LUẬN văn LUẬT tư PHÁP kê BIÊN và bán đấu GIÁ tài sản TRONG THI HÀNH án dân sự lý LUẬN và THỰC TIỄN - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN TƯ PHÁP

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA HỌC: 2006 - 2010
ĐỀ TÀI

KÊ BIÊN VÀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TRONG THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ. LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.



Giảng viên hướng dẫn:
Thầy Trương Thanh Hùng

Sinh viên thực hiện:
Võ Thị Huyền Trang
MSSV: 5062367
LỚP: LK 0664A1.

Cần Thơ
Tháng 4/2010


NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN.

...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................

phủ về kê biên, bán đấu giá quyền sử dụng đất để thi hành án
NĐ 05/2005/NĐ-CP – Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18/ 01/2005 của Chính phủ
về bán đấu giá tài sản
NĐ 17/2010/NĐ-CP – Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ
về bán đấu giá tài sản
PLTHADS – Pháp lệnh thi hành án dân sự
QSD – Quyền sử dụng
SHTT – Sở hữu trí tuệ
Thông tư 03/2005/TT-BTP - Thông tư số 03/2005/TT-BTP ngày 4/5/2005 của Bộ Tư
pháp hướng dẫn một số qui định của Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18/01/2005
của Chính phủ về bán đấu giá tài sản.
THA – Thi hành án
THADS – Thi hành án dân sự.



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


 Văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam :
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược Cải
cách tư pháp đến năm 2020.
 Văn bản quy phạm pháp luật:
1. Hiến pháp 1980
2. Hiến pháp 1992
3. Bộ luật tố tụng dân sự 2004
4. Bộ luật dân sự 2005
5. Luật tổ chức tòa án nhân dân 1960
6. Luật tổ chức tòa án nhân dân 1981
7. Luật đất đai 2003

26. Sắc lệnh số 85- SL ngày 22 tháng 5 năm 1950
27. Chỉ thị của Tòa án nhân dân tối cao số 01-NCPL ngày 20 tháng 1 năm 1987 về việc
xét xử và THA đối với các khoản bồi thường, bồi hoàn, thanh toán tài sản, cấp dưỡng
trong các bản án hình sự và dân sự
 Sách, báo, Tạp chí:
1. Giáo trình Luật tố tụng dân sự tập 2, Đại học luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân,
2006.
2. Đinh Thị Mai Phương, Bình luận Pháp lệnh thi hành án dân sự 2004, Bộ Tư Pháp –
Viện khoa học pháp lý.
3. Lê Thu Hà, Bình luận khoa học một số vấn đề của pháp luật tố tụng dân sự và thực
tiễn áp dụng.
4. Nguyễn Ngọc Điện: Một số vấn đề lý luận về các phương pháp phân tích luật viết,
Nxb. Tư Pháp, Hà Nội, 2006.
5. Phan Trung Hiền: Để hoàn thành tốt luận văn ngành luật, Nxb. Cính trị quốc gia, Hà
Nội, 2009.
6. Trương Thanh Hùng, Tập bài giảng Luật tố tụng dân sự, Đại học Cần Thơ, 2006.
7. Án tồn đọng và nổi lo của bộ trưởng, Báo pháp luật TP.Hồ Chí Minh số 13 ngày
13/01/2010.
8. Dùng văn bản giả thi hành án dân sự, Báo lao động số ra ngày 18/10/2009.
9. Trúng đấu giá mà bỏ, phải đền bù, Báo sài gòn giải phóng số ra ngày 18/8/2009.
10. Tạp chí dân chủ và pháp luật.
 Các trang thông tin điện tử:
1. />ngày 2/1/2010]
2. .[xem ngày 2/1/2010]


xem ngày
5/1/2010]
3. />ault/aspx.[xem ngày 5/1/2010]
4. />ngày 8/1/2010]

16. ngày 13/2/2010]
17. [xem
ngày 17/2/2010]
18. />%BA%A5u_gi%C3%A1_tr%E1%BB%B1c_tuy%E1%BA%BFn.[xem ngày 18/2/2010]
19. ngày 25/2/2010]
20. />[xem ngày 25/2/2010]
21. POC19/ban-dau-gia-tai-san-sap-co-co-chephap-ly-moi.htm.[xem ngày 28/2/2010]
22. />ID=0&ArticleID=ARTICLE09070024.[xem ngày 28/2/2010]
23. />[xem ngày 1/3/2010]
24. ngày 3/3/2010]
25. ngày 4/3/2010]
26. />emid=117.[xem ngày 4/3/2010]
27. />moi+truong+van+chua+on+dinh&meta=&aq=f&aqi=&aql=&oq=&gs_rfai=.[xem

ngày

4/3/2010]
28. />xem ngày 6/3/2010]
29. />ews&category=&id=67&topicid=920.[ xem ngày 7/3/2010]


