Đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt (Luận án tiến sĩ) - Pdf 61

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------

VŨ THỊ HƯƠNG GIANG

ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC – NGỮ NGHĨA VÀ LẬP LUẬN
CỦA CÂU ĐỐ VỀ ĐỘNG THỰC VẬT
TRONG TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 9.22.90.20

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS. TS NGUYỄN THỊ LƯƠNG
2. PGS. TS PHẠM VĂN TÌNH

Hà Nội - 2020


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kì công
trình nào khác.
Tác giả

Vũ Thị Hương Giang


MỤC LỤC

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM LẬP LUẬN CỦA CÂU ĐỐ VỀ ĐỘNG THỰC VẬT
TRONG TIẾNG VIỆT.........................................................................................104
3.1. Đặc điểm các thành phần lập luận của câu đố về động thực
vật trong tiếng Việt......................................................................................104
3.1.1. Đặc điểm thành phần kết luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt
105
3.1.2. Đặc điểm thành phần luận cứ của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt
107
3.2. Cấu trúc lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt.................112
3.2.1. Cấu trúc lập luận tường minh.....................................................................113
3.2.2. Cấu trúc lập luận hàm ẩn............................................................................114
3.3. Cơ sở lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt.......................116
3.3.1. Lập luận theo lẽ thường..............................................................................116
3.3.2. Lập luận theo tư duy sáng tạo riêng............................................................117
3.4. Tiểu kết..........................................................................................................147
KẾT LUẬN........................................................................................................... 148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN.........................................................................151
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................152


DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN
STT
1
2
3
4
5
6
7

49
50
54
58
64
69
76
77
79
90
94
98

tiếng Việt
14

3.1

Số lượng vật đố ở kết luận của câu đố về động thực vật trong

105

tiếng Việt
15

3.2

16

3.3


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Văn học là nghệ thuật ngôn từ. Là một thể loại văn học dân gian nên câu
đố cũng được tạo ra từ chất liệu ngôn từ. Cùng với thành ngữ, tục ngữ, câu đố là
kho tàng bảo lưu giá trị văn hóa của dân tộc, cộng đồng. Từ lâu, nó đã đi sâu, chiếm
vị trí đáng kể, trở thành một món ăn quan trọng, không thể thiếu trong đời sống tinh
thần của người dân Việt. Tiếp cận thể loại văn học dân gian này từ góc độ ngôn ngữ
- văn hóa sẽ là cơ hội tốt để chỉ ra được bản sắc văn hóa của cộng đồng, bên cạnh
đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa, lập luận của câu đố. Đây cũng là hướng nghiên cứu
khá phổ biến, được ưa chuộng hiện nay: hướng nghiên cứu liên ngành, nghiên cứu
ngôn ngữ trong mối quan hệ với văn học, tâm lý học.
1.2. Đố - giải là một trong những hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, thường
xuyên diễn ra trong đời sống cộng đồng. Không đơn thuần chỉ là một trò chơi giải
trí thông thường, đó còn là một sân chơi trí tuệ bổ ích bằng ngôn từ - nhờ đó, với cả
người ra đố và giải đố; năng lực tư duy, cụ thể là năng lực phán đoán trên cơ sở suy
luận được rèn rũa, trau dồi; đồng thời khả năng sử dụng ngôn ngữ linh hoạt cũng
được rèn luyện. Nhiều câu đố đã được văn bản hóa, tồn tại với tư cách một văn bản.
Là văn bản nhưng văn bản câu đố lại có cấu trúc đặc biệt, so với các thể loại văn học
dân gian khác.
Câu đố là một loại đơn vị hết sức đặc biệt (Nó là một dạng “câu” đặc biệt và
cũng là một dạng văn bản đặc biệt). Được gọi là “câu” nhưng câu đố lại có cấu tạo ở
dạng văn bản, trọn vẹn và khép kín. Mặt khác, câu đố vốn là một loại hình văn bản
có phong cách chức năng ngôn ngữ khá độc đáo, vừa thể hiện đặc điểm của ngôn
ngữ văn học (văn học dân gian) lại vừa mang những nét đặc trưng của phong cách
ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày; vừa là một loại hình văn bản ngôn từ vừa là loại
hình văn hóa diễn xướng dân gian. Vì thế, nghiên cứu, tìm hiểu câu đố (kể cả phần
lời đố, lời giải hay phần diễn xướng) đều hứa hẹn có nhiều “đất” để khai thác; mang

đố,… chứ chưa khai thác đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận của nó. Chưa có
công trình nào nghiên cứu tổng thể ba đặc điểm này của câu đố về động thực vật
trong tiếng Việt. Vì thế, tiếp cận câu đố một cách hệ thống ở các bình diện trên cho
đến thời điểm này, vẫn là điều mới lạ, hứa hẹn kết quả nghiên cứu về đối tượng
“được coi là thách thức người tiếp nhận”.
Với những căn cứ trên, chọn đề tài Đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận
của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt để nghiên cứu, người viết mong muốn
góp thêm một cách nhìn về câu đố dưới ánh sáng của một số lý thuyết ngôn ngữ học.


