BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
KÊ BIÊN, XỬ LÝ TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN
KINH DOANH THƢƠNG MẠI QUA THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NINH
PHẠM TUẤN CẢNH
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380107
HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Trần Anh Tuấn
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa đào tạo Sau Đại học –
Viện Đại học mở.
Tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa đào tạo Sau Đại học xem xét
để tôi bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
thể:................................................................................................................... 38
1.4.1. Kê biên tài sản là quyền sở hữu trí tuệ: ................................................ 38
1.4.2. Kê biên tài sản là quyền sử dụng đất .................................................... 39
1.4.3. Kê biên tài sản của ngƣời phải thi hành án đang do ngƣời thứ ba giữ . 41
1.4.4. Kê biên vốn góp của ngƣời phải thi hành án ........................................ 42
2
1.4.5. Kê biên tài sản gắn liền với đất ............................................................ 43
1.4.6. Kê biên tài sản là nhà ở......................................................................... 43
1.4.7. Kê biên tài sản là phƣơng tiện giao thông ............................................ 44
1.4.8. Kê biên tài sản chung của ngƣời phải thi hành án với ngƣời khác ...... 45
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ............................................................................. 47
CHƢƠNG 2 ................................................................................................... 48
THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN, XỬ LÝ TÀI
SẢN TRONG THI HÀNH ÁN KINH DOANH, THƢƠNG MẠI TẠI
TỈNH QUẢNG NINH ................................................................................... 48
2.1. Tình hình thi hành án kinh doanh, thƣơng mại tại tỉnh Quảng Ninh ...... 48
2.2. Những khó khăn, vƣớng mắc và nguyên nhân ........................................ 52
2.2.1. Khó khăn, vƣớng mắc từ thực tiễn ....................................................... 53
2.2.2. Nguyên nhân của khó khăn, vƣớng mắc .............................................. 60
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ............................................................................. 63
CHƢƠNG 3 ................................................................................................... 64
GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KÊ BIÊN, XỬ
LÝ TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN KINH DOANH, THƢƠNG MẠI . 64
3.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án
kinh doanh, thƣơng mại .................................................................................. 65
3.2. Kiến nghị thực hiện pháp luật về kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án
kinh doanh, thƣơng mại .................................................................................. 67
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ............................................................................. 76
hợp pháp của công dân, góp phần củng cố niềm tin của ngƣời dân đối với bộ
máy Nhà nƣớc, tăng cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Thi hành án kinh doanh, thƣơng mại là một loại việc trong thi hành án
dân sự. Những năm gần đây, cả nƣớc nói chung và tại tỉnh Quảng Ninh nói
riêng, số vụ việc thi hành án kinh doanh, thƣơng mại ngày càng nhiều, số tiền
phải thi hành chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số tiền thi hành án dân sự. Việc tổ
chức thi hành loại án này gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp do tài sản phải xử
lý hết sức đa dạng, phong phú, mang tính đặc thù nhƣ: nhà xƣởng, thiết bị
máy móc, nguyên vật liệu, đất đai... Để thi hành loại án này nhất là khi áp
dụng biện pháp kê biên, xử lý cần thiết phải có sự tham gia, phối hợp tích cực
của nhiều cơ quan hữu quan. Hiện nay, tỷ lệ thi hành án kinh doanh, thƣơng
mại rất thấp, đặc biệt số tiền phải thi hành chuyển kỳ sau rất lớn dẫn đến việc
một số năm gần đây nhiều cơ quan thi hành án không hoàn thành chỉ tiêu,
quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nƣớc, tổ chức và công dân không đƣợc
đảm bảo.
Xuất phát từ những trăn trở về công tác thi hành án dân sự nói chung
và thi hành án kinh doanh, thƣơng mại nói riêng, mong muốn nâng cao nhận
thức cho bản thân và hy vọng sẽ đóng góp đƣợc một phần vào việc nâng cao
chất lƣợng, hiệu quả trong hoạt động thi hành án kinh doanh, thƣơng mại,
nhất là tại tỉnh Quảng Ninh, tôi đã chọn đề tài “Kê biên, xử lý tài sản trong thi
hành án kinh doanh, thương mại qua thực tiễn tỉnh Quảng Ninh” để làm luận
5
văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định Nhà nƣớc Cộng hòa xã chủ
nghĩa Việt Nam là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân,
là Nhà nƣớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Để đảm bảo những yêu cầu
đó, trong Nhà nƣớc pháp quyền phải có hình thức tổ chức quyền lực Nhà
học Đại học quốc gia Hà Nội.
- “Những khó khăn, vướng mắc khi thi hành bản án, quyết định của
Tòa án liên quan đến các tổ chức tín dụng để thu hồi nợ”, tác giả: Phạm
Quang Dũng - Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Bên cạnh đó là “Sổ tay Chấp hành viên” của nhà xuất bản Thống kê
năm 2009 và nhà xuất bản Tƣ pháp năm 2012; Tài liệu tập huấn triển khai các
nội dung mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân
sự, các văn bản hƣớng dẫn thi hành; một số bài viết đăng trên các tạp chí Dân
chủ và pháp luật, Tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nƣớc và pháp luật...
Những công trình nêu trên đã có nội dung nghiên cứu về thi hành án
dân sự ở những khía cạnh, góc độ và mức độ khác nhau. Trong một số công
trình cũng đã đề cập đến việc áp dụng một biện pháp cƣỡng chế thi hành án
dân sự ở một số địa phƣơng cụ thể nhƣng chƣa có công trình nào nghiên cứu
biện pháp cƣỡng chế kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án kinh doanh
thƣơng mại theo Luật thi hành án dân sự đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014 ở
tỉnh Quảng Ninh trong điều kiện pháp luật thi hành án dân sự đã có sự thay
đổi căn bản nhƣ hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Thông qua luận văn, tôi đề cập về thể chế và thực trạng việc kê biên,
xử lý tài sản trong thi hành án kinh doanh, thƣơng mại tại tỉnh Quảng Ninh
trong những năm gần đây. Nêu và phân tích nguyên nhân phát sinh những
khó khăn, vƣớng mắc trong việc kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án kinh
doanh, thƣơng mại tại tỉnh Quảng Ninh. Từ đó, đƣa ra một số giải pháp và
kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự nói chung và
việc kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án kinh doanh, thƣơng mại tại tỉnh
Quảng Ninh nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
7
lĩnh vực thi hành án dân sự của một số địa phƣơng để qua đó đánh giá thực
8
trạng kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án kinh doanh, thƣơng mại tại tỉnh
Quảng Ninh từ năm 2013 đến tháng 6 năm 2018 (tức 09 tháng năm 2018).
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn đã đƣa ra và luận giải đƣợc một số quan điểm cơ bản về khái
niệm kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án kinh doanh, thƣơng mại; trình tự,
thủ tục thực hiện việc cƣỡng chế kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án kinh
doanh, thƣơng mại; góp phần bổ sung, làm phong phú thêm cho hoạt động
nghiên cứu khoa học về pháp luật trong lĩnh vực THADS.
Đánh giá đúng thực trạng áp dụng biện pháp cƣỡng chế kê biên, xử lý
tài sản trong thi hành án kinh doanh, thƣơng mại tại tỉnh Quảng Ninh hiện
nay, phân tích những kết quả đã đạt đƣợc, những hạn chế còn tồn tại, nguyên
nhân trong thực tiễn áp dụng của hoạt động cƣỡng chế này.
Đƣa ra những giải pháp đảm bảo thực hiện biện pháp cƣỡng chế kê
biên, xử lý tài sản trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực,
chất lƣợng công tác thi hành án dân sự nói chung và thi hành án kinh doanh,
thƣơng mại nói riêng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và danh
mục các chữ viết tắt, luận văn trình bày các nội dung chính sau:
Chương 1: Khái quát kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án kinh
doanh thƣơng mại.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về kê biên, xử lý tài sản trong
thi hành án kinh doanh, thƣơng mại tại tỉnh Quảng Ninh.