30. ngày
9/3/2010]
Một số tài liệu được cung cấp bởi Cục thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang


Đề tài: Kê biên và bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự. Lý luận và thực tiễn.

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.

theo những bản án, quyết định đó. Trong các biện pháp cưỡng chế mà Luật thi hành
án dân sự 2008 điều chỉnh thì biện pháp cưỡng chế kê biên và xử lý tài sản là phức tạp
và thường gặp khó khăn nhất khi áp dụng. Việc ban hành Luật thi hành án dân sự 1

Án tồn đọng và nổi lo của Bộ trưởng, Báo pháp luật TP. Hồ Chí Minh, số 13, ngày 13-01-2010.

GVHD: Thầy Trương Thanh Hùng

SVTH: Võ Thị Huyền Trang

1


Đề tài: Kê biên và bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự. Lý luận và thực tiễn.

một văn bản chuyên ngành có giá trị pháp lý cao với cơ chế mới và chặt chẽ cho thấy
công tác thi hành án đã dần đi vào lề lối. Cụ thể là những bước cải cách đột phá như
việc định giá tài sản kê biên là thuộc về tổ chức thẩm định giá theo Luật thi hành án
dân sự 2008 thay vì là Hội đồng thẩm định giá như theo Pháp lệnh thi hành án dân sự
2004, rút ngắn thời gian khởi kiện từ 3 tháng theo Pháp lệnh thi hành án dân sự 2004
xuống còn 30 ngày theo Luật thi hành án dân sự 2008 và những qui định mới vừa rõ
ràng vừa mang tính nhân đạo khi tiến hành kê biên các loại tài sản của đương sự để thi
hành án. Tuy nhiên không giống với các biện pháp cưỡng chế khác, biện pháp cưỡng
chế kê biên gắn liền với hoạt động xử lý tài sản mà tiêu biểu là hoạt động bán đấu giá.
Điều đáng nói ở đây là hai hoạt động này tuy liền kề nhau nhưng lại được điều chỉnh
ở hai văn bản pháp luật khác nhau nên thiếu sự đồng bộ và thống nhất khi vận dụng.
Riêng pháp luật bán đấu giá tài sản để thi hành án hiện hành vẫn còn bộc lộ nhiều bất
cập như trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản kê biên còn nhiêu khê, trong phiên đấu giá
còn xảy ra nhiều hành vi vi phạm mà chưa có cách giải quyết…Vấn đề đặt ra là cần
phải có một cơ chế pháp lý chặt chẽ, phù hợp giữa pháp luật thi hành án dân sự và

3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Đề tài chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu đối với vụ việc mà CHV phải áp dụng
biện pháp cưỡng chế kê biên và bán đấu giá tài sản dựa vào Luật thi hành án dân sự
2008 và Nghị định 05/2005/NĐ-CP, đề tài không nghiên cứu các biện pháp cưỡng chế
khác và xử lý tài sản không thông qua thủ tục bán đấu giá. Trong phạm vi đó người
viết đi sâu nghiên cứu những quy định chung của pháp luật khi tiến hành kê biên và
bán đấu giá tài sản CHV và ĐGV bắt buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt. Bên cạnh đó là
những qui định vừa mang tính chế tài vừa mang tính bảo vệ đối với các đương sự,
những người có liên quan và những người tham gia đấu giá tài sản thi hành án dân sự.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài.
Nhằm hoàn thiện bài viết một cách tốt nhất, người viết đã vận dụng một vài
phương pháp nghiên cứu để làm công cụ phục vụ cho việc nghiên cứu của mình như
sau:
- Phương pháp phân tích luật viết để tìm hiểu các quy định pháp luật hiện hành
về vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu, vận dụng các quy định của pháp luật về kê
biên và bán đấu giá tài sản để đối chiếu với thực tiễn.
- Phương pháp liệt kê, thống kê, sử dụng các trang web để tìm kiếm tài liệu.
5. Kết cấu đề tài.
Nội dung nghiên cứu của đề tài này được thể hiện qua 3 chương và kết cấu của
mỗi chương được thể hiện như sau:
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KÊ BIÊN VÀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI
SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ.
Chương này người viết tập trung tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản về biện
pháp cưỡng chế kê biên và bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự thông qua việc
nghiên cứu về lịch sử phát triển, khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, mối quan hệ giữa kê
biên và bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự.
CHƯƠNG 2: QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN.
THỰC TIỄN, NGUYÊN NHÂN VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN.
Ở chương 2, người viết đi vào phân tích những qui định của pháp luật về hình

