kinh doanh hàng hóa, dịch vụ giữa
các chủ thể trực tiếp hoặc dán tiếp tham gia. Khi xây dựng pháp luật về hợp đồng, các
nhà làm luật đều quan tâm tới các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, về
xử lý hợp đồng vô hiệu. Các quy định này có tác dụng đảm bảo sự ổn định của xã
hội, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của
các bên tham gia quan hệ hợp đồng. Việc xử lý hợp đồng vô hiệu như thế nào ảnh
hưởng rất lớn đến quyền lợi ích của các bên trong hợp đồng. Do vậy, các quy định về
xử lý hợp đồng vô hiệu phải phù hợp với thực tiễn cuộc sống, đảm bảo sự hài hòa
giữa quyền của các bên chủ thể và lợi ích của cộng đồng, nhà nước nói chung. Tuy
xử lý HĐVH trong lĩnh vực thương mại.
2. Tình hình nghiên cứu
Việc nghiên cứu về hợp đồng vô hiệu cũng như pháp luật về hợp đồng vô hiệu
trong lĩnh vực thương mại đã được nhiều nhà khoa học quan tâm trong các thời kỳ
trên nhiều góc độ khác nhau, như:
- Giáo trình Luật thương mại trường Đại học Luật Hà Nội, tập 2, Nbx Tư Pháp
năm 2017; Khoa Luật Đại học Quốc gia, Học viện khoa học xã hội, Viện Hàn lâm
khoa học xã hội Việt nam và các cơ sở đào tạo ngành luật.
- Bên cạnh đó, vấn đề hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại còn được
đề cập trong một số ấn phẩm như: Sách Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự của Bộ
Tư Pháp; Lê Thị Bích Thọ: “Hợp đồng kinh tế vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp
đồng kinh tế vô hiệu”, Luận án tiến sĩ, năm 2002; Nguyễn Văn Cường: "Giao dịch
dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu"
2
năm 2004; Luận án Tiến sỹ; Cao Thị Thùy Dương: "Những vấn đề lý luận và thực
tiễn về xử lý hợp đồng vô hiệu ở Việt Nam"Luận văn thạc sĩ, năm 2004…
- Một số công trình khoa học khác cũng đề cập đến hợp đồng vô hiệu, như:
TS. Bùi Đăng Hiếu: Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối và giao dịch dân sự vô hiệu
tuyệt đối; Hoàng Thị Thanh: “Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao
dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức”…Tuy nhiên, có thể
nhận thấy các công trình có liên quan đến đề tài chủ yếu được nghiên cứu các quy
định của pháp luật được quy định trong các văn bản pháp luật như: Pháp lệnh hợp
đồng kinh tế, Bộ luật dân sự của giai đoạn 2004 trở về trước chưa được bổ sung
theo pháp luật sửa đổi sau này. Do vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện các quy
định về hợp đồng thương mại vô hiệu từ lý luận đến thực tiễn xét xử tại Tòa án có ý
nghĩa rất quan trọng đặc biệt là sau khi Bộ luật thương mại 2015 ra đời cũng nảy
sinh nhiều vấn đề cấp thiết đòi hỏi phải có sự sửa đổi, bổ sung.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về
hợp đồng thương mại, hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại và thực tiễn xử
lý hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại tại TAND thành phố Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: luận văn tập trung nghiên cứu các quy
định về hợp đồng, hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại (sau đây thống nhất
gọi chung là hợp đồng thương mại vô hiệu) cũng như xử lý nó chủ yếu được quy
định tại Bộ luật dân sự năm 2015, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2013, Luật
Thương mại năm 2005 và một số văn bản pháp luật liên quan.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu của luận văn được thực hiện trên nền tảng phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa
Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.
Tác giả sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: lịch sử, phân tích, tổng
hợp, so sánh, đánh giá…để giải quyết các nội dung và đạt được mục tiêu đề ra.