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kê biên, xử lý
tài sản trong thi hành án kinh doanh, thƣơng mại từ thực tiễn tại tỉnh Quảng
Ninh.
thi hành án; có điều kiện thi hành nhƣng hết thời gian tự nguyện mà
không tự nguyện thi hành hoặc chƣa hết thời gian tự nguyện nhƣng có
10
hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh việc
thi hành án. Kê biên, xử lý tài sản của ngƣời phải thi hành án đƣợc quy
định tại khoản 3 Điều 71 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm
2014. Kê biên, xử lý tài sản là một biện pháp cƣỡng chế nhằm đảm bảo
việc thi hành án.
Theo từ điển từ và ngữ Việt Nam của nhà xuất bản thành phố Hồ Chí
năm 1998 thì “Kê biên” là một từ Hán – Việt. “Kê” nghĩa là tính toán, “biên”
có nghĩa là ghi chép lại theo một trật tự nhất định. Vậy “Kê biên” có nghĩa là
tính toán và ghi chép lại theo một trật tự nhất định. Theo quy định tại Điều
105 Bộ Luật dân sự năm 2015: “1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và
quyền tài sản. 2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản”.
Trong cuốn từ điển các thuật ngữ pháp lý thông dụng của nhà xuất bản
thành phố Hồ Chí Minh năm 1999 có định nghĩa: “Kê biên tài sản là việc ghi
lại từng tài sản, cấm việc tẩu tán, phá hủy để đảm bảo cho việc xét xử và thi
hành án”.
Nhƣ vậy, “Kê biên” là một thuật ngữ pháp lý chỉ việc tính toán và ghi
chép lại tài sản theo một trật tự nhất định nhằm mục đích cụ thể. Kê biên là
hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nƣớc, đƣợc bảo đảm thực hiện bằng sức
mạnh của Nhà nƣớc. Khi một bản án, quyết định của Tòa án đƣợc đƣa ra thi
hành, ngƣời phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án trong thời hạn
ấn định. Hết thời hạn đó, ngƣời phải thi hành án không thực hiện thì Chấp
hành viên kê biên, xử lý tài sản tức là tƣớc đi quyền tự định đoạt tài sản của
ngƣời phải thi hành án. Nếu ngƣời phải thi hành án có hành vi chống đối,
Chấp hành viên sử dụng sức mạnh Nhà nƣớc buộc ngƣời phải thi hành án
tuân thủ và thi hành. Không chỉ ngƣời phải thi hành án mà các cá nhân, tổ
Ngƣời bị áp dụng biện pháp kê biên, xử lý tài sản thi hành án
ngoài việc phải thực hiện các nghĩa vụ trong bản án, quyết định của Tòa
án, các cơ quan có thẩm quyền khác thì họ còn phải chịu mọi chi phí
cƣỡng chế thi hành án dân sự.
Biện pháp cƣỡng chế đƣợc Chấp hành viên quyết định áp dụng có
hiệu lực đối với ngƣời phải thi hành án dân sự và các cá nhân, cơ quan,
12
tổ chức có liên quan.
Mọi tài sản của ngƣời phải thi hành án đều có thể bị kê biên để thi
hành án trừ những tài sản không đƣợc kê biên đã đƣợc quy định tại Điều
87 Luật THADS.
Trƣờng hợp ngƣời phải thi hành án không còn tài sản nào khác
hoặc có tài sản nhƣng không đủ để thi hành án, Chấp hành viên có quyền
kê biên, xử lý tài sản của ngƣời phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp
nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ đƣợc bảo đảm và chi phí
cƣỡng chế thi hành án (Điều 90 Luật THADS).
Kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu
ngƣời phải thi hành án chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhƣợng, thế
chấp, cầm cố tài sản cho ngƣời khác mà không sử dụng khoản tiền thu
đƣợc để thi hành án và không còn tài sản nào khác hoặc tài sản khác
không đủ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên,
xử lý để thi hành án, trừ trƣờng hợp pháp luật có quy định khác (khoản 1
Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP).
Trƣờng hợp có tranh chấp về tài sản kê biên thì Chấp hành viên
vẫn tiến hành cƣỡng chế kê biên và yêu cầu đƣơng sự, ngƣời có tranh
chấp khởi kiện ra Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét
giải quyết (khoản 1 Điều 75 Luật THADS).
