Pháp luật về kinh doanh dịch vụ đòi nợ ở Việt Nam - Pdf 28



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
o0o BÙI THỊ PHƢƠNG THẢO PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH
DỊCH VỤ ĐÒI NỢ Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến

Hà Nội – 2014 Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính
xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh
toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc
gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên

2.1.2. Nội dung các quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đòi nợ 33
2.1.3. Phạm vi hoạt động kinh doanh dịch vụ đòi nợ 46
2.1.4 Nguyên tắc hoạt động của dịch vụ đòi nợ 49
2.1.5. Nội dung và các biện pháp sử dụng trong kinh doanh dịch vụ đòi nợ 52
2.1.6. Nội dung quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động
dịch vụ đòi nợ 56
2.1.7. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật kinh
doanh dịch vụ đòi nợ 60
2.1.8. Nội dung quy định về quản lý nhà nước và xử lý vi phạm trong hoạt
động kinh doanh dịch vụ đòi nợ 62
2.2. Thực trạng thực thi pháp luật về kinh doanh dịch vụ đòi nợ ở Việt Nam 63
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH
DỊCH VỤ ĐÕI NỢ Ở VIỆT NAM 72
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ đòi nợ ở Việt
Nam 72
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ đòi nợ ở Việt Nam 75
3.2.1. Sửa đổi, bổ sung các quy định tại Nghị định số 104/2007/NĐ-CP về
kinh doanh dịch vụ đòi nợ 75
3.2.2. Cần sửa đổi, bổ sung các quy định khác của pháp luật để tạo sự đồng
bộ, thống nhất trong quá trình thực thi 85
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 Danh mục từ ngữ viết tắt

Nghị định
104/2007/NĐ-CP
:Nghị định số 104/2007/NĐ-CP của Chính phủ ban
hành ngày 14/06/2007 về kinh doanh dịch vụ đòi nợ

:Công ty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh
nghiệp
Công ty TNHH
:Công ty trách nhiệm hữu hạn
1

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Vốn là một trong những nhu cầu thiết yếu không thể thiếu được trong đời
sống xã hội và trong hoạt động sản xuất - kinh doanh, dịch vụ của người dân.
Quan hệ vay và cho vay vốn ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của xã
hội. Tuy nhiên, trên thực tế không phải lúc nào bên vay vốn cũng có thể trả
được vốn và lãi vay đúng thời hạn cam kết cho bên cho vay. Điều này có
nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nguyên nhân khách quan là do bên vay
vốn làm ăn thua lỗ, phá sản hoặc sử dụng vốn vay không hiệu quả, sai mục
đích v.v dẫn đến mất khả năng thanh toán. Nguyên nhân chủ quan có thể do
bên vay vốn chây ỳ, tìm mọi cách trốn tránh nghĩa vụ trả nợ hoặc đau ốm. Để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì việc chủ nợ đòi nợ số vốn cho
vay là điều hiển nhiên. Song thực tế cho thấy việc làm này gặp rất nhiều khó
khăn, phức tạp; bởi lẽ không phải lúc nào bên cho vay cũng có thể nhận được
khoản vốn và lãi vay một cách suôn sẻ, trôi chảy. Đối với những trường hợp
con nợ cố tình chây ỳ hoặc không có thái độ hợp tác trong việc trả nợ thì việc
đòi nợ thường rơi vào tình trạng bế tắc và không đạt được mục đích. Hậu quả
là chủ nợ thường phải nhờ dịch vụ đòi nợ thay vì tự mình tiến hành đòi nợ.
Kinh doanh dịch vụ đòi nợ là một ngành nghề kinh doanh nhạy cảm và mới ra
đời kể từ khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Các
quy định điều chỉnh loại hình kinh doanh dịch vụ này đang trong quá trình
xây dựng và hoàn thiện nên không tránh khỏi những điểm bất hợp lý, chưa
hoàn chỉnh, thống nhất và đồng bộ khi triển khai thi hành trên thực tế. Hơn
nữa, các quy định về kinh doanh dịch vụ đòi nợ được ban hành ở những văn