4
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn làm rõ những vấn đề cơ bản của hợp đồng thương mại , hợp đồng
thương mại vô hiệu như: nhận diện hợp đồng thương mại, khái niệm, đặc điểm hợp
đồng thương mại vô hiệu …
- Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật tại TAND thành phố Hà
Nội về xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu theo quy định tại Luật thương mại và Bộ
luật Dân sự 2015.
- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng vô hiệu
trong lĩnh vực thương mại trong giai đoạn hiện nay.
- Những kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo trong học tập,
giảng dạy và áp dụng trong thực tiễn.
nhiều quốc gia hiện nay là việc không mấy dễ dàng. Ở Việt Nam, trong thực tế đời
sống, có rất nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ về hợp đồng như: Khế ước, giao kèo,
văn tự, văn khế, tờ giao ước, tờ ưng thuận, chấp thuận…Sau này, các văn bản hiện
hành của nhà nước ta không còn được sử dụng thuật ngữ “ khế ước” hay “hiệp ước”
như trước đây mà sử dụng các thuật ngữ có tính “ chức năng”, “công cụ”1 như hợp
đồng dân sự, hợp đồng lao động, hợp đồng thương mại. Đây là điểm cá biệt bởi trong
pháp luật của nhiều nước, người ta chỉ sử dụng thuật ngữ “ Hợp đồng” nói chung, chứ
không sử dụng thuật ngữ “ Hợp đồng dân sự”, “ Hợp đồng thương mại”, “ Hợp đồng
lao động” một cách cụ thể như pháp luật Việt Nam.
Khái niệm về hợp đồng được quy định trong Bộ Luật dân sự năm 2015 có sự
thay đổi so với quy định về hợp đồng trong Bộ luật dân sự năm 2005. Theo đó,
“Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền
và nghĩa vụ giữa các bên tham gia thỏa thuận2.
1
Phạm Hữu Nghị ( Năm 1996) Bộ luật dân sự, Luật thương mại và Pháp luật hợp đồng kinh tế trong sự điều
chỉnh các quan hệ hợp đồng kinh tế, nhà nước và pháp luật.
2
Điều 385 Bộ luật dân sự 2015.
6
1.1.1.2. Khái niệm hợp đồng thương mại.
Danh từ “hợp đồng” được xuất hiện lần đầu tiên trong pháp lệnh hợp đồng
kinh tế công bố ngày 28/09/1989 và pháp lệnh về hợp đồng dân sự công bố ngày
07/05/1991. Theo hai văn bản này, hợp đồng kinh tế bao gồm các hợp đồng được kí
kết nhằm mục đích kinh doanh giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với
tư nhân có đăng kí kinh doanh theo pháp luật. Các tranh chấp phát sinh trong việc
thi hành hợp đồng kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa kinh tế, các hợp
hiệu… Bên cạnh đó, xuất phát từ yêu cầu của hoạt động thương mại, một số vấn đề
về hợp đồng thương mại được quy định trong bộ luật thương mại có tính chất là sự
phát triển tiếp tục những quy định của dân luật truyền thống về hợp đồng (như chủ
thể, hình thức, quyền và nghĩa vụ của các bên, chế tài và giải quyết tranh chấp hợp
đồng...). Hợp đồng thương mại có những đặc điểm nhất định để nhận biết và phân
biệt với các loại hợp đồng khác.
Về chủ thể, hợp đồng thương mại được thiết lập giữa các chủ thể là thương nhân.
Theo quy định của Luật thương mại, thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành
lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có
đăng ký kinh doanh (Khoản 1 Điều 6 Luật thương mại 2005). Điểm mấu chốt là tất cả
chủ thể của quan hệ hợp đồng thương mại (thương nhân) đều phải có đăng ký kinh
doanh. Thương nhân là chủ thể của hợp đồng thương mại có thể là thương nhân Việt
Nam hoặc thương nhân nước ngoài. Luật thương mại quy định về thương nhân nói
chung và thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam.