Đối với tài sản kê biên thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu,
một số công việc nhất định. Trong trƣờng hợp này cơ quan thi hành án
phải hết sức thận trọng trong quá trình tiến hành các trình tự, thủ tục thi
hành án, tránh tình trạng ngƣời tham gia ký nhận văn bản không có thẩm
quyền để quyết định những nội dung, vấn đề liên quan đến hoạt động thi
hành án kinh doanh, thƣơng mại.
- Thứ hai, tài sản phải kê biên, xử lý trong thi hành án kinh doanh,
thƣơng mại phức tạp hơn tài sản phải kê biên, xử lý trong các loại việc
dân sự khác. Tài sản phải kê biên, xử lý để thi hành án kinh doanh,
thƣơng mại có tính đặc thù, hầu hết là tài sản của doanh nghiệp nhƣ nhà
xƣởng, máy móc, nguyên nhiên vật liệu, hàng hóa. Những tài sản này
nhiều khi có giá trị rất lớn, mang yếu tố kỹ thuật, công nghệ... do vậy
14
nếu không nắm đƣợc các quy định của pháp luật có liên quan và xử lý
không triệt để sẽ dẫn đến khiếu nại, vi phạm và nhiều trƣờng hợp Cơ
quan THADS, Chấp hành viên phải bồi thƣờng số tiền rất lớn. Nhiều tài
sản của ngƣời phải thi hành án là doanh nghiệp còn gắn với đất thuê trả
tiền hàng năm của Nhà nƣớc nên khi kê biên, xử lý thì có nhiều vấn đề
nảy sinh phải giải quyết nhƣ: tiền doanh nghiệp bỏ ra để san lấp, tiền
xây tƣờng rào, các đầu tƣ khác. Tồn tại rất nhiều vấn đề liên quan phải
xử lý đối với tài sản kê biên trong các vụ án kinh doanh, thƣơng mại.
Liên quan đến xử lý tài sản kê biên để thi hành án kinh doanh, thƣơng
mại đối với công ty cổ phần còn phải xem xét đến phần vốn góp của các
thành viên góp vốn thì mới có thể xử lý, đảm bảo việc thi hành án và
quyền lợi cho ngƣời đƣợc thi hành án theo quy định của pháp luật.
- Thứ ba, việc kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án kinh doanh
thƣơng mại trên thực tế nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến ngƣời lao
doanh, thƣơng mại phải tiến hành đồng bộ nhiều thủ tục, không chỉ với
doanh nghiệp phải thi hành án mà còn liên quan đến nhiều cơ quan, tổ
chức và cá nhân nhƣ cơ quan quản lý kinh doanh, cơ quan bảo hiểm, cơ
quan tài nguyên môi trƣờng, chính quyền sở tại... nên rất khó khăn và
phức tạp, lƣợng việc mà cơ quan thi hành án phải thực hiện là rất nhiều
và khó thi hành.
- Thứ sáu, hiện nay hầu hết các án kinh doanh, thƣơng mại có tài
sản phải kê biên, xử lý để thi hành án liên quan đến thế chấp tại các tổ
chức tín dụng, do đó theo quy định của pháp luật dân sự thì khi xử lý tài
sản phải ƣu tiên thanh toán cho bên nhận thế chấp, cầm cố. Tuy nhiên
Luật thi hành án quy định nếu tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ thế chấp thì
cơ quan thi hành án phải kê biên, xử lý để đảm bảo quyền lợi cho ngƣời
đƣợc thi hành án nhƣng hiện không có quy định để thực hiện việc xác
định xem tài sản đó có lớn hơn nghĩa vụ thế chấp hay không?
- Thứ bảy, đối với kê biên tài sản chung hay giải quyết tranh chấp
về hợp đồng bán đấu giá, Luật Thi hành án dân sự quy định đƣơng sự
hoặc Chấp hành viên yêu cầu Tòa án giải quyết nhƣng Bộ luật tố tụng
dân sự và các văn bản hƣớng dẫn chƣa quy định cách thức, thủ tục để
thực hiện nội dung này. Do đó, trên thực tế phát sinh những vấn đề này
16
rất khó xử lý, giải quyết.