người viết hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này. Xin chân thành Cảm ơn Thầy!

GVHD: Thầy Trương Thanh Hùng

SVTH: Võ Thị Huyền Trang

4


Đề tài: Kê biên và bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự. Lý luận và thực tiễn.

CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KÊ BIÊN VÀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TRONG
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ.
1.1 Quá trình hình thành và phát triển các qui định của pháp luật về kê biên và
bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự.
1.1.1 Giai đoạn trước năm 1993
Thủ tục thi hành án dân sự trước ngày 01/7/1993 thuộc thẩm quyền của Tòa án
nhân dân và được coi là một giai đoạn của thủ tục tố tụng. Có thể chia các giai đoạn
hình thành về thủ tục kê biên và BĐG như sau:
- Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1960
Cách mạng tháng 8 năm 1945 giành được thắng lợi rực rỡ đã đánh dấu một
bước ngoặc quan trọng trong lịch sử nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Nước nhà
độc lập, công cuộc xây dựng đất nước càng được tăng cường. Bên cạnh việc đẩy
mạnh phát triển về kinh tế, công tác xây dựng pháp luật cũng được chú trọng không
kém. Từ ngày đầu thành lập, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới
trong đó có Sắc lệnh số 13 ngày 24 tháng giêng năm 1946 về tổ chức các Tòa án và
ngạch thẩm phán, một văn bản qui định về tổ chức, thủ tục giải quyết vụ án của Tòa
án. Tiếp đó Sắc lệnh số 51 ngày 17 tháng 4 năm 1946 ấn định thẩm quyền các Tòa án
và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án. Hai Sắc lệnh này là những văn bản

Sắc lệnh số 85 thì “Việc phát mại bất động sản mà phân phối tiền bán được cũng do
Tòa án nhân dân cấp huyện phụ trách. Trong trường hợp có nhiều bất động sản rải rác
ở nhiều huyện khác nhau thì biện lý sẽ chỉ định một thẩm phán huyện để việc phát
mại đó vừa có lợi cho chủ nợ lẫn người mắc nợ”.
Nhìn chung, việc qui định về vấn đề THA trong giai đoạn từ năm 1945 đến
trước năm 1960 còn quá ít, chưa nhận thấy được vai trò quan trọng của quá trình
THADS trong việc giải quyết vụ kiện. Do vấn đề này còn chưa được đề cao nên việc
qui định các biện pháp cưỡng chế mà đặc biệt là biện pháp kê biên và BĐG vẫn chưa
sử dụng đến, chỉ qui định về vấn đề phát mại bất động sản mà chưa qui định về các
loại tài sản khác. Những vấn đề về tố tụng dân sự thời kỳ này còn được các văn bản
pháp luật qui định tản mạn, nhưng đây là giai đoạn mang tính nguyên tắc đặt nền
móng cho việc xây dựng hệ thống pháp luật về THA trong tố tụng dân sự.
- Giai đoạn từ năm 1960 đến trước năm 1993
Giai đoạn này miền Bắc đã giành được độc lập, miền Nam vẫn còn bị đặt dưới
sự thống trị của Đế quốc Mỹ và chính quyền bù nhìn Sài Gòn. Từ năm 1960 trở đi,
chính quyền Sài Gòn đã ban hành nhiều văn bản pháp luật tố tụng mới, nhưng cũng
chỉ tập trung để bảo vệ lợi ích của chính quyền tay sai phản động. Cũng ở giai đoạn
này lần đầu tiên Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 được ban hành, đánh dấu
một bước ngoặc quan trọng trong ngành tư pháp. Theo điều 24 Luật tổ chức Tòa án
nhân dân 1960 qui định: “Tại các Tòa án nhân dân địa phương có nhân viên chấp
hành án làm nhiệm vụ thi hành những bản án và quyết định về dân sự…” Đến đây,
việc THA đã do nhân viên chấp hành án trong các Tòa án địa phương thực hiện chứ
không còn thuộc riêng thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện nữa. Sau khi Tòa
án nhân dân tối cao được thành lập, các văn bản tố tụng là cơ sở cho hoạt động giải
quyết vụ án dân sự là các công văn, chỉ thị, điều lệ…và đặc biệt là các thông tư do
Tòa án nhân dân tối cao ban hành. Riêng về công tác THA - giai đoạn cuối cùng trong
thủ tục giải quyết vụ kiện dân sự thuộc trách nhiệm của Tòa án nhân dân theo qui định
của Hiến pháp và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân. Thủ tục và lề lối làm việc trong
công tác THA được qui định trong đề án năm 1968 của Tòa án nhân dân tối cao về
một số vấn đề cần được chú ý để đẩy mạnh công tác THA và nhiều văn bản hướng

Đến năm 1989, Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh thi hành án dân sự (có hiệu
lực ngày 01/01/1990 ), tạo bước phát triển mới trong pháp luật Tố tụng dân sự Việt
Nam. Đây là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên được Nhà nước ta ban hành qui
định các vấn đề về THA, có hiệu lực cao. Việc ban hành văn bản pháp luật là Pháp
lệnh thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và xã hội đối với việc bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân. Trong PLTHADS 1989, những qui định về kê biên và
BĐG đã được qui định rõ hơn so với những văn bản trước đây. Pháp lệnh đã dành 6
điều từ điều 23 đến điều 28 để qui định về kê biên và BĐGTS. Việc qui định về trình
tự, thủ tục kê biên và BĐG khá rõ ràng. Biện pháp cưỡng chế kê biên được qui định
đầu tiên cho thấy tầm quan trọng của kê biên trong giai đoạn này đã được đề cao.
Pháp lệnh thi hành án dân sự đã xác định những điều kiện pháp lý để bản án, quyết
định của Tòa án có hiệu lực trên thực tế, nhưng thẩm quyền này vẫn còn thuộc Tòa án
nhân dân…Theo khoản 2 điều 15 của PLTHADS 1989 thì: “Chánh án Tòa án phải
chủ động ra quyết định THA đối với các bản án hoặc quyết định của Tòa án về trả lại
tài sản hoặc bồi thường thiệt hại tài sản xã hội chủ nghĩa, phạt tiền, tịch thu tài sản và
án phí”. Ngoài ra còn có Thông tư liên ngành Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao và BTP số 06/1989/TTLT ngày 07/12/1989 hướng dẫn thực hiện một
số qui định của Pháp lệnh thi hành án dân sự. Bên cạnh đó, còn nhiều văn bản pháp
luật được ban hành để hướng dẫn về vấn đề này như công văn của Tòa án nhân dân tối
cao số 04-CT/TAND ngày 03/5/1990 về việc thi hành án.
GVHD: Thầy Trương Thanh Hùng

SVTH: Võ Thị Huyền Trang

7


Đề tài: Kê biên và bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự. Lý luận và thực tiễn.

Tóm lại, các văn bản pháp luật được Nhà nước ta ban hành trong thời kỳ này

hành qui chế bán đấu giá tài sản. Thông tư liên tịch số 01/1997 hướng dẫn việc xét xử
và thi hành án về tài sản. Thông tư liên tịch số 119/1997 hướng dẫn kê biên tài sản của
doanh nghiệp để đảm bảo thi hành án.

GVHD: Thầy Trương Thanh Hùng

SVTH: Võ Thị Huyền Trang

8


Đề tài: Kê biên và bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự. Lý luận và thực tiễn.

Như vậy, trong thời kỳ này nhiều văn bản pháp luật về thi hành án dân sự mà
cụ thể về vấn đề kê biên và BĐG được ban hành. Nhìn chung những quy định về kê
biên và BĐGTS trong thi hành án dân sự ở giai đoạn này tiến bộ hơn so với những quy
định của giai đoạn trước năm 1993. Cụ thể như đã ban hành ra PLTHADS 1993 và rất
nhiều những văn bản hướng dẫn thi hành như đã liệt kê.
- Giai đoạn Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế - xã hội Việt Nam trong những
năm đầu của thế kỷ XXI đã không ngừng phát triển. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển
thần tốc đó cũng đặt ra cho Đảng, Nhà nước ta những khó khăn, thách thức và những
yêu cầu mới về giải quyết các tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội. Nhận thấy
PLTHADS 1993 đến nay được coi là không phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội, không theo kịp tiến trình đổi mới của đất nước, đặt biệt là các chủ trương,
đường lối của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp. Để đáp ứng những yêu cầu đó,
Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã ban hành Bộ luật tố tụng
dân sự 2004 có hiệu lực ngày 01/01/2005. Việc Bộ luật tố tụng dân sự ra đời đã đánh
dấu bước phát triển của hệ thống pháp luật tố tụng dân sự. Từ đây, qui trình tố tụng
dân sự tại các Tòa án đã có sự thay đổi theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch.
Trong đó, đương sự có vai trò quyết định và chủ động trong việc bảo vệ quyền và lợi

Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18/01/2005 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản.
Thông tư số 07/2007/TT-BTP hướng dẫn về việc thông báo kê biên tài sản thi hành án
và cung cấp thông tin về kê biên tài sản tại các Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản
của cục đăng ký giao dịch bảo đảm thuộc BTP…
Có thể thấy biện pháp cưỡng chế kê biên và BĐG trong thời kỳ này đã được
vận dụng phổ biến. Rất nhiều văn bản pháp luật qui định về vấn đề đó tạo điều kiện
cho các cơ quan có thẩm quyền cũng như các đương sự thi hành đúng chức năng,
nhiệm vụ và bảo vệ được lợi ích cho chính mình. Các văn bản này là cơ sở pháp lý để
cơ quan thi hành án tiến hành các thủ tục thi hành án và các biện pháp cưỡng chế thi
hành án. Nhưng do đây chỉ là những văn bản dưới luật chủ yếu là các Nghị định,
Thông tư, cao nhất cũng chỉ là Pháp lệnh nên giá trị pháp lý chưa cao.
* Nhìn chung, biện pháp cưỡng chế bằng hình thức kê biên và BĐG trong thi
hành án dân sự giai đoạn trước năm 2008 có những ưu điểm nhất định, nhưng vẫn
không tránh khỏi những khuyết điểm làm cho những qui định này không còn phù hợp
với tình hình mới. Có thể nhận thấy ở cả ba Pháp lệnh: PLTHADS 1989, PLTHADS
1993, PLTHADS 2004 thì biện pháp kê biên và BĐG được qui định khá tập trung,
ngắn gọn và dễ hiểu. Trình tự, thủ tục để tiến hành kê biên và BĐG đơn giản. Nhưng
bên cạnh đó, các Pháp lệnh này vẫn còn bộc lộ những hạn chế như không qui định rõ
các hình thức kê biên đối với từng loại tài sản cụ thể dẫn đến việc khi thi hành trên
thực tế còn gặp nhiều khó khăn do sự nhận thức “chênh nhau” giữa các CHV về luật.
Có những loại tài sản khác nhau cần phải có những biện pháp kê biên khác nhau. Nếu
cứ qui định chung trong một điều luật như PLTHADS 1989 ở điều 23, PLTHADS
1993 ở điều 29 và PLTHADS 2004 ở điều 41, từ đó các loại tài sản khác nhau sẽ được
kê biên trong cùng một trình tự giống nhau, như vậy là không phù hợp, dẫn đến tình
trạng kê biên kéo dài hoặc không thể tiến hành kê biên được.
Đối với trường hợp BĐGTS kê biên thì ở PLTHADS 1989 và PLTHADS 1993
chỉ qui định việc xử lý tài sản bằng hình thức BĐG. Qui định như vậy là chưa hợp lý
bởi có những tài sản có giá trị nhỏ hoặc những loại mau hỏng mà việc BĐG lại phức
tạp, kéo dài. Nếu cứ kê biên thì phải BĐG sẽ gây thiệt hại cho người được thi hành án
và tốn kém chi phí cho người phải thi hành án. Đến PLTHADS 2004 đã có qui định

Nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật thi hành án dân sự, một văn bản có giá trị pháp lý
cao về vấn đề thi hành án. Trong Luật này, vấn đề kê biên và BĐG đã qui định cụ thể
và chặt chẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cơ quan thi hành án tiến hành các thủ tục
về kê biên và BĐGTS. Bên cạnh đó còn có Nghị định số 58/2009/NĐ-CP của Chính
phủ qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về
thủ tục thi hành án dân sự (NĐ 58/2009/NĐ-CP).
Để thực hiện tốt chính sách mở cửa và hội nhập quốc tế trong những quan hệ
kinh tế, thương mại, đầu tư giữa nước ta với các nước trên thế giới, đòi hỏi phải có
một cơ chế pháp lý hoàn thiện để giải quyết triệt để các tranh chấp phát sinh trong tất
cả các lĩnh vực. Việc ban hành LTHADS 2008 đã đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của
xã hội. Ở thời kỳ này, vấn đề thi hành án mà đặc biệt là biện pháp cưỡng chế kê biên
và BĐG đã được đề cao. Giúp Tòa án giải quyết được các tranh chấp phát sinh và
hoàn thành việc đưa bản án, quyết định đó vào thực tế cuộc sống, tạo niềm tin cho
người dân vào tính nghiêm minh của pháp luật.

GVHD: Thầy Trương Thanh Hùng

SVTH: Võ Thị Huyền Trang

11


Đề tài: Kê biên và bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự. Lý luận và thực tiễn.

1.2 Khái niệm kê biên và bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự.
1.2.1 Khái niệm về kê biên tài sản
Kê biên và BĐG là một trong những biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân
sự. Vậy thi hành án dân sự là gì? Các biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự
như thế nào? Phải tìm hiểu rõ những khái niệm này, từ đó giúp người viết hiểu được
cụ thể về khái niệm và đặc điểm của kê biên và BĐG.

Trương Thanh Hùng - tập bài giảng luật tố tụng dân sự 2, năm 2006, Khoa Luật - Trường Đại Học Cần Thơ.

GVHD: Thầy Trương Thanh Hùng

SVTH: Võ Thị Huyền Trang

12


Đề tài: Kê biên và bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự. Lý luận và thực tiễn.

không thực hiện khiến cho bản án, quyết định dù đã có hiệu lực pháp luật nhưng cũng
chỉ là một “tờ giấy” không hơn, không kém. Do đó để giải quyết được tận gốc vấn đề
này, cơ quan thi hành án đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế buộc người phải thi
hành án nghiêm chỉnh thi hành các bản án theo đúng qui định của pháp luật.
Khái niệm cưỡng chế thi hành án dân sự:
Theo khoản 2 điều 9 LTHADS 2008 thì: “Người phải thi hành án có điều kiện
thi hành mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án…”.
Vậy cưỡng chế thi hành án được hiểu là biện pháp cưỡng bức, bắt buộc của cơ
quan thi hành án do CHV4 quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc người phải thi
hành án phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định
của Tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi
hành mà không tự nguyện thi hành trong thời hạn do CHV ấn định hoặc trong trường
hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản.
Hay cưỡng chế thi hành án dân sự là những biện pháp được pháp luật qui định,
do cơ quan thi hành án áp dụng, nhằm buộc người phải thi hành án thi hành đúng bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án5. Quyết định về biện pháp cưỡng
chế thi hành án chỉ được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều
kiện thi hành án nhưng lại trốn tránh không tự nguyện thi hành hoặc khi người phải
thi hành án có dấu hiệu tẩu tán, hủy hoại tài sản. Việc qui định biện pháp cưỡng chế

