VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN THỊ TRANG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TỪ
THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội, 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN THỊ TRANG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI
TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH SƠN LA
Ngành:
Luật kinh tế
Mã số:
838 01 07
Kinh doanh thương mại
TAND
Tòa án nhân dân
TTDS
Tố tụng dân sự
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP KINH
DOANH, THƯƠNG MẠI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH
DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN ........................................................... 7
1.1. Những vấn đề lý luận về tranh chấp kinh doanh, thương mại ........................ 7
1.2. Cơ sở pháp lý về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án 12
Chương 2 PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ
CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA .............................................. 25
2.1. Những nguyên tắc pháp lý cơ bản trong việc giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại tại Tòa án .............................................................................. 25
2.2 Những yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại
Tòa án .................................................................................................................. 31
2.3. Thực tiễn xét xử các tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân
các cấp trên địa bàn tỉnh Sơn La. ........................................................................ 45
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI
quốc gia đều có các văn bản pháp luật để điều chỉnh, mặc dù có thể tên gọi có
thể khác nhau và có những chuyển biến tích cực, hợp tác và giao lưu thương mại
ngày càng phát triển. Ngày nay nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đã tạo điều
kiện cho các quan hệ thương mại hình thành, phát triển đa dạng và phức tạp. Để
điều chỉnh và tạo khung pháp lý cho hoạt động KDTM của các doanh nghiệp,
Việt Nam đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh
doanh, thương mại trong đó có Bộ luật dân sự 2015, Luật Doanh nghiệp 2014,
Luật Thương mại 2005, Luật đầu tư 2014 và Luật trọng tài thương mại 2014…,
bước đầu đã giúp hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp phát triên toàn
diện hơn.
Cùng với sự phát triển đa dạng và phức tạp của các quan hệ kinh doanh,
thương mại thì việc xảy ra các tranh chấp trong quan hệ kinh doanh, thương mại
là điều tất yếu khách quan. Để giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương
mại các bên có thể lựa chọn một phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp dựa
trên các yếu tố như mục tiêu đạt được, mối quan hệ giữa các bên, thời gian và
chi phí…Theo pháp luật Việt Nam quy định thì có các phương thức giải quyết
tranh chấp trong kinh doanh sau: thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại
và tòa án. Theo đó khi xảy ra tranh chấp các bên có thể trực tiếp thương lượng
với nhau để giải quyết, trường hợp không thương lượng được thì có thể thực
hiện với sự trợ giúp của bên thứ ba thông qua hòa giải, trọng tài hoặc tòa án.
1
Mỗi phương thức đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng nhưng nhìn chung
đều hướng tới việc giải quyết xung đột giữa các bên, bảo vệ lợi ích hợp pháp và
chính đáng của các bên khi tham gia vào hoạt động kinh doanh thương mại.
Ở Việt Nam, giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng
con đường toà án đang là phương thức giải quyết thông dụng và phổ biến hiện
nay. Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng con đường toà án
mang tính cưỡng chế cao và các bên không cần phải có sự thoả thuận trước.
Thực tế trước đây đã có một số đề tài, công trình nghiên cứu khoa học
quan trọng về việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại ở các cấp độ
khác nhau và theo nhiều khía cạnh khác nhau như: do nhà nước thực hiên “
Trọng tài kinh tế Nhà nước” do Bộ Tư pháp chủ trì; Luận văn thạc sĩ Luật học
của Nguyễn Thị Vân Anh về “ Giải quyết tranh chấp công ty bằng Tòa án ở Việt
Nam” ; Luận văn thạc sĩ của Cung Mỹ Anh về “ Giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự”...
Tất cả những công trình nêu trên chủ yếu đã tiếp cận được thực trạng về
quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại từ góc độ luật thực định,
nhưng vẫn còn một vài vấn đề chưa nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và có
hệ thống cả trong tố tụng và ngoài tố tụng và đa phần chưa nghiên cứu sâu về
quá trình, trình tự tố tụng để giải quyết tranh chấp trên. KDTM tại các TAND
còn nhiều lúng túng, chưa có định hướng cụ thể. Vì vậy, rất cần thiết có nhiều
hơn nữa các nghiên cứu chuyên sâu về nội dung này, đặc biệt là những nghiên
cứu mang tính áp dụng thực tế.
Chính vì thế, việc nghiên cứu thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Sơn La, sẽ đóng góp
định hướng sửa đổi hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực này để
phục vụ cho công tác của ngành TAND và VKSND, góp phần nâng cao hiệu
quả giải quyết tranh chấp KDTM trên thực tế là thật sự cần thiết và hoàn toàn
phù hợp với yêu cầu mới trong giai đoạn hiện nay. Việc nghiên cứu các vấn đề
thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án - sẽ mang
tới những cái nhìn mới mẻ hơn về thực tiễn giải quyết loại tranh chấp này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những thành quả của các đề tài, công
trình nghiên cứu đi trước, luận văn hướng tới mục đích nghiên cứu sâu sắc
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn giải quyết các nội dung khoa học của đề tài dựa trên cơ sở
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng của Triết học Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh; các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; các văn
bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành; các đề tài, công trình nghiên
cứu khoa học trước đó và các tài liệu tham khảo chuyên ngành. Đồng thời, luận
văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành như: phương pháp
phân tích tổng hợp; phương pháp thống kê số liệu, phương pháp so sánh đối
chiếu, phương pháp logic, thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của tác giả dưới góc độ luật
dân sự, thương mại, có ý nghĩa về mặt lý luận cũng như thực tiễn đối với công
tác giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trên địa bàn tỉnh Sơn La nói
riêng và trên phạm vi cả nước nói chung.
Về mặt lý luận, luận văn là công trình nghiên cứu góp phần hiểu rõ hơn về
việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng phương thức Tòa án,
đồng thời luận văn còn có ý nghĩa góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu
tham khảo nhằm phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học pháp luật
dân sự, thương mại.
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu thể hiện trong luận văn là tư liệu góp
phần giúp đỡ các cơ quan THTT và người THTT trên địa bàn tỉnh Sơn La cũng
như trên phạm vi toàn quốc áp dụng đúng các quy định của pháp luật về việc
giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trong thực tiễn, đóng góp cho việc
nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp KDTM và thống nhất áp dụng
pháp luật.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được cơ cấu thành ba chương:
5
mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt
động nhằm mục đích sinh lợi khác”.
Theo khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 có quy định: “Kinh
doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá
trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị
trường nhằm mục đích sinh lợi”.
b) Khái niệm thương mại
Thuật ngữ “thương mại” ban đầu được dùng để chỉ các hoạt động buôn
bán của các thương gia. Chính vì thế, theo nghĩa hẹp khái niệm thương mại được
hiểu là hoạt động mua bán hàng hoá với mục đích kiếm lời. Cùng với quá trình
phát triển kinh tế thị trường, khái niệm thương mại được mở rộng dần sang các
lĩnh vực khác liên quan đến mua bán hàng hoá, ban đầu là các dịch vụ kèm theo
như vận tải, bảo hiểm, thanh toán…Đến nay, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới
khái niệm thương mại ngày càng được mở rộng ra với một nội hàm rộng lớn,
bao gồm tất cả các hoạt động nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận từ việc trao đổi
mua bán và sản xuất hàng hóa.
7
Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm
mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt
động nhằm mục đích sinh lợi khác.
Tóm lại, Hoạt động kinh doanh, thương mại là hoạt động nhằm mục đích
sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương
mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác quy định tại Khoản 1 Điều 3
Luật Thương mại 2005.
1.1.2. Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại
Tranh chấp thương mại hay tranh chấp kinh doanh là thuật ngữ quen
thuộc trong đời sống kinh tế xã hội ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Khái
niệm này được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở nước ta trong những năm gần đây
Thứ nhất, chủ thể trong tranh chấp KDTM là các chủ thể tham gia hoạt
động KDTM bao gồm các chủ thể tham gia toàn bộ quá trình từ lao động sản
xuất đến tiêu thụ sản phẩm, cung ứng các dịch vụ trên thị trường, các hoạt động
xúc tiến, đầu tư thương mại, cung ứng dịch vụ trên thị trường và các hoạt động
khác với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Do đó, trên thực tế chủ thể của tranh
chấp KDTM có thể là thương nhân hoặc các nhà đầu tư khác.