Trƣớc khi Luật Thi hành án dân sự ra đời, Thông tƣ liên tịch số
119 - TT/LT ngày 04/6/1997 của Bộ Tƣ pháp và Bộ Tài chính đã hƣớng
dẫn kê biên tài sản của doanh nghiệp để đảm bảo thi hành án.
Đến Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 thì việc quy định các
tài sản không đƣợc kê biên của doanh nghiệp không đƣợc ghi nhận mà
sự rất nhiều.
1.2. Căn cứ, điều kiện và nguyên tắc cƣỡng chế kê biên, xử lý tài
sản của ngƣời phải thi hành án trong thi hành án kinh doanh, thƣơng
mại
1.2.1. Căn cứ cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi
hành án
Cƣỡng chế thi hành án là một biện pháp nghiêm khắc trong quá
trình Chấp hành viên tổ chức thi hành án. Do đó, Luật Thi hành án dân
sự năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014
quy định rất chặt chẽ về cƣỡng chế trong thi hành án dân sự, đặc biệt
biện pháp kê biên, xử lý tài sản của ngƣời phải thi hành án trong thi
hành án kinh doanh, thƣơng mại.
Tại Điều 70 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014
thì căn cứ để cƣỡng chế thi hành án nói chung và cƣỡng chế kê biên nói
riêng bao gồm:
“1. Bản án, quyết định;
Quyết định thi hành án;
Quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản án,
quyết định đã tuyên kê biên, phong toả tài sản, tài khoản và trường hợp
thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án”.
Để tránh chồng chéo về thẩm quyền ra quyết định cƣỡng chế thi
hành án đối với một tài sản, Luật THADS quy định đối với trƣờng hợp
bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản và
trƣờng hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của
18
Tòa án thì Chấp hành viên không ban hành quyết định cƣỡng chế thi
hành án mà sẽ tiến hành định giá, bán tài sản đó để thi hành án theo quy
quyết định thi hành án hoặc đƣợc thông báo hợp lệ quyết định thi hành
án. Hết thời gian tự nguyện thi hành án mà ngƣời phải thi hành án không
thi hành hoặc thi hành chƣa xong nghĩa vụ thì Chấp hành viên buộc phải
áp dụng biện pháp cƣỡng chế để buộc ngƣời có nghĩa vụ thi hành theo
đúng bản án, quyết định.
1.2.3. Nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản
Cƣỡng chế kê biên, xử lý tài sản trong kinh doanh thƣơng mại là
một biện pháp nghiêm khắc do đó Chấp hành viên trong quá trình tổ
chức thi hành không đƣợc áp dụng một cách tùy tiện mà phải tuân thủ
những nguyên tắc nhất định sau:
- Việc tổ chức cƣỡng chế kê biên, xử lý tài sản phải tƣơng ứng với
nghĩa vụ của ngƣời phải thi hành án và các chi phí cần thiết khác, trừ
trƣờng hợp quy định tại khoản 4 Điều 24 Nghị định 62/2015/NĐ-CP.
Trƣờng hợp ngƣời phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất có giá trị
lớn hơn so với nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản đó là một khối thống
nhất, không thể phân chia đƣợc hoặc nếu phân chia sẽ làm giảm đáng kể
giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có quyền kê biên tài sản đó
theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định 62/2015/NĐ-CP. Số tiền
thu đƣợc do bán tài sản kê biên sẽ đƣợc thanh toán theo Điều 47 Luật
THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014, số tiền còn lại Chấp hành viên sẽ
trả lại cho ngƣời phải thi hành án.
Nguyên tắc này chỉ áp dụng trong trƣờng hợp ngƣời phải thi hành
án có nhiều tài sản mà các tài sản đó có tổng giá trị lớn hơn nghĩa vụ
phải thi hành án và các chi phí phát sinh hoặc có một tài sản có giá trị
lớn hơn nghĩa vụ phải thi hành án và các chi phí phát sinh mà tài sản đó
có thể phân chia đƣợc, việc phân chia không làm ảnh hƣởng đến giá trị
tài sản.
Nguyên tắc tƣơng ứng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp nói
chung và quyền tài sản nói riêng của ngƣời phải thi hành án đồng thời
20
và gia đình nhƣ cày, bừa, xe đạp thồ, xe xích lô… Các công cụ có giá trị
21
lớn nhƣ xe máy, ô tô, máy cày, máy xay xát thì vẫn có thể kê biên, xử lý
để thi hành án.