đó của đương sự phải tuân thủ theo qui định của pháp luật, không được trái với đạo
đức xã hội, làm thiệt hại đến quyền và lợi ích của người khác. Chính vì thế pháp luật
qui định khi bản án, quyết định của Tòa án được đưa ra thi hành thì người phải thi
hành án phải tự nguyện thi hành. Nếu không tự nguyện thi hành khi có đủ điều kiện
thi hành và đã hết thời hạn tự nguyện theo qui định của pháp luật thì đương nhiên phải
bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án; với mục đích là để giải quyết những yêu
cầu của đương sự và bảo đảm cho quá trình thi hành án được diễn ra, việc quyết định
áp dụng biện pháp cưỡng chế có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình thi hành
án, góp phần đảm bảo tính thực tế, thiết thực cho việc thi hành những bản án, quyết
định đã có hiệu luật pháp luật.
Trong các biện pháp cưỡng chế theo qui định của pháp luật THADS thì người
viết chỉ nghiên cứu đến biện pháp cưỡng chế là kê biên và BĐGTS trong thi hành án
dân sự.
Khái niệm kê biên tài sản:
Từ thực tế cho thấy, nền kinh tế càng phát triển, thì đời sống của người dân
càng được nâng cao. Để bảo vệ lợi ích cho chính mình, họ không ngần ngại gây thiệt
hại đến lợi ích của người khác, thậm chí họ có thể dùng những thủ đoạn xấu chỉ cốt để
đem lợi cho mình. Từ những nhận thức sai lệch đó khiến cho càng ngày càng có nhiều
vụ kiện dân sự, hình sự xảy ra. Và khi đã đưa ra Tòa án thì tất yếu có “người thắng, kẻ
thua”. Khi ấy, người thua sẽ phải thực hiện nghĩa vụ theo các bản án, quyết định của
Tòa án. Nếu không tự nguyện thi hành thì sẽ có biện pháp cưỡng chế dành cho họ.
Trong giai đoạn hiện nay, biện pháp cưỡng chế kê biên và BĐGTS tuy ít được áp dụng
hơn so với các biện pháp khác nhưng đã góp phần giải quyết được lượng án tồn đọng
trong quá trình thi hành án dân sự.
Vậy kê biên là gì? Có tác dụng như thế nào trong quá trình thi hành án?
Có rất nhiều cách hiểu về kê biên chẳng hạn như theo từ điển bách khoa toàn
thư thì “kê biên là cưỡng chế của Nhà nước đối với tài sản của người vi phạm pháp
luật. Kê biên tài sản trong thi hành án là một trong những biện pháp cưỡng chế và
CHV có quyền áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi
hành”.

không tự nguyện thi hành án trong khoảng thời gian do luật định thì sẽ bị áp dụng
biện pháp cưỡng chế là kê biên và xử lý tài sản để thi hành án.
- Quyền kê biên tài sản của người phải thi hành án thuộc về CHV phụ trách hồ
sơ khi xác định được có căn cứ cho rằng tài sản đó là của người phải thi hành án. Như
vậy, chỉ có CHV mới có quyền trực tiếp áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với
người phải thi hành án.
- Trình tự, thủ tục kê biên được tiến hành theo những qui định của pháp luật thi
hành án dân sự và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
- Bằng việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản đã làm chấm dứt quyền tự định
đoạt tài sản của chủ sở hữu đồng thời làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
có liên quan đến tài sản bị kê biên. Bởi khi có tranh chấp về tài sản kê biên thì người
phải thi hành án và những người khác vẫn có quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân
sự. Khi có quyết định kê biên đối với một tài sản nào đó thì khi ấy chủ sở hữu tài sản
đã không còn quyền định đoạt tài sản cũng như đã mất QSD tài sản của một chủ sở
hữu đích thực. Khi kê biên, chủ sở hữu tài sản sẽ không còn cách nào để tẩu tán hay
hủy hoại tài sản. Với biện pháp này sẽ đảm bảo được quyền lợi của người được thi
hành án.

6

Trương Thanh Hùng - tập bài giảng luật tố tụng dân sự 2, năm 2006, Khoa Luật - Trường Đại Học Cần Thơ.

GVHD: Thầy Trương Thanh Hùng

SVTH: Võ Thị Huyền Trang

15


Đề tài: Kê biên và bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự. Lý luận và thực tiễn.

1.2.4 Đặc điểm của bán đấu giá tài sản
- Bán đấu giá tài sản là giai đoạn kết thúc của quá trình thi hành án dân sự khi
áp dụng biện pháp cưỡng chế là kê biên, xử lý tài sản. Một vụ việc dân sự từ lúc mới
phát sinh cho đến khi kết thúc bằng con đường Tòa án phải trải qua một khoảng thời
gian khá dài. Khi vụ việc kết thúc, Tòa án phải ra một bản án hay quyết định. Nếu
đương sự tự nguyện chấp hành thì không vấn đề gì, nhưng nếu đương sự cố tình trốn
tránh nghĩa vụ của mình thì sao? Khi đó cơ quan thi hành án sẽ áp dụng các biện pháp
GVHD: Thầy Trương Thanh Hùng

SVTH: Võ Thị Huyền Trang

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status