Pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán ở việt nam hiện nay - Pdf 61

GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ KẾ TOÁN
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

NGUYỄN THỊ HOA

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ VĂN CƯƠNG

Hà Nội - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được
trích dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.

XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS. VŨ VĂN CƯƠNG


Ngân sách nhà nước

DN

Doanh nghiệp

HTX

Hợp tác xã

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

KTV

Kế toán viên

CPA

Kế toán viên công chứng

(Certified

Public Accountants)
TW

Trung ương


1.3. Pháp luật kinh doanh dịch vụ kế toán một số nước trên thế giới và bài học
kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam ....................................................................... 25
1.3.1. Về tiêu chuẩn của CPA (Certified Public Accountants ) ....................... 25
1.3.2. Về các loại hình doanh nghiệp kế toán ................................................. 26
1.3.3. Về quy định số lượng kế toán viên công chứng (CPA) tối thiểu khi thành
lập doanh nghiệp kế toán. .............................................................................. 27
1.3.4. Về quy định mức vốn tối thiểu khi thành lập doanh nghiệp kế toán. ......... 27
1.3.5. Về tiêu chuẩn, điều kiện thành lập doanh nghiệp kế toán. .................... 28
1.3.6. Về cơ quan cấp phép thành lập và hoạt động doanh nghiệp kế toán ............ 29
Kết luận chương 1 ................................................................................................. 31
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP
LUẬT KINH DOANH DỊCH VỤ KẾ TOÁN TẠI VIỆT NAM ........................ 32
2.1. Thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán ở Việt Nam ................ 32


2.1.1. Khái quát về thực trạng hệ thống pháp luật kinh doanh dịch vụ kế toán ở
Việt Nam hiện nay.......................................................................................... 32
2.1.2. Thực trạng pháp luật về chủ thể kinh doanh dịch vụ kế toán ................ 34
2.1.3. Thực trạng pháp luật về kế toán viên hành nghề: ................................. 52
2.1.4. Thực trạng pháp luật về hợp đồng dịch vụ kế toán; .............................. 55
2.1.5. Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh
dịch vụ kế toán ............................................................................................... 58
2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán ở Việt Nam. .... 60
2.2.1.Những kết quả đạt được trong thi hành pháp luật về kinh doanh dịch vụ
kế toán ở Việt Nam hiện nay. ......................................................................... 60
2.2.2. Những hạn chế vướng mắc trong thực thi pháp luật kinh doanh dịch vụ
kế toán ở Việt Nam hiện nay và nguyên nhân. ................................................ 65
Kết luận chương 2 ................................................................................................. 71
Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ KẾ TOÁN Ở VIỆT NAM ..................... 72

mới mẻ đầy triển vọng trong nền kinh tế nhiều thành phần, đa sở hữu, một thị
trường dịch vụ cao cấp, hoạt động trong sự hỗ trợ và quản lý của Nhà nước và của
Hội nghề nghiệp. Từ 18 doanh nghiệp với hơn 30 kế toán viên chuyên nghiệp năm
2008, đã phát triển lên 120 doanh nghiệp với hơn 260 Kế toán viên chuyên nghiệp.
Đó là một bước phát triển ngoạn mục thị trường dịch vụ non trẻ này. Chất lượng
dịch vụ ngày càng được nâng cao và được sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước, Hội
nghề nghiệp. Kỷ cương, kỷ luật và ý thức trách nhiệm nghề nghiệp được tăng
cường. Khách hàng ngày càng tin tưởng và tìm đến các doanh nghiệp kinh doanh
dịch vụ kế toán, để được cung cấp các loại dịch vụ kế toán ngày càng đa dạng.
Nhiều doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán đã trụ vững và phát triển trong
muôn vàn khó khăn, mở rộng thị trường, tăng thêm các loại hình dịch vụ, tăng
doanh thu. Nhiều kế toán viên chuyên nghiệp đã trưởng thành và có thể thực hiện

1


nhiều loại dịch vụ, cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. Tổ chức nghề
nghiệp của những người hành nghề kế toán đã được thành lập, tập hợp và hỗ trợ tích
cực cho các hội viên, tạo dựng một tổ chức nghề nghiệp có tính chuyên nghiệp.
Hiện nay, xu hướng mở cửa hội nhập cùng với nhu cầu của doanh nghiệp trong
nước khiến thị trường kinh doanh dịch vụ kế toán ở Việt Nam được đánh giá rất
tiềm năng.
Có thể đánh giá, phát triển thị trường dịch vụ kế toán ở Việt Nam tuy là rất
mới mẻ, nhưng là một hướng đi đúng, một thị trường dịch vụ đầy tiềm năng trong
một nền kinh tế mở, hỗ trợ tích cực có hiệu quả cho các doanh nghiệp trong nền
kinh tế, trước hết là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, tất cả chỉ là bắt đầu,
Thị trường dịch vụ kế toán còn quá nhỏ bé trong một đất nước hơn 90 triệu dân, hơn
700 nghìn doanh nghiệp, trong đó có tới 95% là doanh nghiệp vừa và nhỏ [9.].
Đội ngũ kế toán viên chuyên nghiệp còn quá ít ỏi, năng lực và kỹ năng nghề
nghiệp còn hạn chế, thị trường dịch vụ kế toán tự do, tự phát không được kiểm soát,

dịch vụ kế toán ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong chuyên ngành kinh tế có nhiều công trình nghiên cứu về kế toán,
nghiệp vụ kế toán ở các cấp độ khác nhau như luận án tiến sĩ, luận văn cao học, đề
tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, cấp cơ sở hoặc dưới dạng các bài viết nghiên cứu
trao đổi các tạp chí chuyên ngành… Kế toán được nghiên cứu cả ở phương diện lý
luận và thực tiễn.
Trong khoa học pháp lý chuyên ngành hiện nay có rất ít các công trình
nghiên cứu về pháp luật kế toán và hoàn thiện pháp luật kế toán. Qua khảo cứu
chúng tôi thấy hiện chỉ có giáo trình “Pháp luật kế toán” của khoa Luật kinh tế Học viện Ngân hàng biên soạn năm 2012. Về luận văn, luận án có Luận văn cao học
luât kinh tế (2015) Vũ Quốc Việt - Viện Đại học Mở Hà Nội với đề tài “Thực trạng
pháp luật kế toán ở Việt Nam hiện nay và hướng hoàn thiện”; Ngoài ra, có một số
bài báo, tạp chí khoa học có bàn đến pháp luật kế toán như: Bài viết “Hoàn thiện hệ
thống pháp luật kế toán, nâng cao chất lượng hoạt động kế toán - kiểm toán và hội
nhập quốc tế” của Thạc sỹ Phan Dũng đăng trên số 12 Tháng 9-10/2013, Tạp chí
Phát triển và hội nhập; bài viết “Sửa đổi Luật kế toán cho phù hợp với yêu cầu hội
nhập” của Tác giả Phúc Khang đăng trên Báo Kiểm toán số 21/2013… Về cơ bản,
các công trình nghiên cứu, bài viết nêu trên mới chỉ dừng lại ở việc phân tích các
3


quy định của pháp luật nói chung về kế toán mà chưa đi sâu vào nghiên cứu thực
trạng pháp luật, thực hiện áp dụng pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán... Do đó,
nhiều vấn đề về lý luận về dịch vụ kế toán, pháp luật về dịch vụ kế toán, cũng như
việc đánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật về dịch vụ kế toán
ở nước ta hiện nay chưa được nghiên cứu đánh giá một cách toàn diện và có hệ
thống.
Nhìn lại các công trình nghiên cứu luật học trong lĩnh vực kế toán nói chung
và dịch vụ kế toán nói riêng thời gian qua có thể khẳng định, cho đến nay ở Việt
Nam chưa có một công trình nghiên cứu luật học nào ở cấp độ luận văn thạc sỹ

Việt Nam, Luận văn chỉ rõ những ưu điểm và hạn chế của pháp luật hiện hành; từ
thực tiễn thi hành pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán luận văn chỉ ra kết quả đã
đạt được và những bất cập, hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành
pháp luật và nguyên nhân của bất cập đó.
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đó, luận văn sẽ xây dựng phương hướng và
các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về kế toán nói chung và dịch vụ kế toán nói
riêng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán ở Việt Nam.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các quy định của pháp luật về kinh doanh dịch kế toán tại Việt
Nam, các quan điểm khoa học pháp lý, các quan điểm, đường lối của Đảng có liên
quan đến pháp luật về kinh doanh dịch vụ kế toán và hoàn thiện pháp luật về kinh
doanh dịch vụ kế toán.
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chủ yếu nghiên cứu các quy định pháp luật về dịch vụ kế toán Việt
Nam kể từ khi có Luật kế toán ra đời cho đến nay. Việc nghiên cứu thực tiễn được
khảo sát chủ yếu tại các đơn vị kinh doanh dịch vụ kế toán và các doanh nghiệp sử
dụng dịch vụ kế toán ở các thành phố lớn và ở một số địa phương.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận:
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê
nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà
nước ta về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN vầ xây dựng và hoàn
thiện pháp luật trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
5


5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu trong đề tài bao gồm các
phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và phương pháp nghiên cứu khoa học

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về kinh
doanh dịch vụ kế toán tại Việt Nam;
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kinh
doanh dịch vụ kế toán ở Việt Nam.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ
KẾ TOÁN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ
KẾ TOÁN
1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về kinh doanh dịch vụ kế toán
1.1.1. Khái niệm kế toán
Xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau nên hiện nay có khá nhiều định
nghĩa về kế toán.
Trước đây người ta thường hiểu công việc kế toán chỉ gồm các nhiệm vụ giữ
sổ sách kế toán, ghi chép, phân loại và tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Mục đích của kế toán trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung là nhằm cung cấp
thông tin cho Nhà nước để kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch. Chức năng của kế
toán là phản ánh và giám đốc tài sản XHCN và các hoạt động kinh tế. Bởi vậy, kế
toán được định nghĩa:
“Kế toán là công việc tính toán, ghi chép, phản ánh bằng con số một cách
liên tục, toàn diện và hệ thống các loại vật tư, tiền vốn và mọi hoạt động kinh tế,
qua đó mà giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước; tình hình bảo vệ tài
sản XHCN”[12. Tr.7]
Trong Điều lệ Tổ chức kế toán Nhà nước có định nghĩa: “Kế toán là công
việc ghi chép, tính toán bằng con số dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao
động, chủ yếu dưới hình thức giá trị để phản ánh, kiểm tra tình hình vận động của
các loại tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn

thời gian lao động”1.
Qua một số định nghĩa về kế toán nêu trên cho thấy, quan niệm về phạm vi
hoạt động kế toán, nhiệm vụ, mục đích của kế toán đã có thay đổi nhất định. Theo
điều 4 Luật kế toán năm 2015 quy định về nhiệm vụ kế toán gồm:
-Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung công
việc kế toán, theo chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán;
- Kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi tài chính, nghĩa vụ thu, nộp, thanh
toán nợ; kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản; phát
hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán;
1

Khoản 8, Điều 3, Luật kế toán năm 2015

9


- Phân tích thông tin, số liệu kế toán; tham mưu, đề xuất các giải pháp phục
vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán;
- Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật.
1.1.2. Phân loại kế toán
* Căn cứ vào việc tổ chức hệ thống kế toán, ở Việt Nam kế toán đã được
phân chia thành các khu vực:
- Khu vực kế toán nhà nước bao gồm kế toán thu chi NSNN, kế toán Kho
bạc, kế toán thuế, kế toán đơn vị hành chính sự nghiệp, kế toán tài sản công nhằm
đảm bảo thực hiện nhiệm vụ quản lý NSNN, quản lý kho bạc, tài sản quốc gia.
- Khu vực kế toán doanh nghiệp áp dụng chung cho tất cả các doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế để theo dõi, quản lý biến động về vốn, tài sản, thu
nhập, chi phí, phân phối thu nhập của các doanh nghiệp. Một số ngành, lĩnh vực
doanh nghiệp đặc thù đã có quy định phù hợp.
- Khu vực kế toán ngân hàng, tín dụng, tổ chức tài chính, các quỹ tài

đơn vị sự nghiệp công lập; tổ chức, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước; ban quản lý
dự án có tư cách pháp nhân do cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập thành
lập; cơ quan, tổ chức quản lý quỹ tài chính nhà nước ngoài NSNN; các tổ chức
được nhà nước cấp vốn để tổ chức hoạt động theo mục tiêu chính trị - xã hội cụ thể.
- Kế toán khác là kế toán trong các đơn vị kế toán còn lại không thuộc hai
đối tượng quy định trên;
* Kế toán trong đơn vị kế toán được phân chia thành: Kế toán tài chính và kế
toán quản trị;
Kế toán tài chính: là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp
thông tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng
thông tin của đơn vị kế toán. Kế toán tài chính là kế toán phản ánh hiện trạng và sự
biến động về vốn, tài sản của đơn vị kế toán dưới dạng tổng quát [12, Tr.11].
Trong kế toán tài chính bao gồm: kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết.
+ Kế toán tổng hợp phải thu thập, xử lý, ghi chép và cung cấp thông tin tổng
quát về hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị. Kế toán tổng hợp sử dụng đơn vị
tiền tệ để phản ánh tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản, tình hình và kết quả
hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán. Kế toán tổng hợp được thực hiện
trên cơ sở các thông tin, số liệu của kế toán chi tiết3. Trong DN kế toán tổng hợp là
một bộ phận của kế toán tài chính, nhằm trình bày các số liệu báo cáo mang tính
tổng hợp về tình hình tài sản, doanh thu chi phí và kết quả sản xuất kinh doanh của

3

Điểm a, khoản 2 điều 9 Luật Kế toán 2015

11


doanh nghiệp trong một kỳ kế toán vào một thời điểm nhất định. Nói cách khác kế
toán tổng hợp chỉ liên quan đến tài khoản của sổ cái tổng hợp và báo cáo tài chính.


12


Các thông tin của kế toán được tao ra nhằm giúp cho những người có nhu
cầu sử dụng thông tin khác nhau, cụ thể:
Đối với người quản trị doanh nghiệp:
Người quản trị trong doanh nghiệp ở các cấp độ quản trị khác nhau họ là
những người trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh. Họ sử dụng thông tin về kế
toán để xác định mục tiêu kinh doanh, đề ra các quyết định để thực hiện, đánh giá
thực hiện mục tiêu và điều chỉnh mục tiêu nếu thấy cần thiết để hoạt động kinh
doanh của họ đạt hiệu quả cao hơn. Vai trò của kế toán trong việc cung cấp thông
tin cho các nhà quản trị là nhằm liên kết các quá trình quản lý với nhau và liên kết
doanh nghiệp với môi trường bên ngoài.
Đối với các chủ sở hữu:
Chủ sở hữu là những người có quyền sở hữu với vốn hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp (như cổ đông, người góp vốn liên doanh, Nhà nước trong các
doanh nghiệp Nhà nước và công ty cổ phần,…), họ quan tâm đến lợi tức sinh ra từ
vốn kinh doanh, vì đây là căn cứ để họ đưa ra các quyết định cần thiết, bao gồm cả
quyết định phân chia lợi tức cho họ. Đồng thời, qua việc xem xét thông tin trên báo
cáo kế toán để họ có thể đánh giá năng lực, trách nhiệm của các bộ phận quản lý ở
doanh nghiệp là tốt hay xấu.
Đối với khách hàng là người cho vay và cung cấp hàng hóa dịch vụ:
Các ngân hàng, tổ chức tài chính khác cũng như các nhà cung cấp hàng
hóa, dịch vụ trước khi cho vay hoặc cung cấp đều có nhu cầu thông tin về khả
năng thanh toán của doanh nghiệp như thế nào? Nghĩa là, doanh nghiệp đã có đủ
khả năng chi trả hay không? Để có được thông tin này họ phải sử dụng thông tin
của kế toán.
Đối với các nhà đầu tư:
Các nhà đầu tư là người cung cấp vốn cho tổ chức hoạt động kinh doanh với