+ Đồ dùng sinh hoạt cần thiết cho ngƣời phải thi hành án và gia
đình.
Nếu ngƣời phải thi hành án là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ thì không đƣợc kê biên tài sản:
+ Số thuốc phục vụ việc phòng, chữa bệnh cho ngƣời lao động;
lƣơng thực, thực phẩm, dụng cụ và tài sản khác phục vụ bữa ăn cho
ngƣời lao động.
+ Nhà trẻ, trƣờng học, cơ sở y tế và thiết bị, phƣơng tiện, tài sản
khác thuộc các cơ sở này, nếu không phải là tài sản để kinh doanh.
+ Trang thiết bị, phƣơng tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động,
phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trƣờng.
- Nguyên tắc về thời gian cƣỡng chế kê biên theo luật định.
Chấp hành viên chỉ đƣợc tổ chức kê biên vào thời gian mà pháp
luật quy định. Không tổ chức cƣỡng chế thi hành án trong thời gian từ
22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy
định của pháp luật và các trƣờng hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy
định (khoản 2 Điều 46 Luật THADS).
Theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định 62/2015/NĐ-CP, cơ
quan thi hành án dân sự không tổ chức cƣỡng chế có huy động lực lƣợng
trong thời gian 15 ngày trƣớc và sau Tết Nguyên đán; các ngày truyền
thống đối với các đối tƣợng chính sách nếu họ là ngƣời phải thi hành án;
các trƣờng hợp đặc biệt khác ảnh hƣởng nghiêm trọng đến an ninh,
chính trị, trật tự an toàn xã hội, phong tục, tập quán tại địa phƣơng.
kể từ ngày ban hành quyết định kê biên đồng thời gửi cho Ủy ban nhân
dân xã, phƣờng, thị trấn nơi có tài sản kê biên hoặc cơ quan, tổ chức có
23
liên quan đến việc thực hiện quyết định kê biên nhƣ việc kê biên động
sản của doanh nghiệp.
Trƣờng hợp tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất
thì Cơ quan THADS có trách nhiệm gửi thông báo đến Văn phòng đăng
ký quyền sử dụng đất nơi có đất, tài sản gắn liền với đất. Đối với tài sản
là tàu bay, tàu biển thì thông báo đƣợc gửi cho Cơ quan đăng ký tàu bay,
tàu biển (Điều 11 Thông tƣ liên tịch số 15/2013/TTLT-BTP-BGTVTBTNMT-BCA ngày 05/11/2013).
Đối với tài sản khác thì thông báo phải gửi cho Trung tâm đăng ký
giao dịch, tài sản theo hƣớng dẫn tại Thông tƣ số 05/2011/TT-BTP ngày
16/02/2011 của Bộ Tƣ pháp.
Ngoài các cơ quan đăng ký nêu trên, thông báo việc kê biên tài sản
còn đƣợc gửi tới Sở Tƣ pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng nơi
có tài sản kê biên để kịp thời xây dựng, cập nhật vào chƣơng trình quản
lý thông tin ngăn chặn và thông tin về hợp đồng, giao dịch đã công
chứng của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng.
1.3.1.3. Xây dựng kế hoạch kê biên tài sản
Chấp hành viên chỉ xây dựng kế hoạch kê biên đối với các vụ việc
có huy động lực lƣợng do ngƣời phải thi hành án và thân nhân của họ
chống đối. Việc xây dựng kế hoạch kê biên thi hành án theo quy định tại
Điều 72 Luật THADS gồm các nội dung: Thời gian, địa điểm cƣỡng chế
kê biên; phƣơng án tiến hành cƣỡng chế kê biên; yêu cầu về lực lƣợng
tham gia và bảo vệ cƣỡng chế kê biên; dự trù chi phí cƣỡng chế kê biên.
Kế hoạch phải gửi ngay cho Viện Kiểm sát, cơ quan Công an cùng
cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cƣỡng chế hoặc cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan đến việc cƣỡng chế thi hành án. Thống nhất