Thứ hai, tranh chấp KDTM là tranh chấp xảy ra trong quá trình thực hiện
các hoạt động KDTM giữa các chủ thể, khi ít nhất một bên cho là quyền và
nghĩa vụ hợp pháp của mình bị bên kia xâm phạm, và yêu cầu phải được giải
quyết.
Thứ ba, tranh chấp KDTM chủ yếu là những tranh chấp phát sinh trong
hợp đồng đã cam kết giữa các bên (hợp đồng thương mại, góp vốn thành lập
công ty, mua bán chứng khoán ...)
1.1.4. Nguyên nhân hình thành tranh chấp kinh doanh, thương mại
Trên thực tế, các tranh chấp kinh doanh, thương mại xảy ra rất đa dạng,
phức tạp, các tranh chấp này xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau. Tuy
nhiên, ta có thể thấy, một số nguyên nhân cơ bản đó là:
Thứ nhất, do lợi nhuận;
Thứ hai, do hạn chế kiến thức pháp luật;
Thứ ba, do chưa có sự hoàn thiện của các quy định pháp luật điều chỉnh
quan hệ tranh chấp kinh doanh, thương mại.
1.1.5. Phân biệt tranh chấp kinh doanh, thương mại với tranh chấp dân
9
sự
Trên thực tế, các tranh chấp diễn ra trong hoạt động kinh doanh, thương
mại cũng như mua bán, trao đổi hàng hóa mang bản chất tương đương nhau,
đồng thời ranh giới giữa hai loại tranh chấp này lại khó xác định và khá phức
tạp. Tuy nhiên, đây lại là vấn đề khó khăn trong việc xác định thẩm quyền giải
trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định của Luật này và quy định
khác của pháp luật”. Như vậy, việc một bên hoặc các bên không/chưa có đăng
ký kinh doanh khi giao dịch không làm loại trừ trách nhiệm phát sinh từ giao
dịch.
- Các bên trong tranh chấp đều có mục đích lợi nhuận. Ý chí của các bên
khi tham gia giao dịch đều nhằm mục tiêu lợi nhuận nên dù không có đăng ký
kinh doanh, họ đều hiểu và chấp nhận những quy tắc của giao dịch thương mại.
- Việc xác định loại tranh chấp này là tranh chấp kinh doanh thương mại
phù hợp với hướng dẫn tại Điểm b Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 03/2012/NQHĐTP của Hội đồng thẩm phán: “Toà kinh tế có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết
các tranh chấp và các yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại Điều 29
và Điều 30 của BLTTDS; các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà một
hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh, nhưng đều có mục đích lợi nhuận”.
(ii) Tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại giữa các bên
đều có mục đích lợi nhuận mà chỉ một bên có đăng ký kinh doanh, bên còn
lại có các loại giấy tờ pháp lý khác không phải là đăng ký kinh doanh như:
Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động, Giấy phép thành lập và hoạt động.
Đây là trường hợp mà bên không có đăng ký kinh doanh được thành lập
và hoạt động theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Trong các trường hợp
này, việc xác định loại tranh chấp cần căn cứ vào quy định tương ứng tại các văn
bản pháp luật khác.
Ví dụ 1: tranh chấp phát sinh giữa Tổ chức hành nghề luật sư (có Giấy
đăng ký hoạt động) với khách hàng là Doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp
(có đăng ký kinh doanh) trong việc cung ứng dịch vụ thì đây xác định là tranh
chấp dân sự theo Khoản 1 Điều 59 Luật Luật sư.
Ví dụ 2: tranh chấp phát sinh liên quan đến Hợp đồng BOT (Hợp đồng
Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao) giữa Nhà đầu tư là Doanh nghiệp có
đăng ký kinh doanh và Cơ quan có thẩm quyền (Bộ, UBND) được xác định là
11
tranh chấp KDTM đòi hỏi các bên tranh chấp cũng như cơ quan giải quyết tranh
chấp phải tiến hành nhanh chóng, kín đáo, không làm ảnh hưởng đến quá trình
sản xuất kinh doanh của các bên đồng thời phải luôn đảm bảo được sự hợp tác
trong hoạt động KDTM.
Như đã phân tích, tranh chấp KDTM là việc phát sinh các mâu thuẫn, bất
đồng từ hoạt động sản xuất, đầu tư hay cung ứng các dịch vụ... (được gọi chung
12
là các hoạt động KDTM). Đây là một trong các loại việc thuộc lĩnh vực tư, do
đó các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp kinh
doanh ngay từ trước khi nó xảy ra (quyền định liệu trước) hoặc sau khi tranh
chấp xảy ra. Việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án của
các bên được thực hiện trên cơ sở sự nhanh chóng, ít tốn kém và phải đảm bảo
các quyền tự do kinh doanh của các chủ thể, không cản trở các hoạt động kinh
doanh của chủ thể và không làm mất cơ hội kinh doanh của họ.
Hiện nay, pháp luật chưa có khái niệm thống nhất về giải quyết tranh chấp
kinh doanh, thương mại bằng Tòa án, tuy nhiên, trên thực tế đã có rất nhiều bài
nghiên cứu của các tác giả liên quan đến việc giải thích khái niệm giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng Tòa án.
Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Như Phát thì: “Giải quyết tranh chấp
bằng Toà án là hình thức giải quyết tranh chấp do cơ quan tài phán Nhà nước
thực hiện. Toà án nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc
bên có nghĩa vụ phải thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.
Do đó các đương sự thường tìm đến sự trợ giúp của tòa án như một giải pháp để
bảo vệ có hiệu quả các quyền, lợi ích của mình khi họ thất bại trong việc sử
dụng cơ chế thương lượng hoặc hoà giải và cũng không muốn đưa vụ tranh
chấp của họ để giải quyết bằng trọng tài”.1
Theo quan điểm của tác giả Đinh Thị Trang cho rằng: “Giải quyết tranh
chấp kinh doanh, thương mại bằng Tòa án là hình thức giải quyết các tranh
quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng Tòa án là hình thức giải quyết
tranh chấp được tiến hành khi có yêu cầu của một trong các bên trong quan hệ
tranh chấp kinh doanh, thương mại. Tòa án trong phạm vi thẩm quyền giải
quyết tranh chấp KDTM của mình, nhân danh quyền lực nhà nước, tiến hành
các trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ để đưa ra các phán quyết mang tính
cưỡng chế cao, được cơ quan nhà nước bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng
chế của nhà nước. Hiệu lực của bản án, quyết định có giá trị pháp lý cao, buộc
các bên phải thực hiện nhằm loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng về lợi
ích kinh tế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ
tranh chấp”.
1.2.2. Đặc điểm của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
tại Tòa án
Với khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng Tòa án
được trình bày ở phần trên, có thể thấy, việc giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại tại Tòa án có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, việc giải quyết tranh chấp KDTM được tiến hành khi có ít nhất
một bên cho rằng mình có quyền lợi hợp pháp bị bên kia xâm phạm và có yêu
14
cầu được giải quyết. Kết quả là các quyền và nghĩa vụ của các bên được xác
định lại hoặc mâu thuẫn hay xung đột giữa các bên được dung hòa thông qua các
phán quyết của người đứng ra giải quyết tranh chấp.
Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại toà án có sự
tham gia của bên thứ ba đó là toà án thông qua hoạt động xét xử của hội đồng
xét xử gồm có các thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Toà án là cơ quan xét xử
nhân danh quyền lực nhà nước và việc giải quyết tranh chấp bằng toà án không
cần phải có sự thoả thuận trước. Nếu như các bên không có thoả thuận gì về
phương thức giải quyết tranh chấp thì tranh chấp sẽ được giải quyết tại toà án
nếu như các bên không tự thương lượng hoặc hoà giải được. Cũng giống như
chọn trung tâm trọng tài hoặc hội đồng trọng tài do các bên thành lập, có thể lựa
chọn và đề nghị thay đổi trọng tài viên còn trong tố tụng toà án thì các bên
không có quyền chọn mà chỉ có thể đề nghị thay đổi thành phần hội đồng xét xử
nếu chứng minh được rằng họ không thoả mãn điều kiện do pháp luật quy định.
