HOÀNG TÙNG
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬT KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TỪ
THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN
BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI
HOÀNG TÙNG
2015- 2017
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TỪ
THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN
BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI
HOÀNG TÙNG
Tôi cũng xin cảm ơn sự giúp đõ nhiệt tình của các cán bộ lãnh đạo, các đồng
nghiệp nơi tôi đang công tác, bạn bè và những người thân đã hết sức tạo điều kiện
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Luận văn tốt nghiệp không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được
những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo và các bạn để luận văn được
hoàn thiện hơn./.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Hoàng Tùng
ii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TỪ HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN.. ... 6
1.1. Lý luận về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất ...................................... 6
1.1.1. Khái niệm quyền sử dụng và quyền sử dụng đất ..................................... 6
1.1.2. Đặc điểm quyền sử dụng đất ................................................................... 7
1.2. Lý luận về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua Tòa án ND .... 7
1.2.1. Khái niệm tranh chấp quyền sử dụng đất ................................................ 7
1.2.2. Đặc điểm tranh chấp quyền sử dụng đất.................................................. 8
1.2.3. Các loại tranh chấp quyền sử dụng đất .................................................. 10
1.2.4. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp quyền sử dụng đất ........................... 11
1.3. Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, các yếu tố chi phối việc giải quyết
tranh chấp quyền sử dụng đất và nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai nói
chung và tranh chấp quyền sử dụng đất nói riêng ............................................... 17
1.3.1. Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất .................................................. 17
2.3.2. Nguyên nhân: ....................................................................................... 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ................................................................................................... 60
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN TRONG VIỆC ÁP
DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI ....................................... 62
3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật: ............................................................... 62
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả pháp luật..................................................... 66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ................................................................................................... 68
KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 70
iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1
QSDĐ
Quyền sử dụng đất
2
TAND
Tòa án nhân dân
3
UBND
Phổ biến giáo dục pháp luật
v
MỤC LỤC BẢNG BIỂU, ẢNH MINH HỌA
STT
Nội dung
Trang
1
Biểu thị 01: Về giải quyết tranh chấp QSDĐ
34
vi
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta hiện nay đang trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa,
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó đất đai là tư
liệu sản xuất có vai trò vô cùng quan trọng với hoạt động phát triển kinh tế - xã hội.
Với sự phát triển và tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh, cùng với sự gia tăng dân số,
nhu cầu sử dụng đất ngày càng cao thì tình hình đất đai cũng diễn ra sôi động và
phức tạp. Đi cùng với đó, các vấn đề liên quan đến quyền sử dụng đất (QSDĐ) cũng
chất hết sức đa dạng và phong phú, có thể dưới dạng tranh chấp về quyền sử dụng
đất. Do đây là một lĩnh vực tranh chấp dân sự rộng, phức tạp, khó giải quyết, các
đương sự thường khiếu nại gay gắt, kéo dài, các văn bản hướng dẫn giải quyết tranh
chấp rất nhiều và qua mỗi thời kỳ lại có những quy định khác nhau. Vì vậy, để thực
hiện tốt việc giải quyết các vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất và các tài sản gắn
liền với đất đòi hỏi những người làm việc tại Tòa án nói chung và Tòa án huyện
Bảo Yên, tỉnh Lào Cai nói riêng không những chỉ nắm vững về những quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự mà còn phải nắm vững những quy định của pháp luật về nhà
ở, đất đai, thừa kế, Luật hôn nhân gia đình, Bộ luật dân sự,... Nắm vững chủ trương,
đường lối của Đảng; chính sách pháp luật của Nhà nước quy định về đất đai qua
từng thời kỳ để vận dụng vào việc đánh giá chứng cứ, việc áp dụng pháp luật được
chính xác và đưa ra đường lối giải quyết vụ án một cách đúng đắn nhất.