định pháp luật này.
3

- Đánh giá thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch vụ đòi nợ nhằm nhận
diện những mặt tích cực, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của nó.
- Đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện chế định pháp luật về kinh
doanh dịch vụ đòi nợ ở Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu bao gồm:
- Các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật doanh nghiệp, Luật đầu
tư và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành về kinh doanh dịch vụ đòi nợ.
- Cơ sở chính trị việc nghiên cứu là quan điểm, chủ trương, đường lối của
Đảng về loại hình kinh doanh dịch vụ đòi nợ.
- Báo cáo tổng kết việc thực thi pháp luật về kinh doanh dịch vụ đòi nợ.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, Luận văn dựa trên cơ sở chính trị và sử
dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê nin.
- Quan điểm, đường lối của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng
Nhà nước và Pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
i) Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê…được
sử dụng tại Chương 1. Tổng quan một số vấn đề lý luận về đòi nợ, kinh doanh
dịch vụ đòi nợ và pháp luật về kinh doanh dịch vụ đòi nợ ở Việt Nam.
ii) Phương pháp bình luận, phương pháp đánh giá, phương pháp tổng
hợp…được sử dụng tại Chương 2. Thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch
vụ đòi nợ ở Việt Nam.
iii) Phương pháp diễn giải, phương pháp quy nạp…được sử dụng tại
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ đòi nợ ở


- Chương 1. Tổng quan một số vấn đề lý luận về đòi nợ, kinh doanh dịch
vụ đòi nợ và pháp luật về kinh doanh dịch vụ đòi nợ ở Việt Nam.
- Chương 2. Thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch vụ đòi nợ ở Việt
Nam.
- Chương 3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ đòi nợ
ở Việt Nam.
6

Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÒI NỢ, KINH DOANH
DỊCH VỤ ĐÒI NỢ VÀ PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ ĐÒI
NỢ Ở VIỆT NAM
1.1. Tổng quan về đòi nợ và kinh doanh dịch vụ đòi nợ
1.1.1. Khái niệm nợ, chủ nợ và con nợ
1.1.1.1. Khái niệm nợ
Nợ là nghĩa vụ tài sản của một chủ thể này phải trả cho một chủ thể khác. Nợ
có thể xuất hiện trong các quan hệ dân sự khác nhau như: quan hệ mua bán
hàng hóa, cung cấp dịch vụ, quan hệ cho thuê tài sản, cho thuê tài
chính…Quan hệ xã hội là những quan hệ giữa người với người được hình
thành trong quá trình hoạt động kinh tế, xã hội, chính trị, pháp luật, tư tưởng,
đạo đức, văn hóa…Nợ có thể phát sinh trong bất kỳ mối quan hệ xã hội nào,
quan hệ xã hội càng phức tạp thì những nguồn gốc phát sinh nợ nần càng đa
dạng, phức tạp.
Có nhiều cách phân loại nợ, tùy thuộc vào tiêu chí, mục đích phân loại, có
thể phân thành nợ thường (là những khoản nợ mà chủ thể có quyền đòi nợ có
thể tự mình thu hồi nợ) và nợ xấu (là nợ mà chủ thể có quyền đòi nợ không
thể tự mình thu hồi nợ vì nhiều lý do khách quan); hoặc có thể phân thành nợ
trong dân sự và nợ trong kinh doanh; hoặc có thể phân thành nợ công và nợ
dân doanh…
Theo định nghĩa tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 104/2007/NĐ-CP ngày

cho phù hợp cũng là cơ sở để chúng ta xác định chính xác đối tượng của dịch
vụ kinh doanh dịch vụ đòi nợ là những loại tài sản nào.
Trong giới hạn nghiên cứu, đề tài chỉ để cập đến khái niệm nợ theo quy
định của pháp luật hiện hành, tức nợ là các nghĩa vụ về tài sản mà tổ chức
kinh tế, cá nhân này phải trả cho tổ chức kinh tế, cá nhân khác mà thôi.
8

1.1.1.2. Khái niệm chủ nợ
Gắn liền với tài sản là quyền sở hữu, do đó khi nói tới tài sản không thể
không nói về quyền sở hữu. Quyền sở hữu là vật quyền thống trị và làm cơ sở
cho việc phân chia và xác định các vật quyền khác mà các vật quyền này
thường được gọi là các chi phần của quyền sở hữu. Khi một vật quyền được
tạo lập thì lập tức xuất hiện hai loại quyền cùng tồn tại trên một vật – đó là
quyền sở hữu của chủ sở hữu và quyền của người khác trên vật đó. Khi phát
sinh một khoản nợ sẽ xuất hiện quyền đòi nợ của chủ sở hữu, vật quyền được
xác lập. Nếu chủ sở hữu chuyển giao quyền đòi nợ cho người khác làm phát
sinh dịch quyền. Quyền đòi nợ bao gồm cả quyền trreen tài sản của mình và
quyền trên tài sản của người khác.Do đó khái niệm chủ nợ cũng là một khái
niệm khá rộng.
Theo Từ điển Kinh tế học hiện đại: Các chủ nợ (creditors) là “các cá nhân
hay tổ chức cho vay tiền để được người hay tổ chức vay hứa trả một khoản
tiền nhất định hàng năm theo lãi suất và hoàn trả gốc vào một ngày nào đó
trong tương lai” [19]. Khái niệm trên về chủ nợ chỉ bó hẹp trong phạm vi hợp
đồng vay tài sản, chủ nợ chỉ được hiểu là người cho vay nợ. Hiểu như vậy là
chưa đầy đủ vì nợ không chỉ phát sinh từ hợp đồng vay tài sản mà còn có thể
phát sinh từ các hợp đồng khác. Vậy nên đương nhiên tư cách chủ nợ cũng có
thể phát sinh không chỉ bởi hành vi cho vay nợ của chủ thể đó. Nên hiểu chủ
nợ là người tham gia quan hệ pháp luật làm phát sinh khoản nợ và có quyền
thụ hưởng giá trị tài sản từ khoản nợ đó.
Ngoài ra, tư cách chủ nợ cũng có thể được chuyển từ chủ thể này sang chủ

thực hiện nghĩa vụ. Bên cho vay có nghĩa vụ giao tài sản đầy đủ, đúng số
lượng, chất lượng, chủng loại như thỏa thuận cho bên vay. Nếu bên cho vay
lừa dối bên vay, chuyển giao tài sản không đảm bảo chất lượng mà gây thiệt
hại cho bên vay thì phải bồi thường.
10

Tuy nhiên, định nghĩa này lại chỉ đề cập đến chủ nợ là một cá nhân mà
quên mất rằng trong quan hệ nợ nần thì chủ nợ có thể là tổ chức, đây là một
điểm thiếu sót rất lớn, bởi lẽ khi các quan hệ dân sự phát triển không ngừng
thì tư cách chủ nợ trong quan hệ nợ cũng không ngừng biến đổi với nhiều
dạng chủ thể khác nhau. Mặt khác, món nợ mà định nghĩa trên nêu ra cũng
khá hẹp, chỉ là “tiền” hoặc “hiện vật”, hẹp hơn rất nhiều so với quy định của
BLDS năm 2005 về tài sản và khái niệm chủ nợ ở đây cũng chỉ bó hẹp trong
quan hệ hợp đồng vay tài sản.
Với một cái nhìn khác hơn ở một góc độ rộng hơn, bao quát hơn, Nghị
định số 104/2007/NĐ-CP định nghĩa: “Chủ nợ là tổ chức kinh tế, cá nhân có
quyền đòi nợ”. Đây là một quy định mở và mang tính bao quát cao, chủ nợ
không chỉ xuất hiện trong quan hệ vay tài sản mà có thể xuất hiện trong bất kỳ
một giao dịch dân sự nào…
Tổ chức kinh tế ở đây được hiểu bao gồm doanh nghiệp được thành lập hoạt
động theo Luật Doanh nghiệp (doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty
trách nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty hợp danh); hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác
xã được thành lập theo Luật hợp tác xã; các tổ chức kinh tế thành lập theo luật
đầu tư và các tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật).
Chủ nợ không chỉ là những cá nhân, tổ chức kinh tế có quyền sở hữu đối
với nợ mà cả những cá nhân, tổ chức kinh tế không có quyền sở hữu đối với
nợ nhưng được chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu ủy quyền thông qua hợp đồng
ủy quyền đòi nợ cũng được coi là chủ nợ và họ cũng được nhân danh chủ nợ
hoặc các chủ nợ ký kết hợp đồng dịch vụ với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ
đòi nợ để thu hồi nợ.

ở đây chưa thực sự phản ánh hết bản chất của quan hệ nợ, quan hệ giữa người
có quyền và người có nghĩa vụ trong quan hệ nợ. Theo từ ngữ đời thường, thì
12