1.2.3. Cơ sở pháp lý của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương
mại tại Tòa án
Để làm rõ hơn việc giải quyết tranh tranh chấp kinh doanh, thương mại tại
Tòa án, tác giả xin đưa ra một số nội dung chủ yếu của việc giải quyết tranh
chấp KDTM tại Tòa án dựa trên khía cạnh pháp luật như sau: Một là, các
phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại; Hai là, thẩm quyền
giải quyết tranh KDTM tại Tòa án; Ba là, phân loại các tranh chấp kinh doanh,
thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án; Bốn là, so sánh phương thức giải
quyết TCKDTM bằng Tòa án so với các phương thức khác.
1.2.3.1. Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
Nhìn chung, nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam đều quy định có 4
phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại đó là: thương lượng,
hòa giải, trọng tài và Tòa án.3
Thương lượng: Là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các
bên cùng nhau bàn bạc, thảo luận để tự giải quyết bất đồng.
Hòa giải: Là phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên
3
Điều 317 Luật Thương mại năm 2005 quy định các hình thức giải quyết tranh chấp bao gồm: 1. Thương lượng
giữa các bên. 2. Hoà giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm
trung gian hoà giải. 3. Giải quyết tại Trọng tài hoặc Toà án.
16
thứ ba làm trung gian hòa giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm
thẩm quyền của các toà án một cách hợp lý và khoa học còn có ý nghĩa quan
trọng trong việc xác định những điều kiện về chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết
của đội ngũ cán bộ ở mỗi toà án và các điều kiện khác, trên cơ sở đó có kế hoạch
đáp ứng bảo đảm cho toà án thực hiện được chức năng, nhiệm vụ.
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại là quyền
xem xét giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại, quyền ra quyết định
khi giải quyết các tranh chấp đó theo quy định của pháp luật. Khác với thẩm
quyền xét xử hành chính và thẩm quyền xét xử hình sự của toà án, thẩm quyền
của Toà án trong giải quyết các tranh chấp kinh tế có những đặc trưng sau:
Thứ nhất, Toà án nhân danh quyền lực nhà nước, độc lập trong việc xem
xét giải quyết và ra các phán quyết đối với các vụ việc phát sinh từ các quan hệ
mang tính chất kinh doanh thương mại.
Thứ hai, thẩm quyền của toà án được thực hiện theo thủ tục tố tụng dân
sự. Do vậy, ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc chung về tố tụng thì toà án khi
xem xét và giải quyết các tranh chấp phải tôn trọng và bảo đảm quyền thoả
thuận, quyền tự do định đoạt của các đương sự. Phạm vi thẩm quyền được giới
hạn trong các các yêu cầu mà đương sự đưa ra và những vấn đề khác mà trên cơ
sở thoả thuận của họ. Thẩm quyền của toà án gồm:
Thẩm quyền theo vụ việc4;
(i)
(ii) Thẩm quyền theo cấp5;
(iii)
Thẩm quyền theo lãnh thổ6;
(iv)
(iii)
Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao
dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.
(iv)
Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp
giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn
hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong
công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan
đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách,
bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
(v)
Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc
thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của
pháp luật.
Như vậy, căn cứ vào Điều 30 BLTTDS, các tranh chấp thuộc thẩm quyền
giải quyết của toà án có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, đó là những mâu thuẫn bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các
bên phát sinh từ hoạt động thương mại. Cụ thể, đó là những mâu thuẫn, bất đồng
về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ những hoạt động nhằm mục đích
sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương
mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.
Thứ hai, những tranh chấp đó phát sinh chủ yếu giữa các thương nhân,
đặc biệt là những tranh chấp phát sinh từ hoạt động mua bán hàng hoá, cung ứng