Trong các vấn đề cần xác định để xem xét giải quyết những vụ án liên quan
đến đất đai nêu trên, thì việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án
là yêu cầu hết sức quan trọng, trên thực tế việc vận dụng các quy định, hướng dẫn
về việc xác định thẩm quyền còn có nhiều sai sót, dẫn tới tình trạng có vụ, việc
thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân thì Tòa án lại thụ lý xét xử; có vụ, việc
thuộc thẩm quyền của Tòa án thì Tòa án lại chuyển cho Uỷ ban nhân dân, làm cho
việc giải quyết vụ án bị kéo dài, gây thiệt hại cho các bên đương sự... Do đó, cần
phải xác định chính xác thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, để đảm bảo vụ án
được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Xuất phát từ tình hình thực tế và nhằm giúp quá trình quá trình giải quyết
tranh chấp về quyền sử dụng đất tại Tòa án có những chuyển biến tích cực, giải
2
quyết được những phức tạp, khó khăn trong khâu xét xử án liên quan đến đất đai,
tác giả đã lựa chọn đề tài: “Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất từ thực tiễn
xét xử tại tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu của Đề tài: Đề tài nghiên cứu vấn đề thực thi các quy
định về quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
Đề tài nghiên cứu quá trình thực thi các quy định về quyền sử dụng đất trong hai
văn bản luật cơ bản hiện nay là Luật Đất Đai năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Thông qua việc nghiên cứu Đề tài, luận văn làm rõ những vấn đề lý luận và
thực tiễn của việc áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất tại
huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Qua đó, đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện các
quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai về các vấn đề về quyền sử dụng đất.
- Để đạt được mục đích nói trên, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
+ Làm sáng tỏ những vấn đề mang tính lý luận về tranh chấp quyền sử dụng đất
và pháp luật giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử tại tòa
án nhân dân.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết tranh
chấp quyền sử dụng đất tại tòa án, từ đó chỉ ra những khó khăn, vướng mắc trong quá
trình giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của tòa án hiện nay qua thực tiễn huyện
Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
+ Đề ra những yêu cầu chung nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đồng thời kiến nghị những giải pháp hoàn thiện
pháp luật cũng như những giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài để đạt được những mục đích đã đặt ra trên cơ sở lý luận luận văn được
triển khai nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin.
Quá trình nghiên cứu cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như:
phương pháp so sánh, phân tích tài liệu, phương pháp tổng hợp, đồng thời ứng dụng
những thành tựu của khoa học luật Luật đất đai, Bộ luật Tố tụng dân sự,… trong các
4
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TỪ HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1. Lý luận về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất
1.1.1. Khái niệm quyền sử dụng và quyền sử dụng đất
Về khái niệm quyền sử dụng, ở góc độ pháp luật dân sự, quyền sử dụng được
coi là một trong ba quyền năng thuộc quyền sở hữu1. Người có quyền sử dụng có
các quyền được quy định cụ thể tại Điều 189 BLDS năm 2015: “Quyền sử dụng là
quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản”. Trong trường hợp
chủ sở hữu thực hiện quyền sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình thì chủ sở hữu
được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản theo ý chí của mình
nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc,
lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người; trong trường hợp người sử
dụng không phải là chủ sở hữu của tài sản nhưng được chủ sở hữu ủy quyền hoặc
chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình cũng có quyền khai
thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản.
Về khái niệm quyền sử dụng đất, theo Từ điển Luật học thì QSDĐ là “Quyền
của các chủ thể được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc sử dụng
đất từ Nhà nước giao, cho thuê hoặc chuyển giao từ những chủ thể khác thông qua
việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho... từ các
chủ thể khác có quyền sử dụng đất”2; theo Giáo trình Luật Đất đai, Trường Đại học
Luật Hà Nội thì QSDĐ được hiểu là “Quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất
đai để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”. Bên cạnh
đó, tồn tại quan điểm liên quan đến khái niệm về QSDĐ như sau: “Quyền sử dụng
đất là bộ phận cấu thành của quyền sở hữu đất. Thông qua việc giao đất, cho thuê
1
2
Gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt
Xem Từ điển Luật học, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, trang 655.
bất động sản ở Việt Nam”, 2012, tr. 16.
4
Theo quy định tại Điều 105 BLDS năm 2015 thì tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản;
trong đó, quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở
hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác (Điều 115, BLDS năm 2015), người có QSDĐ được
thừa nhận nhiều quyền như quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho
quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền được bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất. Bởi vậy quyền sử dụng đất có đầy đủ các tiêu chí là tài sản
5
Điều 107 BLDS năm 2015 quy định tài sản được chia làm hai loại, gồm: động sản và bất động sản. Theo
quy định tại Điều 107 có thể coi QSDĐ là bất động sản bởi đây là tài sản khác găn liền với đất, bên cạnh đó,
theo Điều 5 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 thì QSDĐ là một trong các loại BĐS được kinh doanh.
7
chủ yếu là chỉ được hiểu ngầm gồm các quy định của pháp luật về giải quyết tranh
chấp đất đai, quy định về giải quyết các tranh chấp khác có liên quan đến quyền sử
dụng đất trong các đạo luật liên quan đến đất đai qua các thời kỳ và trong các văn
bản pháp luật có liên quan của cơ quan nhà nước.
Theo quy định tại khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 thì: “Tranh chấp
đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều
bên trong quan hệ đất đai”.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013: “Tranh chấp
đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy
định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa
án nhân dân giải quyết”. Từ nội dung trên Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp đất đai. Do đó, tranh chấp đất đai không thể đồng nhất với tranh
chấp quyền sử dụng đất, hay nói cách khác tranh chấp đất đai là khái niệm rộng hơn
khái niệm tranh chấp quyền sử dụng đất.
mục đích mà Nhà nước đã xác định, về bản chất, QSDĐ là quyền của người sử
dụng khai thác các thuộc tính của đất đai một cách hợp pháp phục vụ cho mục đích
của mình và quyền chuyển QSDĐ theo quy định của pháp luật. Trong khái niệm
QSDĐ của người sử dụng đất không chỉ có các quyền mà còn có các nghĩa vụ của
người sử dụng. Ngoài các nghĩa vụ cụ thể khi sử dụng đất vào các mục đích khác
nhau, người sử dụng đất còn phải tuân theo các nghĩa vụ chung được pháp luật đất
đai quy định như:
- Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định về sử
dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công
cộng trong lòng đất và tuân theo các quy định khác của pháp luật có liên quan;
- Thực hiện kê khai đăng ký đất đai; làm đầy đủ thủ tục khi chuyển đổi,
chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho QSDĐ; thế chấp, góp vốn
bằng QSDĐ theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện các biện pháp bảo vệ đất.
- Tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi
ích hợp pháp của người sử dụng đất có liên quan.
9
- Tuân theo các quy định của pháp luật về việc tìm thấy vật trong lòng đất.
- Giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất, khi hết thời hạn sử
dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền gia hạn sử dụng.
Thứ tư, do đất đai luôn có một vị trí cố định không di dời được, bởi vậy khác
với các hàng hoá khác, nó cần được đo đạc, lập hồ sơ thửa, đánh số, cấp giấy chứng
nhận QSDĐ hợp pháp. Việc chuyển QSDĐ chủ yếu được tiến hành thông qua hệ
thống hồ sơ giấy tờ về đất. Do vậy, trong các giao dịch về đất đai hồ sơ địa chính,
giấy chứng nhận QSDĐ, các hợp đồng phải rõ ràng, công khai, minh bạch.
Thứ năm, giá trị QSDĐ khi chuyển QSDĐ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như
vị trí thửa đất, khả năng sinh lợi của đất, mức độ hoàn thiện cơ sở hạ tầng, các yếu
- Tranh chấp để đòi lại quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền trên đất của
dòng họ, nhà thờ, chùa chiền,…Tranh chấp này xuất phát từ việc Nhà nước mượn,
trưng dụng vào các mục đích khác nhau sau không trả hoặc được chuyển nhượng
cho một đối tượng khác.
1.2.4. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp quyền sử dụng đất
Tranh chấp QSDĐ là biểu hiện cụ thể của những mâu thuẫn bất đồng về lợi
ích kinh tế giữa các chủ thể sử dụng đất với nhau. Tranh chấp QSDĐ tùy từng mức
độ, tính chất và phạm vi mà gây ra những hậu quả ảnh hưởng đến chính trị, trật tự,
an toàn xã hội. Các tranh chấp QSDĐ phát sinh có thể gây ảnh hướng xấu, gây mất
ổn định tình hình kinh tế, xã hội, làm giải hiệu quả các đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tranh chấp xảy ra nếu không giải quyết được kịp
thời có thể gây mất lòng tin trong nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời,
tranh chấp QSDĐ xảy ra là nguyên nhân gây nên rạn nứt trong mối quan hệ gia đình,
lợi ích kinh tế làm lu mờ các chuẩn mực đạo đức xã hội vốn tồn tại từ lâu đời nay.
Do vậy, căn cứ vào thực trạng sử dụng đất, đường lối chính sách của Nhà nước và
những văn bản pháp luật để tìm ra những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp quyền sử
dụng đất, từ đó có thể đưa ra những biện pháp giải quyết tranh chấp QSDĐ một
cách thỏa đáng, góp phần ngăn ngừa và hạn chế tranh chấp có thể xảy ra.
- Nguyên nhân khách quan:
Tranh chấp đất đai nói chung và tranh chấp quyền sử dụng đất nói riêng có
nguồn gốc sâu xa do lịch sử để lại. Sau cách mạng tháng 8 năm 1953, ở miền Bắc
11
đã tiến hành cải cách ruộng đất, xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của thực dân,
phong kiến, thiết lập quyền sở hữu ruộng đất cho người nông dân. Qua đó, thông
qua con đường hợp tác hóa nông nghiệp ruộng đất của người nông dân được đưa
vào làm tư liệu sản xuất chung trở thành sở hữu tập thể, do vậy, tình hình sử dụng
đất tương đối ổn định.
Ở miền Nam tình hình sử dụng đất được chia làm hai giai đoạn. Năm 1949 1950 Chính phủ đã tiến hành chia ruộng đất cho người nông dân, nhưng đến năm
nhiều năm. Nhiều chính quyền địa phương còn chưa nhận thức đúng về chính sách
quản lý đất đai và áp dụng biện pháp xử lý còn nặng mệnh lệnh hành chính.
Thực tế, nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản chưa rõ ràng hoặc
bị chồng lấn cùng một nội dung nhưng lại hai hay nhiều cơ quan ban hành khác
nhau dẫn đến khó xử lý vi phạm.
+ Về đường lối chính sách, pháp luật về đất đai: Hội nghị Ban Chấp hành
Trung ương lần thứ 7 (khóa IX) đánh giá: “Công tác quản lý và sử dụng đất đai
hiện nay còn nhiều hạn chế, yếu kém và nhiều vấn đề bức xúc. Tiềm năng đất đai
chưa được phát huy tốt; đất đai chưa được chuyển dịch hợp lý, hiệu quả sử dụng
còn thấp. Đất sản xuất nông nghiệp còn manh mún; rừng tiếp tục bị tàn phá, diện
tích đất trống, đồi núi trọc, đất bị xói mòn còn lớn. Việc sử dụng đất của nhiều khu
công nghiệp, doanh nghiệp, cơ quan còn lãnh phí. Tình trạng người sử dụng đất vi
phạm pháp luật về đất đai và tình hình khiếu kiện về đất đai diễn ra nghiêm trọng
và phổ biến. việc Nhà nước thu hồi đất, đền bù giải tỏa mặt bằng thực hiện hết sức
khó khăn. Hoạt động của thị trường bất động sản không lành mạnh, tình trạng đầu
cơ về đất đai và bất động sản gắn liền với đất rất nghiêm trọng, đẩy giá đất lên cao,
đặc biệt là ở đô thị, gây khó khăn,cản trở lớn cho cả đầu tư phát triển và giải quyết
nhà ở, tạo ra những đặc quyền, đặc lợi, dẫn đến tiêu cực và tham nhũng của một số
cá nhân và tổ chức”.
Những hạn chế yếu kém đó xuất phát từ đường lối chính sách, pháp luật về
đất đai: Luật pháp và các chính sách về đất đai đã quy định quyền sử dụng đất có
giá trị và được đem ra trao đổi chuyển nhượng trên thị trường, song các chính sách
đất đai chưa phù hợp với các yêu cầu và các quy luật hoạt động của nền kinh tế thị
trường. Luật pháp đã thừa nhận sự tồn tại và phát triển của thị trường bất động sản,
13
song chưa có hệ thống luật pháp và chính sách quản lý và điều tiết hoạt động của thị
trường này.
Công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đâu cũng như
phủ cho xây dựng Nghị định quy định bổ sung một số nội dung để giải quyết các
vấn đề vướng mắc thuộc thẩm quyền của Chính phủ. Tuy nhiên, công tác lãnh đạo,
chỉ đạo vẫn còn tồn tại một số hạn chế như kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất; chất lượng phục vụ của cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ cấp giấy
chứng nhận có mặt còn hạn chế; việc ứng dụng công nghệ thông tin, lập hồ sơ địa
chính và cơ sở dữ liệu đất đai phục vụ công tác quản lý còn chậm, chưa đáp ứng
được đòi hỏi của tình hình thực tế; việc giải quyết tranh chấp đất đai ở nhiều nơi
còn hình thức, nhiễu sách đối với người sử dụng đất,…
+ Về công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật: Thực hiện Chỉ
thị số 01/CT-TTg, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng kế hoạch triển khai
công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức chính sách, pháp luật về
đất đai. Tại địa phương, 63/63 tỉnh, thành phố trên cả nước đã triển khai công tác
phổ biến Luật Đất đai và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật đến các tổ chức,
cá nhân bằng nhiều hình thức khác nhau. Nhiều địa phương đã triển khai cụ thể đến
cả các đối tượng là cán bộ cấp huyện, cấp xã. Nhìn chung, công tác tuyên truyền
pháp luật đất đai đã được triển khai rộng rãi đến mọi đối tượng với những nội dung
thiết thực và hình thức phù hợp được các Bộ, ngành, các địa phương và được dư
luận nhân dân đánh giá cao. Qua đó đã góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp
hành pháp luật đất đai của các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất. Tuy
nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì vẫn còn tồn tại một số hạn chế trong công
tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật về đất đai. Mục đích của tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là nhằm xây dựng ý thức pháp luật, làm cho
nhân dân có niềm tin vào pháp luật, có thói quen trong thực hiện đúng pháp luật để
bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình. Tuy nhiên, công tác tuyên truyền, phổ
biến, giáo dục pháp luật về đất đai của cơ quan, tổ chức chưa được sâu rộng đến
quần chúng nhân dân, dẫn đến việc thiếu hiểu biết pháp luật của người dân cũng
như việc hành pháp luật về quyền sử dụng đất của người dân còn hạn chế. Ví dụ:
Trong tháng 7/2016, Tòa án nhân dân huyện Năm Căn đưa ra xét xử sơ thẩm hai vụ
15
16
tài sản chung của vợ chồng và khi ly hôn phải phân chia theo quy định pháp luật.6
1.3. Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, các yếu tố chi phối việc giải
quyết tranh chấp quyền sử dụng đất và nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất
đai nói chung và tranh chấp quyền sử dụng đất nói riêng.
1.3.1. Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất
* Khái niệm giải quyết tranh chấp QSDĐ:
Theo Giáo trình Luật Đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội: “…Việc giải
quyết tranh chấp đất đai là tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm
giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Trên cơ sở đó phục
hồi các quyền lợi hợp pháp cho bên bị xâm phạm, đồng thời bắt buộc bên vi phạm
phải gánh chịu những hậu quả pháp lý do hành vi của họ gây ra”.7
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học: “Giải quyết tranh chấp đất đai là
giải quyết bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tổ chức và trên cơ sở đó
phục hồi các quyền lợi hợp pháp bị xâm hại đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý
đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai”.8
Như vậy, giải quyết tranh chấp QSDĐ là hoạt động của cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên để tìm ra các
giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm xác định rõ quyền và nghĩa vụ của
các chủ thể trong quan hệ quyền sử dụng đất.
* Đặc điểm giải quyết tranh chấp QSDĐ:
- Giải quyết tranh chấp QSDĐ mang tính quyền lực nhà nước. Đó là cách
thức giải quyết thông qua Tòa án. Mà Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp,
đưa ra xét xử các vu án, nhân danh Nhà nước khi xét xử. Trong bản Hiến pháp 2013
ở Điều 102 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ
bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, chế độ xã hội chủ nghĩa,
6