3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn:
- Làm rõ đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận của câu đố về động thực vật
trong tiếng Việt, để thấy được sự độc đáo của loại văn bản đặc biệt này dưới góc độ
ngôn ngữ học.
- Chỉ ra nét độc đáo về cấu trúc - ngữ nghĩa, lập luận và đặc trưng tư duy văn hóa,
triết lí dân gian qua câu đố về động thực vật trong tiếng Việt.
- Chỉ ra căn cứ - cơ chế giải mã để có thể giải đáp câu đố nhanh, đúng và
chính xác.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, chúng tôi xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể
như sau:
- Xác lập khung lý thuyết cho đề tài luận án (khái niệm câu đố, lý thuyết văn bản,
lý thuyết lập luận, vấn đề nghĩa chiếu vật (sở chỉ), quy chiếu, lý thuyết định danh)
- Khảo sát, phân loại câu đố căn cứ vào cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận của chúng.
- Miêu tả, phân tích các loại câu đố, lần lượt ở các khía cạnh:
+ Chỉ ra đặc điểm cấu trúc của văn bản câu đố, mô hình hoá cấu trúc đồng
dạng của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt.

trúc, một số mô hình cấu trúc đồng dạng trong lời đố, các nét nghĩa đặc trưng được
chọn làm miêu tả tố.
(3) Phương pháp nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ học – văn hóa học
Phương pháp này giúp chúng tôi giải mã được ý đồ nghệ thuật và phần nào
hiểu được cách tri nhận của người Việt qua câu đố về động thực vật.
4.2. Thủ pháp nghiên cứu
(1) Thủ pháp thống kê, phân loại
Thủ pháp này được sử dụng để thống kê, phân loại câu đố theo tiêu chí đã định
trước (mô hình cấu trúc đồng dạng, các đặc điểm được chọn làm miêu tả tố, đặc điểm
các thành phần lập luận, cấu trúc lập luận, cơ sở lập luận của câu đố về động thực vật
trong tiếng Việt). Kết quả thống kê sẽ được tổng hợp dưới hình thức các bảng biểu,
giúp hình dung rõ hơn đặc trưng cơ bản về cấu trúc, ngữ nghĩa, lập luận của câu đố
về động thực vật trong tiếng Việt; làm cơ sở cho kết luận của luận án.
(2) Thủ pháp so sánh: tìm ra điểm chung và nét riêng (về cấu trúc - ngữ nghĩa
và lập luận) của câu đố về động vật và thực vật trong tiếng Việt.


5
5. Đóng góp mới của luận án
Đây là công trình khảo sát một cách hệ thống và chuyên sâu đặc điểm cấu
trúc – ngữ nghĩa và lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
Tìm hiểu Đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận của câu đố về động thực
vật trong tiếng Việt, tác giả luận án có những đóng góp sau:
6.1. Về lí luận
Luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện thêm vào các kết quả nghiên cứu về câu
đố; góp thêm một cái nhìn mới về câu đố dân gian người Việt từ góc nhìn của ngôn
ngữ học (văn bản, lập luận, nghĩa chiếu vật (sở chỉ), định danh).
Các kết quả của đề tài sẽ góp phần củng cố hướng nghiên cứu cấu trúc ngữ
nghĩa, kết hợp với nghiên cứu lập luận đối với một loại hình diễn ngôn cụ thể là câu

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Công trình nghiên cứu câu đố dưới góc độ văn học
Câu đố là một giá trị văn hóa, một kho tàng trí tuệ dân gian. So với các thể loại
văn học dân gian khác, trước kia câu đố chưa được nhìn nhận và quan tâm thích đáng.
Song từ những năm 80 của thế kỉ XX trở lại đây, các nhà nghiên cứu, giảng dạy và
những người yêu thích văn học dân gian đã dành sự quan tâm nhiều hơn cho thể loại này.
1.1.1.1. Nghiên cứu câu đố nói chung
Trước hết, chúng ta phải kể đến một số công trình chủ yếu mang tính chất sưu
tầm về câu đố, tiêu biểu: Câu đố Việt Nam (Thiên Lữ, Võ Hồng sưu tầm), Nxb
Thanh Hoá, 2000, Câu đố Việt Nam (Hồ Anh Thái biên soạn), Nxb Hải Phòng, Câu
đố Việt Nam (Ninh Viết Giao), Câu đố dân gian Việt Nam (Xuân Thu), Nxb Thanh
Niên, Hà Nội, 1998, Câu đố dân gian (Lữ Huy Nguyên, Trần Gia Linh, Nguyễn
Đình Chỉnh sưu tầm), Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 1989, Câu đố Việt Nam (Ninh Viết
Giao sưu tầm), Nxb Khoa học Xã hội, 1990, Câu đố Việt Nam (Nguyễn Văn Trung
biên soạn), Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1986; Câu đố người Việt (Triều Nguyên biên
soạn), Nxb Thuận Hoá, 2007. Nhìn nhận vai trò quan trọng của thể loại câu đố, viện
KHXH Việt Nam cũng đã cho ra đời bộ sưu tầm câu đố người Việt và câu đố các
dân tộc thiểu số: Tổng tập văn học dân gian người Việt, (tập 3, Câu đố), Tổng tập
văn học dân gian các dân tộc thiểu số.


7
Trong số các công trình kể trên, có ba công trình được chú ý nhiều hơn cả là
công trình của Ninh Viết Giao, Triều Nguyên và Nguyễn Văn Trung.
Ninh Viết Giao [36] khi tìm hiểu về Câu đố Việt Nam đã lí giải nguồn gốc ra
đời của câu đố, phạm vi đề tài, đặc điểm chủ yếu của nội dung và giới thiệu về một
số biện pháp nghệ thuật của câu đố. Tác giả đã nhận thấy vai trò và vị trí riêng của
thể loại này trong đời sống tinh thần của dân tộc. Nó đã đáp ứng được những yêu
cầu nào đó của nhân dân và có tác động, ảnh hưởng nhất định tới văn học viết. Ông
nhận thấy “Trong những lúc đố nhau, câu đố đã đem lại cho người bình dân Việt

thể loại văn học dân gian khác. