TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 37 (2011 – 2015)
Đề tài:
BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ KÊ BIÊN,
XỬ LÝ TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN
DÂN SỰ - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Trương Thanh Hùng
MSCB: 01716
Trần Tú Trân
MSSV: 5115858
Bộ môn: Luật Tư Pháp
Lớp: Luật Tư pháp 1 – K37
Cần Thơ, 11/2014
Cần Thơ, ngày ..... tháng ..... năm ...........
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
----- .......................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
hành án ...............................................................................................................................15
1.3. Điều kiện, nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản trong
thi hành án..................................................................................................................................16
1.3.1. Điều kiện áp dụng các biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản ..................16
1.3.1.1. Nghĩa vụ mà người phải thi hành án thực hiện là nghĩa vụ thanh toán tiền
theo bản án, quyết định được đưa ra thi hành án hoặc phải nộp phí thi hành án....17
1.3.1.2. Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án, tài sản phải thi hành án là
vật hoặc quyền tài sản. .....................................................................................................17
1.3.1.3. Chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản khi hết thời gian tự
nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án . ........17
1.3.2. Nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, xứ lý tài sản.......................18
1.3.2.1. Chỉ kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án khi có căn cứ khẳng
định tài sản đó thuộc sở hữu của người phải thi hành án đang quản lý hoặc đang do
người thứ ba quản lý .........................................................................................................18
1.3.2.2. Chỉ kê biên tài sản của người phải thi hành án tương ứng với nghĩa vụ của
người phải thi hành án và các chi phí cần thiết. ...........................................................18
1.3.2.3. Không được kê biên những tài sản mà pháp luật đã quy định khôn g được kê
biên ......................................................................................................................................19
1.3.2.4. Chấp hành viên phải căn cứ theo quy định của pháp luật, đề nghị của người
phải thi hành án để kê biên tài sản nếu người phải thi hành án có nhiều tài sản khác
nhau.....................................................................................................................................21
1.3.2.5. Thời gian tổ chức kê biên ...................................................................................23
1.4. Vai trò và ý nghĩa của biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản để thi hành án
dân sự...........................................................................................................................................23
1.4.1. Vai trò của kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án ............................................24
1.4.1.1. Biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản góp p hần giữ gìn trật tự, kỷ
cương an toàn xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa....................................24
1.4.1.2. Cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản thi hành án góp phần bảo vệ quyền và lợi
2.1.1.1. Bản án, quyết định...............................................................................................34
2.1.1.2. Quyết định thi hành án .......................................................................................37
2.1.1.3. Quyết định cưỡng chế thi hành án ....................................................................40
2.1.2. Thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản ....................40
2.1.2.1. Chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản
để thi hành án ....................................................................................................................40
2.1.2.2. Chủ thể có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp kê biên, xử lý tài sản trong thi
hành án ...............................................................................................................................41
2.2. Tài sản kê biên và một số quy định về kê biên tài sản của người phải thi hành án ...42
2.2.1. Nhóm tài sản là bất động sản ...................................................................................42
2.2.1.1. Kê biên tài sản là quyền sử dụng đất................................................................42
2.2.1.2. Kê biên tài sản gắn liền với đất .........................................................................43
2.2.1.3. Kê biên tài sản là nhà ở......................................................................................43
2.2.2. Nhóm tài sản là động sản .........................................................................................44
2.2.2.1. Nhóm tài sản có đăng ký quyền sở hữu ............................................................44
2.2.2.2. Nhóm tài sản không có đăng ký quyền sở hữu ................................................46
2.2.3. Một số trường hợp đặc thù của tài sản bị kê biên ................................................47
2.2.3.1. Kê biên, xử lý tài sản đang cầm cố, thế chấp ..................................................47
2.2.3.2. Kê biên tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ .......48
2.2.3.3. Kê biên đồ vật bị khóa, đóng gói.......................................................................48
2.3. Trình tự thủ tục kê biên tài sản của người phải thi hành án ..................................48
2.3.1. Ra quyết định cưỡng chế kê biên tài sản và thông báo về việc cưỡng chế kê
biên tài sản .............................................................................................................................49
2.3.1.1. Ra quyết định cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản ...............................................49
2.3.1.2. Thông báo về việc cưỡng chế kê biên tài sản ..................................................49
2.3.2. Công tác xác minh trước khi tổ chức cưỡng chế kê biên tài sản để thi hành án ...50
2.3.3. Công tác chuẩn bị tổ chức cưỡng chế kê biên tài sản .........................................51
2.3.3.1. Lập danh sách những người tham gia kê biên ................................................51
2.3.3.2. Xây dựng kế hoạch cưỡng chế kê biên tài sản.................................................52
CHƯƠNG 3
THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ CƯỠNG CHẾ KÊ BIÊN, XỬ LÝ TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN
3.1. Thực tiễn áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản để thi hành án
dân sự ..........................................................................................................................................70
3.1.1. Những kết quả đạt được của công tác thi hành án dân sự nói chung, cưỡng chế
kê biên, xử lý tài sản để thi hành án nói riêng trong những năm 2010 – 2013 ...........70
3.1.2. Những thuận lợi trong việc áp dụng pháp luật về kê biên, xử lý tài sản để thi
hành án ...................................................................................................................................72
3.1.3. Những khó khăn trong công tác kê biên, xử lý tài sản để thi hành án ............74
3.2. Những bất cập từ các quy định pháp luật về kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án
và đề xuất hoàn thiện.................................................................................................................75
3.2.1. Vướng mắc khi kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đã bán,
chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng tài sản của mình cho người khác kể từ thời điểm
có bản án, quyết định sơ thẩm và hướng giải quyết .......................................................76
3.2.1.1. Những bất cập theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 14....76
3.2.1.2. Hướng giải quyết nhằm khắc phục tình trạng vướng mắc khi kê biên, xử lý
tài sản của người phải thi hành án đã bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho
người khác kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm. ........................................80
3.2.2. Khó khăn trong việc kê biên, xử lý nhà ở của người phải thi hành án được
xây dựng trên đất người khác và ngược lại; đề xuất sửa đổi. .......................................82
3.2.2.1. Những khó khăn trong việc kê biên, xử lý nhà ở của người phải thi hành án
được xây dựng trên đất người khác và ngược lại .........................................................82
3.2.2.2. Đề xuất sửa đổi nhằm giải quyết khó khăn trong việc kê biên, xử lý nhà ở
của người phải thi hành án được xây dựng trên đất người khác và ngược lại. ........84
3.2.3. Khó khăn trong việc kê biên vốn góp và giải pháp ...............................................86
3.2.3.1. Những khó khăn khi kê biên tài sản là vốn góp...............................................87
3.2.3.2. Hoàn thiện những quy định kê biên vốn góp ...................................................89
định dân sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được thực hiện trên thực tế. Thông qua
thi hành án dân sự, những phán quyết của Tòa án nhân danh Nhà nước về mặt dân sự sẽ
được thi hành, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
công dân. Bản án, quyết định của Tòa án khi được chấp hành nghiêm chỉnh có tác động
trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật. Hiến pháp 2013 khẳng định “Bản
án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá
nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” 1.
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị, Ban chấp hành
Trung ương Đảng (khóa IX) về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng chỉ rõ
“Xây dựng cơ chế bảo đảm mọi bản án của tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi
hành. Chuẩn bị điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính
phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án”. Và trong pháp luật thi hành án dân sự,
biện pháp cưỡng chế thi hành án, cụ thể là kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án dân sự
được xem là một trong những quy định cơ bản, quan trọng nhất, là biện pháp bảo đảm
việc thi hành án được thi hành trên thực tế. Vì vậy, có thể nói biện pháp kê biên, xử lý tài
sản để thi hành án có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương phép
nước, củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho quyền lực tư
pháp được thực thi trên thực tế.
Nhận thức được tầm quan trọng trên, trong những năm qua, với sự quan tâm của
Đang vả Nhà nước, công tác thi hành án dân sự trong những năm qua đạt được một số kết
quả đáng khích lệ. Cụ thể: ngày 26-12-2013, tại Hội nghị tổng kết năm 2013 và triển khai
công tác năm 2014 của ngành thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp đã công bố Quyết định của
Thủ tướng Chính phủ lấy ngày 19-7 hàng năm là “Ngày Truyền thống Thi hành án dân
sự” nhằm ghi nhận truyền thống công tác thi hành án dân sự ở nước ta đã được đúc kết
trong suốt quá trình 67 năm xây dựng và trưởng thành. Bên cạnh đó, thay mặt Lãnh đạo
Đảng, Nhà nước, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu cũng đã trao Huân chương Lao
động hạng Ba cho Tổng cục Thi hành án dân sự. Tiếp tục phát huy thế mạnh, 6 tháng đầu
năm 2014, toàn Ngành đã thi hành xong 204.640 việc (tăng 40.533 việc = 24,7%), đạt tỷ lệ
53,19% (cao hơn 2,34% so với cùng kỳ); giải quyết xong 13.479 tỷ 263 triệu 421 nghìn
đồng (tăng 5.935 tỷ 171 triệu 906 nghìn đồng = 78,67%), đạt tỷ lệ 25,76%, (cao hơn 0,61%
384.744 việc có điều kiện thi hành án thì chỉ có 204.640 việc cơ quan thi hành án dân sự tổ
chức thi hành được, chiếm 53,19%; và số việc chuyển kỳ sau là 309.118 việc, tăng 7.880
việc (2,6%) so với cùng kỳ năm 2013.
Theo đánh giá của Tổng cục thi hành án dân sự, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình
trạng án tồn đọng kéo dài như hiện nay, và khó khăn trong hoạt động kê biên, xử lý tài
sản trong thi hành án dân sự hiện nay là một trong số đó. Cụ thể: Thứ nhất, cơ sở pháp lý
về hoạt động kê biên, xử lý tài sản để thi hành án tuy đã được cải thiện nhưng chưa hoàn
thiện, còn chồng chéo, vướng mắc với nhiều văn bản pháp luật khác, khiến cho Chấp
hành viên gặp không ít khó khăn trong việc áp dụng. Thứ hai, do tính chất biện pháp kê
biên, xử lý tài sản là cưỡng chế khi đương sự không tự nguyện thi hành án, nên khi áp
dụng biện pháp này, Chấp hành viên luôn gặp phải sự chống đối từ đương sự với nhiều
hình thức khác nhau. Thứ ba, một số Chấp hành viên có nghiệp vụ chưa cao, còn thói hống
hách, sách nhiễu khiến các đương sự bất mãn, không có ý hợp tác, gây khó khăn trong
quá trình kê biên, xử lý tài sản để thi hành án. Ngoài ra, việc người dân ngại mua tài sản
bị kê biên trong thi hành án dân sự cũng là một trở ngại không nhỏ của quá trình bán tài
sản đã kê biên.
2
Báo cáo số 1212/BC-TVTHADS của Tổng cục Thi hành án dân sự ngày 29 tháng 4 năm 2014 về Kết quả
công tác thi hành án dân sự 6 tháng đầu năm 2014, Nhiệm vụ, giải pháp công tác 6 tháng cuối năm 2014.
GVHD: Trương Thanh Hùng
2
SVTH: Trần Tú Trân
văn thạc sĩ Luật học: “Đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam” của
tác giả Nguyễn Quang Thái; Luận văn thạc sĩ Luật học: “Đổi mới thủ tục thi hành án dân
sự Việt Nam” của tác giả Lê Anh Tuấn.
Bên cạnh đó còn có: Giáo trình môn Luật tố tụng dân sự của trường Đại học luật Hà
Nội, trường Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh, Khoa luật trường Đại học Cần Thơ và
các trường Đại học có chuyên ngành luật; Giáo trình kỹ năng thi hành án dân sự của Học
viện Tư pháp; Sổ tay nghiệp vụ thi hành án dân sự của Bộ Tư pháp, Tài liệu lớp bồi
dưỡng kỹ năng thi hành án dân sự của Bộ Tư pháp. Và một số bài viết liên quan đến thi
GVHD: Trương Thanh Hùng
3
SVTH: Trần Tú Trân
Đề tài: Biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án dân sự - Lý luận và thực tiễn
hành án dân sự được đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Nhà nước và pháp
luật, Tạp chí Luật học,...
Các công trình trên đã có nội dung nghiên cứu về kê biên, xử lý tài sản để trong thi
hành án ở những góc độ, khía cạnh và mức độ khác nhau. Ở một số công trình cũng đã đề
cập đến vấn đề lý luận chung về biện pháp này, thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả thi hành án dân sự nước ta hiện nay. Nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu
một cách toàn diện và có hệ thống về biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản để thi
hành án trong thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục tiêu, đối tượng nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu đề tài là để tìm hiểu rõ các quy định của pháp luật về kê biên,
xử lý tài sản để thi hành án trong pháp luật hiện hành, thực tiễn áp dụng chúng tại các cơ
quan thi hành án dân sự. Từ đó thấy được những bất cập trong thực tiễn áp dụng và đề
Đề tài: Biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án dân sự - Lý luận và thực tiễn
bán đấu giá tài sản của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 của
Chính phủ quy định về bán đấu giá tài sản. Bên cạnh đó, người viết còn đề cập đến thực
tiễn áp dụng các quy định của pháp luật và nêu lên đánh giá; từ đó rút ra những giải pháp
để hoàn thiện pháp luật về kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án dân sự.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, để có thể diễn đạt được nội dung của luận văn, người
viết đã sử dụng nhiều biệp pháp nghiên cứu khác nhau. Thông qua việc tìm hiểu các quan
điểm, các quy luật của quá trình vận động xã hội mà Mác-Lênin đã đưa ra giúp người viết
nhận thức được sự vận động của cuộc sống, qua đó nhận thức rõ hơn vì sao cần phải xây
dựng và hoàn thiện pháp luật cho phù hợp với vận động của xã hội.
Đồng thời, người viết còn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp luật viết giúp khái quát, tóm lược những ý
chính của vấn đề, từ đó vận dụng những kiến thức đã nắm được áp dụng vào đề tài
nghiên cứu nhằm làm rõ thêm vấn đề đã đưa ra.
- Phương pháp so sánh, để thấy rõ về sự phát triển, thay đổi của vấn đề qua từng
giai đoạn từ đó thấy rõ những nguyên nhân, ưu điểm, khuyết điểm của những sự khác
nhau đó mà có quyết định lựa chọn quy định nào cho phù hợp nhất.
- Phương pháp lôgic trong phân tích vấn đề, cũng như trình bày đề tài và phân
tích đề tài sao cho hợp lí nhất.
- Phương pháp chứng minh, thông qua việc dẫn chứng thực tiễn để thuyết phục
người đọc nhìn nhận được vấn đề một cách rõ ràng hơn.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, nhằm chọn lọc những loại tài liệu có nộidung
liên quan để làm cơ sở lý luận phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài đạt được kếtquả tốt hơn.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương:
Chương 1. Nhận thức chung về biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản trong thi
hành án dân sự.
Chương 2. Quy định của pháp luật về biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản
1.1. Một số khái niệm có liên quan
Biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án là một biện pháp cưỡng
chế của pháp luật thi hành án dân sự, có đối tượng tác động là tài sản của người phải thi
hành án. Để hiểu rõ bản chất của biện pháp này, trước hết phải nắm được các khái niệm
liên quan sau: khái niệm về thi hành án dân sự, biện pháp cưỡng chế trong thi hành án
dân sự và khái niệm về tài sản theo pháp luật dân sự hiện hành.
1.1.1. Khái niệm về thi hành án dân sự
Thi hành án dân sự là một hoạt động của ngành thi hành án. Do đó, trước khi làm
rõ khái niệm thi hành án dân sự là gì, chúng ta cần hiểu thế nào là thi hành án. Theo Đại
từ điển Tiếng Việt, thi hành nghĩa là “Thực hiện điều đã chính thức quyết định” 4. Theo
từ điển Luật học thì thi hành án là “giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng
kết thúc một vụ án được xét xử nhằm làm cho phán quyết của tòa án nhất định có hiệu
lực pháp luật” 5. Như vậy, thi hành án có thể được hiểu là thực hiện các bản án, quyết
định của Tòa án trên thực tế.
Tuy nhiên, kể từ khi hoạt động thi hành án dân sự được chuyển giao từ Tòa án nhân
dân các cấp sang các cơ quan của Chính phủ (Cơ quan thi hành án) thì khái niệm thi hành
án (nhất là thi hành án dân sự) trở thành đề tài tranh luận sôi nổi trên diễn đàn khoa học
pháp lý. Có nhiều quan điểm khác nhau dựa trên những lập luận và cách tiếp cận khác
nhau về thi hành án. Cụ thể: thứ nhất, thi hành án là giai đoạn cuối cùng của tố tụng; thứ
3
Điều 106 Hiến pháp 2013.
4
Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, Chủ biên Nguyễn Như Ý: Đại từ điển
Tiếng Việt, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1999, tr.1559.
5
việc, Tòa án tiến hành điều tra, hòa giải, xét xử để đưa ra phán quyết của mình. Việc giải
quyết vụ việc mới thực sự là giai đoạn đầu của tố tụng. Ở giai đoạn này, Tòa án mới giải
quyết về nội dung của vụ án, phân định quyền và nghĩa vụ của các bên. Nếu phán quyết
đó không được đưa ra thi hành thì lợi ích của đương sự thực chất chưa được bảo vệ, hiệu
lực bản án, quyết định của Tòa án không được bảo đảm. Chỉ khi nào tiến hành xong các
giai đoạn này thì quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự mới được coi là hoàn thành.
Khi ấy, tố tụng mới thực sự thể hiện được hết ý nghĩa của mình là bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân được ghi nhận bằng những quy định ở các ngành luật nội dung.
Hai là, hoạt động thi hành án lệ thuộc và chịu sự chi phối của hoạt động xét xử, bởi
lẽ thi hành án được tiến hành dựa trên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
Tòa án. Nói cách khác, căn cứ pháp lý để thi hành án là bản án, quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật. Cơ quan thi hành án có trách nhiệm ra quyết định thi hành án và thi
hành đúng theo phán quyết của Tòa án, không được suy diễn các phán quyết của Tòa án
6
Viện nghiên cứu khoa học pháp lý: Chuyên đề Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động thi hành án hiện nay,
Thông tin khoa học pháp lý số 6/2002, Nxb.Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, Hà Nội, 2002, tr.8.
7
Viện nghiên cứu khoa học pháp lý: Chuyên đề Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động thi hành á n hiện nay,
Thông tin khoa học pháp lý số 6/2002, Nxb.Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, Hà Nội, 2002, tr.9.
GVHD: Trương Thanh Hùng
7
SVTH: Trần Tú Trân
rộng của khái niệm “dân sự” trong thi hành án.
Quan điểm thứ nhất, khái niệm “dân sự” được hiểu theo nghĩa hẹp. Theo quy định
của Điều 1 Bộ luật dân sự năm 2005, quan hệ dân sự bao gồm quan hệ về tài sản và nhân
thân phát sinh trong giao lưu dân sự 8. Như vậy, những bản án, quyết định dân sự trong
thi hành án bao gồm bản án, quyết định liên quan đến quan hệ tài sản và nhân thân (như
bản án, quyết định về giải quyết tranh chấp đối với các loại hợp đồng dân sự, hôn nhân và
gia đình và một số loại án khác có tính chất dân sự).
8
Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, tr.8.
GVHD: Trương Thanh Hùng
8
SVTH: Trần Tú Trân
Đề tài: Biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án dân sự - Lý luận và thực tiễn
Quan điểm thứ hai, khái niệm “dân sự” ở đây phải được hiểu theo nghĩa rộng, đó
không chỉ bao gồm các bản án, quyết định về giải quyết tranh chấp đối với các loại hợp
đồng dân sự, hôn nhân và gia đình và một số loại bản án, quyết định có tính chất dân sự
của Tòa án, mà còn bao gồm các bản án, quyết định khác do pháp luật quy định 9.
Quan điểm thứ hai hợp lý hơn cả, bởi lẽ, theo quy định của pháp luật hiện hành,
nhiều vụ việc có tính chất khác nhau, được giải quyết theo các trình tự khác nhau nhưng
đến giai đoạn thi hành án đều được áp dụng theo trình tự, thủ tục thi hành án dân sự. Vì
vậy, phạm vi của thi hành án dân sự phải được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: bản án,
quyết định dân sự; hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính,
xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án hình sự; phần tài sản
GVHD: Trương Thanh Hùng
9
SVTH: Trần Tú Trân
Đề tài: Biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án dân sự - Lý luận và thực tiễn
hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành trong
thời hạn do Chấp hành viên ấn định, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải
thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản. Và hiển nhiên, việc cưỡng chế thi hành án dân sự là
trái với ý muốn chủ quan của người phải thi hành án.
Cưỡng chế thi hành án là nội dung trọng tâm của thủ tục thi hành án dân sự. Theo
quy định tại Điều 71 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, Chấp hành viên có quyền áp
dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án sau đây: “Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu
hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án ; Trừ vào thu nhập của người
phải thi hành án; Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do
người thứ ba giữ; Khai thác tài sản của người phải thi hành án; Buộc chuyển giao vật,
chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ; Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không
được thực hiện công việc nhất định”.
Cưỡng chế thi hành án nói riêng, thi hành án dân sự nói chung là một trong những
hoạt động quan trọng, nhằm khôi phục và bảo vệ các quan hệ xã hội bị xâm hại. Do đó,
thi hành dứt điểm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực
pháp luật nhưng được thi hành ngay trên thực tế có ý nghĩa đặc biệt trong việc đảm bảo
trật tự, an toàn xã hội. Mặc dù cưỡng chế thi hành án không được Nhà nước khuyến
khích áp dụng, nhưng khi việc giáo dục, thuyết phục hay nói cách khác khi nào biện pháp
tự nguyện không đạt kết quả thì việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án là cần
thiết. Như thế thì vừa giải quyết dứt điểm vụ việc, vừa có tác dụng giáo dục, răn đe
những đối tượng phải thi hành án khác có điều kiện thi hành mà cố tình chây ỳ.
và các quyền tài sản”.
Tài sản là vật
Vật là một bộ phận của thế giới vật chất, bao gồm cả động vật, thực vật, vật với ý
nghĩa vật lý ở mọi trạng thái (rắn, lỏng, khí). Vật được coi là tài sản phải hữu hình, cảm
nhận được bởi năm giác quan của con người và chiếm giữ một phần trong không gian.
Vật được coi là tài sản khi vật đó đáp ứng được một yêu cầu nào đó về vật chất ho ặc tinh
thần của con người. Tuy nhiên, không phải bộ phận nào của thế giới vật chất cũng đều
được coi là vật. Có những bộ phận của thế giới vật chất ở dạng này thì coi là vật, nhưng ở
dạng khác lại không được coi là vật. Ví dụ: oxi là một bộ phận của thế giới vật chất, đáp
ứng được một nhu cầu rất quan trọng của con người là để thở, nhưng nếu oxi còn ở dạng
không khí chung thì chưa thể coi đó là đối tượng của quyền sở hữu. Chỉ khi oxi được nén
vào bình, tức là con người có thể nắm giữ, quản lý được thì mới có thể đưa vào giao dịch
dân sự và mới có thể trở thành một tài sản được pháp luật điều chỉnh. Tuy nhiên, khác
với quy định tại Điều 172 Bộ luật dân sự năm 1995, Bộ luật dân sự 2005 không chỉ hạn
chế vật có thực mới được coi là tài sản là đối tượng của quyền sở hữu, mà còn mở rộng
tài sản là đối tượng của quyền sở hữu còn có thể là vật được hình thành trong tương lai.
Như vậy, một vật muốn trở thành tài sản trong dân sự phải thỏa mãn những điều
kiện: thứ nhất, là bộ phận của thế giới vật chất, có thể đang tồn tại hoặc hình thành trong
tương lai gần, thứ hai, con người chiếm hữu được, thứ ba, mang lại lợi ích cho chủ thể.
Bên cạnh đó, vật này còn phải được phép tham gia giao dịch dân sự, không phải là những
vật cấm lưu thông theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Tài sản là tiền
Theo kinh tế học, tiền là giá trị đại diện cho giá trị thực của hàng hóa và là
phương tiện lưu thông trong đời sống của con người. Về mặt chính trị, tiền là đại diện
cho chủ quyền của một quốc gia, đòi hỏi người có tiền (là chủ sở hữu) không thể toàn
quyền định đoạt loại tài sản đặc biệt này mà phải tuân thủ những quy định nghiêm ngặt
của Nhà nước. Một tài sản được coi là tiền hiện nay khi nó có giá trị lưu hành trên thị
trường tại thời điểm hiện tại. Theo pháp luật Việt Nam, tiền có thể hiểu là nội tệ hoặc
10
. Giấy
tờ có giá có thể có mệnh giá hoặc không có mệnh giá, có thể có thời gian hoặc không có
thời gian sử dụng và việc định đoạt đối với giấy tờ có giá có thể không bị hạn chế.
Quyền tài sản
Được quy định tại Điều 181 Bộ luật dân sự 2005: “Quyền tài sản là quyền trị giá
được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”.
Đây là những quyền gắn liền với tài sản mà khi thực hiện những quyền đó chủ sở hữu sẽ
có được một tài sản. Đó là quyền chuyển giao tài sản, quyền đòi nở, quyền sở hữu phát
minh, sáng chế,... Các quyền này phải đáp ứng yêu cầu trị giá được bằng tiền và có thể
chuyển giao trong giao dịch dân sự
13
. Quyền tài sản có thể được phân chia thành hai loại:
quyền đối vật và quyền đối nhân. Quyền đối vật được biểu hiện như quyền cầm cố, quyền
thế chấp, quyền hưởng hoa lợi, lợi tức,... Quyền đối nhân của một người thường tương
ứng với nghĩa vụ của người khác, ví dụ: quyền yêu cầu người khác phải làm một việc
hoặc không làm một việc. Hiện nay, pháp luật dân sự Việt Nam công nhận một số quyền
tài sản như: quyền sử dụng đất, quyền đòi nợ, các quyền liên quan đến sở hữu trí tuệ như
quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với cây trồng,...
1.2. Khái niệm và đặc điểm của biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản trong thi
hành án dân sự
Để hiểu rõ bản chất của hoạt động cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án
dân sự, nội dung phần này sẽ trình bày khái niệm và ý nghĩa của nó.
11
Khoản 8, Điều 6 Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010.
Đây là một trong những biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự có tính nghiêm
khắc nhất trong các biện pháp cưỡng chế. Theo đó, quyền tự định đoạt tài sản của người
phải thi hành án có nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định của Tòa án có nguy cơ bị
tước bỏ. Các trình tự thủ tục để thực hiện biện pháp này đòi hỏi phải hết sức chặt chẽ, áp
dụng đúng theo quy định của pháp luật. Thực tế, hoạt động kê biên, xử lý tài sản của
người phải thi hành án rất phức tạp, đòi hỏi Chấp hành viên phải nghiên cứu kỹ các quy
định pháp luật về thi hành án dân sự và các quy định pháp luật có liên quan như: pháp
luật doanh nghiệp, thương mại, dân sự, đất đai, nhà ở,... nhằm hạn chế các sai sót trong
quá trình thi hành án.
1.2.2. Đặc điểm của biện pháp kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án
Kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án là một trong những biện pháp cưỡng chế thi
hành án dân sự. Chính vì thế, biện pháp này vừa có những đặc điểm chung của biện pháp
cưỡng chế thi hành án dân sự, vừa có những đặc điểm riêng của mình.
1.2.2.1. Đặc điểm chung của biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản trong thi
hành án dân sự
Cưỡng chế thi hành án dân sự thể hiện quyền năng đặc biệt của Nhà nước và
được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước.
Cưỡng chế thi hành án dân sự nói chung, kê biên, xử lý tài sản nói riêng là hoạt
động thực hiện quyền lực Nhà nước, được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của Nhà
nước. Khi một bản án, quyết định được đưa ra thi hành, người phải thi hành án có quyền
tự nguyện thi hành án trong thời hạn được ấn định. Hết thời hạn đó, nếu người phải thi
hành án vẫn không tự nguyện thi hành án bản án thì Chấp hành viên sẽ áp dụng biện pháp
cưỡng chế thi hành án, tức là tước đi quyền tự định đoạt tài sản của người phải thi hành
án. Quyền định đoạt là một trong những nội dung của quyền sở hữu. Chỉ có chủ sở hữu
của ta mới được phép định đoạt tài sản. Những người không phải chủ sở hữu chỉ có
quyền này khi được chủ sở hữu ủy quyền hoặc theo pháp luật quy định, nhưng phải phù
GVHD: Trương Thanh Hùng
13
đối với cơ quan Nhà nước và ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội chung . Trình tự, thủ
tục của hoạt động cưỡng chế gồm có xác minh điều kiện để thi hành án, ra quyết định kê
biên, xử lý tài sản và tiến hành kê biên, xử lý tài sản. Việc tuân theo các trình tự này đảm
bảo tính dân chủ, quyền lực thuộc về nhân dân, làm cho kết quả của hoạt động thi hành
án dân sự là thực thi có hiệu quả các bản án quyết định của Tòa án. Sự vi phạm các
nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành án dân sự được pháp luật quy định, trong đa số
trường hợp, đều dẫn đến sai lầm trầm trọng, làm phức tạp quá trình thi hành án, gây tốn
kém kinh phí, không kịp thời hoặc không bảo đảm được lợi ích của Nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân, dẫn đến khiếu kiện bức xúc, kéo dài. Mặt khác, do cơ
quan thi hành án là một bộ phận trong bộ máy nhà nước nên hoạt động thi hành án trong
một quá trình thi hành án đều phải tuân theo nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy
nhà nước nói chung và điều đó chứng tỏ sự diễn biến và phát triển của hoạt động thi hành
án dân sự luôn chịu sự tác động, điều chỉnh trực tiếp của pháp luật về thi hành án dân sự
và rộng hơn là của cả hệ thống pháp luật.
14
Điều 198 Bộ luật Dân sự 2005.
GVHD: Trương Thanh Hùng
14
SVTH: Trần Tú Trân
Đề tài: Biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án dân sự - Lý luận và thực tiễn
Biện pháp cưỡng chế được Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người
phải thi hành án không tự nguyện thi hành án nhằm buộc họ phải thực hiện nghĩa
1.2.2.1. Đặc điểm riêng của biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản trong thi
hành án
Đối tượng của biện pháp kê biên, xử lý tài sản là vật và quyền tài sản.
GVHD: Trương Thanh Hùng
15
SVTH: Trần Tú Trân
Đề tài: Biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án dân sự - Lý luận và thực tiễn
Chấp hành viên sẽ áp dụng biện pháp kê biên, xử lý tài sản khi tài sản của người
phải thi hành án là vật và quyền tài sản. Khi hết hạn tự nguyện thi hành án mà người phải
thi hành án không tự nguyện thi hành án, Chấp hành viên sẽ quyết định áp dụng biện
pháp cưỡng chế thi hành án. Tuy nhiên, luật thi hành án dân sự hiện hành quy định có tất
cả sáu biện pháp cưỡng chế thi hành án. Do đó, khi ra quyết định cưỡng chế thi hành án,
Chấp hành viên đồng thời phải thể hiện được biện pháp mình lựa chọn áp dụng thuộc một
trong sáu biện pháp mà luật định. Mỗi biện pháp có một đặc điểm riêng, phù hợp với một
loại tài sản, một nghĩa vụ cụ thể của người phải thi hành án. Tính chất của hoạt động kê
biên, xử lý tài sản là tạm thời cấm vận chuyển, chuyển đổi, định đoạt hay dịch chuyển tài
sản của người phải thi hành án, rồi tiến đến việc xử lý tài sản nhằm thu lại một khoản tiền
để thi hành án. Do đó, biện pháp này chỉ áp dụng đối với tài sản là vật và quyền tài sản.
Đối với tài sản là tiền, Chấp hành viên không áp dụng biện pháp này. Đây cũng là điểm
khác biệt với các biện pháp cưỡng chế thực hiện một hành vi nhất định như cải chính tin
tức trái sự thật, công khai xin lỗi người bị xúc phạm danh dự nhân phẩm hay không được
tiếp tục thực hiện hành vi trái pháp luật,...
Mọi tài sản của người phải thi hành án đều có thể bị kê biên để thi hành án,
trừ tài sản mà pháp luật cấm kê biên