chữ “khách” là để chỉ đối tượng được “chủ” sẵn sàng và mong muốn đón tiếp,
giao dịch. Do vậy, người có nghĩa vụ trả nợ được gọi là con nợ. Trong quan
hệ giao dịch, thì các bên vẫn là “khách hàng”, “bạn hàng”, nhưng trong quan
hệ tranh chấp, đòi nợ đến mức phải nhờ cậy người khác đòi nợ mà gọi là
“khách” của nhau thì không hợp lý. Từ điển Tiếng Việt cũng chỉ ghi nhận từ
“con nợ” chứ không ghi nhận chữ “khách” nào theo nghĩa đã được sử dụng
trong Nghị định số 104/2007/NĐ-CP. Thông tư số 33/2010/TT-BTC của Bộ
Tài chính cũng sử dụng “cụm từ khách nợ” của Nghị định số 104/2007/NĐ-
CP khi đưa ra khái niệm “khách nợ là các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có
nợ phải trả”.
Tóm lại, nợ, chủ nợ và con nợ trong quan hệ đòi nợ có quan hệ biện
chứng, chặt chẽ với nhau, thiếu một trong 3 yếu tố trên thì sẽ không thể hình
thành quan hệ nợ. Để xác định tư cách chủ nợ và con nợ trong một khoản nợ
thì điều cốt yếu chúng ta cần dựa vào chính là “tính đích danh”. Tức là phải
xác định trong từng khoản nợ cụ thể, bên có quyền chỉ có tư cách là chủ nợ
trong quan hệ với chính bên có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ đó mà thôi. Sở
dĩ phải xác định cụ thể như vậy vì trong thực tế một chủ thể có thể tham gia
vào rất nhiều quan hệ, nhiều khoản nợ khác nhau và trong khoản nợ này thì
họ có thể là chủ nợ nhưng trong một khoản nợ khác họ lại có thể là con nợ.
1.1.2. Bản chất pháp lý của hoạt động đòi nợ và các phương thức đòi nợ
1.1.2.1. Khái niệm và bản chất pháp lý của đòi nợ
Một khoản nợ hình thành giữa các bên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ
của chủ nợ và con nợ, trong đó con nợ có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ cho
chủ nợ khi đến hạn (nghĩa vụ trả nợ) và chủ nợ có quyền yêu cầu con nợ phải
thực hiện nghĩa vụ đó nếu đến hạn mà con nợ không tự giác thực hiện (quyền
đòi nợ). Như vậy, đòi nợ là quyền của chủ nợ và có thể được thực hiện bởi

14

chưa đến hạn theo ngày tháng đã ấn định, nhưng đã phát sinh tình huống, mà
theo đó chủ nợ được quyền thu hồi nợ trước hạn, trong khi đó quy định “quá
hạn phải thanh toán theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” lại
quá chung chung và chưa tính được hết các trường hợp. Thông tư số
33/2010/TT-BTC quy định rõ: “Nợ tồn đọng là các khoản nợ phải thu, nợ
phải trả đã quá hạn thanh toán nhưng chưa thu được, chưa trả được” (Khoản
4 Điều 7). Như vậy, ta thấy về khái niệm nợ đến hạn thanh toán và nợ quá hạn
thanh toán thì các văn bản pháp luật có quy định tương tự nhau.
Về bản chất thì đòi nợ là quyền dân sự. Điều 13 BLDS năm 2005 chỉ rõ 9
căn cứ xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự. Quyền và nghĩa vụ dân sự luôn gắn
liền với nhau, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia, cho nên căn cứ xác
lập quyền dân sự cũng là căn cứ xác lập nghĩa vụ dân sự.
Xuất phát từ định nghĩa về quyền dân sự ta có thể khái quát đòi nợ là
quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho mình.
1.1.2.2. Các phương thức đòi nợ
Các khoản nợ phát sinh hết sức phong phú đa dạng do vậy mà các phương
thức đòi nợ cũng vô cùng phong phú, đa dạng. Nói một cách nôm na thì phương
thức đòi nợ là tất cả những cách thức mà chủ nợ thực hiện quyền đòi nợ.
Chủ nợ có thể lựa chọn những phương thức khác nhau tương ứng với cách
thực hiện quyền đòi nợ hoặc thông qua một cá nhân, tổ chức bất kỳ không
phải qua Tòa án hay Trọng tài kinh tế làm trung gian giải quyết việc nợ thì họ
có thể tự mình quyết định về phương thức đòi nợ miễn sao không vi phạm các
quy định của pháp luật.
Trước khi Nghị định số 104/2007/NĐ-CP ra đời thì chủ nợ có thể lựa chọn
nhiều phương thức đòi nợ khác nhau. Chủ nợ có thể tự mình bằng những biện
pháp, cách thức khác nhau đến đòi nợ hoặc thông qua dịch vụ đòi nợ thuê
hoặc thông qua con đường tài phán (trọng tài hay Tòa án), dịch vụ đòi nợ thuê
15

hàng hóa - dịch vụ. Cung ứng dịch vụ theo định nghĩa của Luật thương mại:
là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng
dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh
toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ
thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa
thuận (Khoản 9 Điều 3).
Khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa thì các nghề thuộc lĩnh vực kinh doanh dịch vụ đóng một vai trò hết sức
quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế.
Tóm lại, kinh doanh dịch vụ đòi nợ được hiểu là việc thực hiện các hoạt
động cần thiết phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm thu hồi khoản
nợ, trên cơ sở hợp đồng ủy quyền và hợp đồng dịch vụ được ký kết giữa bên
chủ nợ hoặc khách nợ và doanh nghiệp được phép kinh doanh dịch vụ đòi nợ
nhằm mục đích thu lợi nhuận. Khái niệm kinh doanh dịch vụ đòi nợ là một
khái niệm hết sức quan trọng nhằm định hướng đúng đắn cho hoạt động đòi
nợ thuê ở Việt Nam song Nghị định 104/2007/NĐ-CP lại không hề đề cập
đến, đây là một thiếu sót rất lớn, cần được bổ sung trong thời gian tới.
Tính tất yếu phát triển của loại hình dịch vụ này được thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, do quy luật vận động của sự phát triển, quy luật kinh tế mà cụ
thể là quy luật cung cầu; sự quay vòng vốn tạo ra các khoản nợ và từ đó thúc
đẩy sự ra đời của dịch vụ đòi nợ.
Thứ hai, theo lý luận chung về nhà nước và pháp luật thì sự phát triển của
các thiết chế, pháp luật không phù hợp, không theo kịp sự phát triển của các
quan hệ xã hội (không có cơ chế để điều chỉnh quan hệ xã hội mới phát sinh)
sẽ dẫn đến tình trạng kìm hãm sự phát triển của xã hội. Bản thân Tòa án nhân
dân Tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp trong báo cáo gửi
17

Quốc hội đã thừa nhận sự phát triển của ngành tư pháp đã không theo kịp sự
phát triển của xã hội [28]. Do đó mà kinh doanh dịch vụ đòi nợ ra đời như

người được đại diện. Hình thức uỷ quyền do các bên thoả thuận, trừ trường
hợp pháp luật quy định việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản.
Về mặt chủ thể, hoạt động kinh doanh dịch vụ đòi nợ có điểm đặc biệt
so với hình thức đại diện theo uỷ quyền của Bộ luật dân sự chính là việc uỷ
quyền cho tổ chức. Chủ thể tham gia với tư cách là người nhận uỷ quyền là tổ
chức, đó là các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ.
Đối với cá nhân, năng lực pháp luật là khả năng của cá nhân có quyền
và nghĩa vụ dân sự. Nó có từ khi con người sinh ra cho đến khi con người
chết đi và không thể đương nhiên bị bác bỏ, hạn chế ngoại trừ pháp luật quy
định trong những trường hợp đặc biệt và mọi cá nhân đều có sự bình đẳng về
năng lực pháp luật dân sự. Tuy nhiên khác với cá nhân, năng lực pháp luật
của pháp nhân, tổ chức không mặc nhiên mà có, nó chỉ tồn tại khi pháp nhân,
tổ chức đó thành lập và chấm dứt khi nó chấm dứt hoạt động. Năng lực pháp
luật của tổ chức, pháp nhân phải nằm trong phạm vi hoạt động, chức năng của
nó cho nên năng lực pháp luật của các tổ chức sẽ khác nhau. Khác với năng
lực pháp luật, năng lực hành vi của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng
hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Cá nhân có thể
thông qua hành vi cụ thể để xác lập quyền và nghĩa vụ của mình đối với
người khác. Còn đối với tổ chức, pháp nhân phải thông qua người đại diện
mới có thể xác lập quyền, nghĩa vụ đối với các chủ thể khác. Một tổ chức,
pháp nhân có thể có một hoặc nhiều người đại diện tuỳ theo điều lệ của nó
quy định và tuỳ vào hoàn cảnh cụ thể của từng quan hệ uỷ quyền với các bên
thứ ba. Điều đấy đòi hỏi tất cả những người đại diện phải có đầy đủ năng lực
pháp luật và năng lực hành vi. Do đó hoạt động đại diện theo uỷ quyền này
19

mặc dù thuộc phạm vi hoạt động của một tổ chức, pháp nhân phải gắn chặt
với từng con người cụ thể, thoả mãn một số yêu cầu, điều kiện của pháp luật
mới mới có khả năng thực hiện được, hoặc người thực hiện nghiệp vụ của tổ
chức phải thoả mãn một số yêu cầu, điều kiện của pháp luật. Chẳng hạn các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status