Về hình thức, hợp đồng thương mại có thể được thiết lập dưới hình thức văn
bản, lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết. Trong những trường hợp
nhất định, pháp luật bắt buộc các bên phải thiết lập hợp đồng thương mại bằng hình
thức văn bản (Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, hợp đồng dịch vụ khuyến mại,
quảng cáo, hội chợ, triển lãm thương mại...). Luật thương mại cho phép các bên hợp
đồng có thể thay thế hình thức văn bản bằng các hình thức khác có giá trị pháp lý
tương đương. Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo,
telex, fax, thông điệp dữ liệu (Khoản 15 Điều 3 Luật thương mại 2005).
Về nội dung và mục đích của hợp đồng thương mại: Mục đích của các bên
trong hợp đồng thương mại là lợi nhuận. Trường hợp có chủ thể hợp đồng không
nhằm mục đích lợi nhuận giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước
8
Việt Nam, thì hợp đồng được áp dụng Luật thương mại khi bên không nhằm mục
có sự vi phạm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng đã được quy định trong Bộ luật
Dân sự 2015 ( Điều 122) làm cho hợp đồng vô hiệu”.3
Hợp đồng thương mại vô hiệu chứa đựng những yếu tố gây vô hiệu như giả
tạo, nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa … dẫn tới không đảm bảo một hoặc một số điều kiện
có hiệu lực của hợp đồng thương mại. Thời điểm xác định sự vô hiệu của hợp đồng
thương mại được tính từ thời điểm hợp đồng được xác lập. Hợp đồng đã ký sẽ
không có giá trị thực hiện kể từ khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu, trường hợp hợp
đồng thương mại vô hiệu đã và đang được thực hiện thì việc thực hiện hợp đồng sẽ
bị chấm dứt.
1.1.2.2.Đặc điểm của hợp đồng thương mại vô hiệu.
Thứ nhất, Hợp đồng thương mại vô hiệu do không phát sinh hiệu lực theo quy
định của pháp luật về hợp đồng.
Hợp đồng không thỏa mãn một trong các điều kiện hợp pháp theo quy định của
pháp luật về hợp đồng đó là các điều kiện về năng lực chủ thể; điều kiện về mục
đích và nội dung thỏa thuận; điều kiện về thể hiện ý chí trong thỏa thuận; điều kiện
về hình thức giao dịch và điều kiện đối tượng hợp đồng phải thực hiện được.
Về điều kiện chủ thể khoản 1, Điều 6 luật thương mại năm 2005 quy định chủ
thể của hợp đồng thương mại là thương nhân; thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế
được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường
xuyên và có đăng ký kinh doanh. Các chủ thể tham gia hợp đồng thương mại phải
có năng lực chủ thể để thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng. Trong thực tiễn kinh
doanh, thương mại, chủ thể tham gia hợp đồng thương mại chủ yếu là thương nhân.
Khi tham gia hợp đồng thương mại nhằm mục đích lợi nhuận, các thương nhân phải
đáp ứng điều kiện có đăng ký kinh doanh phù hợp với nội dung hợp đồng. Trường
hợp mua bán hàng hóa, dịch vụ có điều kiện thương nhân còn phải đáp ứng các điều
kiện kinh doanh đó theo quy định của pháp luật.
Đại diện hợp pháp của chủ thể hợp đồng có thể là đại diện theo pháp luật hoặc
đại diện theo ủy quyền. Khi xác định thẩm quyền giao kết hợp đồng thương mại,
3
thương mại (Điều 13); Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng
(Điều 14) và Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt
động thương mại ( Điều 15).
Về hình thức, hợp đồng thương mại có thể được thiết lập dưới hình thức văn
bản, lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết. Trong những trường hợp
11
nhất định, pháp luật bắt buộc các bên phải thiết lập hợp đồng kinh doanh thương mại
bằng hình thức văn bản (Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, hợp đồng dịch vụ
khuyến mại, quảng cáo, hội chợ, triển lãm thương mại...). Luật thương mại cho phép
các bên hợp đồng có thể thay thế hình thức thức văn bản bằng các hình thức khác có
giá trị pháp lý tương đương. Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm
điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu (Khoản 15 Điều 3 Luật thương mại 2005).