Đối với các đơn vị kế toán là doanh nghiệp thì việc tổ chức công tác kế toán,
bộ máy kế toán không chỉ là thực hiện yêu cầu đòi hỏi của nhà nước nhằm thiết lập
nên công cụ đắc lực để quản lý nền kinh tế của Nhà nước mà còn có vai trò quan
trọng đặc biệt với doanh nghiệp. Bởi vì:
Kế toán là quá trình thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông
tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động. Qua
5
6

Khoản 1 điều 49 Luật kế toán 2015
Khoản 1 điều 50 Luật kế toán

14


đó theo dõi những hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp và tổng
hợp các kết quả bằng các bản báo cáo kế toán [28]. Thông qua bộ phận kế toán,
các nhà quản lý có thể theo dõi thường xuyên tình hình hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp mình, bao gồm quá trình sản xuất, theo dõi thị trường
và kiểm soát nội bộ. Thông tin do bộ phận kế toán cung cấp rất cần thiết cho nhà
quản trị, nó giúp họ đưa ra các chiến lược và quyết định kinh doanh. Bộ máy kế
toán sẽ xác định đúng nhu cầu cần huy động vốn, lựa chọn nguồn tài trợ, lựa
chọn phương thức đòn bẩy kinh doanh để huy động vốn, để nguồn vốn bảo toàn
và phát triển, nâng cao thu nhập của công ty… Do đó nếu thông tin kế toán sai
lệch sẽ dẫn đến các quyết định của nhà quản trị không phù hợp, doanh nghiệp có
thể rơi vào tình trạng khó khăn.
Kế toán là một bộ phận không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp. Một bộ
máy kế toán mạnh, sổ sách kế toán rõ ràng, phân tích thấu đáo sẽ giúp cho người
điều hành đưa ra các quyết định kinh doanh đạt hiệu quả. Mặt khác sổ sách rõ ràng
thì việc quyết toán về thuế đối với cơ quan chức năng sẽ mau lẹ, giúp tiết kiệm thời

động, cạnh tranh và để phát triển để phát huy khả năng chuyên môn nghiệp vụ của
mình. Họ tận dụng khả năng chuyên môn, tận dụng thời gian mình có để làm
chuyên môn nghề nghiệp của mình để có thu nhập cao hơn, làm giàu bằng chính
nghề nghiệp chuyên môn của mình thông qua việc cung cấp cung cấp dịch vụ kế
toán cho các đơn vị kế toán theo cơ chế thị trường. Những kế toán muốn hành nghề
có thể hành nghề độc lập với tư cách hộ kinh doanh dịch vụ kế toán hoặc họ cùng
góp vốn cùng đứng ra thành lập DN kinh doanh dịch vụ kế toán hoặc ký hợp đồng
lao động với các DN kinh doanh dịch vụ kế toán để cung cấp dịch vụ kế toán cho
khách hàng.
Nhà nước đã nhận ra những lợi ích của việc cung cấp dịch vụ kế toán cho các
DN, thấy được các nhu cầu tất yếu của nền kinh tế cần sự hỗ trợ giúp đỡ của các
chuyên gia kế toán chuyên nghiệp. Điều đó không chỉ giúp DN có lợi về minh bạch
thông tin mà còn giảm thiểu tối đa chi phí khi họ tuyển dụng và khắc phục rủi ro.
Chính vì vậy, Nhà nước ban hành pháp luật tạo khuôn khổ pháp lý cho hoạt động
kinh doanh dịch vụ kế toán ra đời, phát triển. Bằng các quy định của pháp luật Nhà
nước cho phép thành lập các kế toán viên có đủ tiêu chuẩn điều kiện hành nghề
được thành lập các DN, hộ kinh doanh dịch vụ kế toán. Đồng thời cho phép một số
loại đơn vị kế toán được thuê dịch vụ làm kế toán, thuê làm kế toán trưởng từ các
đơn vị cung cấp dịch vụ kế toán.
16


Trong điều kiện ấy thì thị trường dịch vụ về tài chính - kế toán bắt đầu hình
thành để hỗ trợ các DN cung cấp dịch vụ cần thiết trong đó có dịch vụ kế toán, bên
cạnh là các dịch vụ khác…
Ưu điểm lớn nhất của dịch vụ kế toán là tính chuyên nghiệp, đảm bảo độ tin
cậy, chi phí thấp và hợp lý, điều đó làm DN yên tâm hơn khi thực hiện nghĩa vụ về
kế toán, lập và trình bày báo cáo tài chính, thực hiện các nghĩa vụ công bố thông tin
tài chính, kê khai thuế, nộp thuế cho nhà nước… Với dịch vụ này, DN có thể thực
hiện đầy đủ và bảo vệ quyền lợi của mình, đồng thời thời giúp giảm thiểu tối đa chi

Kế toán không chỉ là một bộ phận cấu thành của hệ thống công cụ quản lý kinh tế,
mà còn là một hoạt động thương mại dịch vụ. Dịch vụ kế toán đã đóng vai trò quan
trọng trong việc trợ giúp, tư vấn cho các nhà đầu tư, các DN về luật pháp, chế độ kế
toán tài chính của Nhà nước, cũng như thiết lập hệ thống thông tin kinh tế tài chính,
ghi sổ kế toán, tính thuế kê khai thuế và lập trình bày Báo cáo tài chính [19]…
Có thể nhận thấy, từ những bỡ ngỡ, nhỏ nhoi ban đầu, qua 15 năm phát triển,
thị trường dịch vụ kế toán ở Việt Nam đã hình thành, phát triển tuy còn mới mẻ đầy
triển vọng trong nền kinh tế nhiều thành phần, đa sở hữu, một thị trường dịch vụ
cao cấp, hoạt động trong sự quản lý của Nhà nước và sự hỗ trợ và quản lý của Hội
nghề nghiệp.
* Khái niệm kinh doanh dịch vụ kế toán.
Dịch vụ kế toán là việc bên cung ứng dịch vụ (đơn vị cung cấp dịch vụ kế toán,
người hành nghề dịch vụ kế toán) thực hiện công việc làm kế toán, làm kế toán
trưởng thuê cho bên sử dụng dịch vụ (các đơn vị kế toán) như: soát xét chứng từ ghi sổ
kế toán, rà soát và hoàn thiện sổ sách kế toán, lập và soát xét báo cáo tài chính, tư vấn về
tài chính, kê khai thuế, quyết toán thuế và các công việc khác thuộc nội dung công tác
kế toán hoặc có liên quan đến kế toán như: cung cấp và tư vấn áp dụng công nghệ
thông tin về kế toán, bồi dưỡng nghiệp vụ kế toán... trên cơ sở hợp đồng dịch vụ kế
toán được các bên thỏa thuận ký kết và thực hiện.
Tại khoản 13 điều 3 Luật kế toán năm 2015 giải thích khái niệm kinh doanh
dịch vụ kế toán như sau:
“Kinh doanh dịch vụ kế toán là việc cung cấp dịch vụ làm kế toán, làm kế
toán trưởng, lập báo cáo tài chính, tư vấn kế toán và các công việc khác thuộc nội
dung công tác kế toán theo quy định của Luật kế toán cho các tổ chức, cá nhân có
nhu cầu”7.
7

Khoản 13 điều 3 Luật kế toán năm 2015

18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status