Về nội dung và mục đích của hợp đồng thương mại: Mục đích của các bên
trong hợp đồng thương mại là lợi nhuận. Trường hợp có chủ thể hợp đồng không
nhằm mục đích lợi nhuận giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước
Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thì hợp đồng được áp dụng Luật thương mại
khi bên không nhằm mục đích lợi nhuận lựa chọn áp dụng Luật thương mại (Khoản
3 Điều 1 Luật thương mại 2005).
Về điều kiện đối tượng hợp đồng phải thực hiện được, đây cũng là điều kiện
rất quan trọng xác lập hợp đồng được thực hiện một cách khả thi và đúng luật bởi vì
nếu hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được mà các bên vẫn giao kết thực
hiện thì theo Điều 408 BLDS 2015 “ Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có
đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu”.
Khoản 2 Điều 408 BLDS 2015 được quy định nhằm hạn chế sự lạm dụng
của một bên khi biết rõ hoặc buộc phải biết đối tượng của hợp đồng không thể thực
hiện được nhưng vì mục đích nào đó mà vẫn cố tình giao kết hợp đồng và gây thiệt
hại cho bên kia.
của hợp đồng.
* Dựa vào mức độ vi phạm nghiêm trọng hay không của hợp đồng cũng như
căn cứ vào ý chí của Nhà nước, ý chí của chủ thể tham gia giao dịch thì
HĐTMVH đuợc chia thành:
-Vô hiệu tuyệt đối: Các loại hợp đồng thương mại bị vô hiệu tuyệt đối: Hợp
đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội5 và khi giao
dịch được xác lập một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc nhằm
4
5
Xem thêm từ Điều 122 đến Điều 133 BLDS năm 2015
Điều 123 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015
13
trốn tránh nghĩa vụ đối với người thứ ba và khi hình thức của giao dịch không tuân
thủ theo qui định bắt buộc của pháp luật.6
- Vô hiệu tương đối: Điều 130 Bộ luật dân sự 2015: “giao dịch dân sự vô
hiệu từng phần khi một phần của giao dịch bị vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến
hiệu lực của phần còn lại của giao dịch”. Như vậy, chỉ riêng những điều khoản bất
hợp pháp bị tiêu hủy, còn các phần khác của hợp đồng vẫn có hiệu lực.
* Các loại hợp đồng vô hiệu tương đối:
- Hợp đồng vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi
dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 125 Bộ
luật dân sự Việt Nam 2015).
- Hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 126 Bộ luật dân sự Việt Nam
2015).
- Hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa (Điều 127 Bộ luật dân sự Việt Nam
đ) Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không
tuân thủ quy định về hình thức.
Riêng đối với giao dịch dân sự quy định tại Điều 123 (Giao dịch dân sự vô
hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội) và Điều 124 (Giao dịch dân
sự vô hiệu do giả tạo) của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao
dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế (Điều 132 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015).
Thứ ba, giao dịch thương mại thuộc trường hợp vô hiệu tuyệt đối có thể bị vô
hiệu không phụ thuộc vào quyết định của Tòa án mà giao dịch này đương nhiên
không có giá trị, vì giao dịch vi phạm pháp luật nghiêm trọng cho nên Nhà nước
không bảo hộ. Vô hiệu tuyệt đối có thể do mọi người có quyền lợi liên quan nêu ra
và không thể khôi phục lại hiệu lực của hợp đồng trong bất kì trường hợp nào. Hợp
đồng vô hiệu tương đối có thể khôi phục lại hiệu lực của phần hợp đồng đã bị tuyên
bố vô hiệu khi hợp đồng: vô hiệu vì sự thỏa thuận bị tỳ tích (lầm lẫn, đe dọa, lừa
dối); vô hiệu vì không có năng lực hành vi; vô hiệu vì khiếm khuyết về hình thức.
Trong trường hợp này, quyết định của Tòa án là cơ sở làm cho giao dịch trở nên vô
hiệu. Quyết định của Tòa án mang tính chất phân xử. Tòa án tiến hành giải quyết vụ
việc khi có đơn yêu cầu của các bên (hoặc của đại diện hợp pháp của họ). Bên yêu
cầu phải có nghĩa vụ chứng minh trước Tòa các cơ sở của yêu cầu. Ví dụ : Nếu một
người yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu vì lý do khi xác lập giao dịch đã bị
lừa dối (hoặc đe dọa) thì bên yêu cầu đó phải có nghĩa vụ chứng minh trước Tòa sự
kiện lừa dối (hoặc đe dọa) mà bên kia gây ra đối với mình. Nếu như một bên yêu
15
cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu với lý do xác lập giao dịch trong thời điểm không
nhận thức được hành vi của mình thì Tòa án buộc bên yêu cầu phải chứng minh
được rằng tại thời điểm xác lập giao dịch đó họ bị rơi vào trạng thái không nhận
thức được hành vi của mình. Dựa trên những minh chứng đó Tòa án mới cân nhắc
để ra quyết định giao dịch có bị coi là vô hiệu hay không.
người đại diện của họ xác lập, thực hiện thì pháp luật cho phép người đại diện của
những người này có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố HĐVH.
- Hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn9. Ở đây, HĐDS được xác lập bởi sự
nhầm lẫn không có sự thống nhất ý chí đích thực với sự thể hiện ý chí đó ra bên
ngoài. Do đó bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố HĐDS vô hiệu
mà không cần phải yêu cầu bên kia thay đổi nội dung hợp đồng.
- Hợp đồng dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép10. Là hợp đồng mà
bản thân chủ thể xác lập hợp đồng bị “tê liệt ” về ý chí và không có sự lựa chọn
nào khác ngoài việc lựa chọn ý chí của một bên (đe doạ) hoặc sự nhận thức không
đúng về HĐDS bởi hành vi vi phạm pháp luật, bởi sự định hướng ý chí của chủ
thể thành một nội dung khác có lợi cho người định hướng (lừa dối).
- Hợp đồng dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ hành
vi của mình11. Một người có năng lực hành vi dân sư đầy đủ có thể xác lập hợp
đồng theo ý chí của mình. Tuy nhiên trên thực tế có những trường hợp bản thân
chủ thể xác lập hợp đồng mặc dù có NLHVDS đầy đủ nhưng đã xác lập hợp đồng
vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Ví dụ
trong tình trạng say rượu, bia…
- Hợp đồng dân sự vô hiệu do không tuân thủ các quy định về hình thức12. Đối
với các HĐDS mà pháp luật buộc các bên phải thông qua một hình thức nhất định
nhưng các bên lại không thông qua hình thức này thì Toà án hoặc cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền sẽ ấn định một thời hạn để các bên hoàn thành, quá thời hạn
này mà các bên không hoàn thành thì HĐVH.
- Hợp đồng vô hiệu từng phần13. Hợp đồng vô hiệu từng phần khi một phần
của hợp đồng vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại
của hợp đồng.
9
tế trên cơ sở kế thừa các quy định của pháp luật hiện hành, Bộ luật dân sự năm 2015
đã quy định rất cụ thể về nguyên tắc áp dụng pháp luật dân sự15 như sau:
a) Bộ luật dân sự là luật chung điều chỉnh tất cả các quan hệ dân sự, luật
khác có liên quan đến điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không
được trái với các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự. Trường hợp luật khác có
liên quan không quy định hoặc có quy định nhưng trái với quy định của Bộ luật
dân sự thì phải áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự.
b) Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Bộ luật dân sự và điều ước
quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên về cùng một vấn đề
thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế.
14
15
Điều 408 Bộ luật dân sự 2015.
Xem các Điều 4 đến Điều 6 BLDS năm 2015.
18
c) Trường hợp các bên không có thoả thuận và pháp luật không quy định thì
có thể áp dụng tập quán trong quan hệ dân sự. Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá
nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều
lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng,
miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự. Tuy nhiên, tập
quán không được trái với các nguyên tắc cơ bản quy định tại Điều 3 của Bộ luật dân
sự thì mới được áp dụng.
Nguyên tắc này cũng được quy định tại Khoản 1 Điều 45 Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015 về nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều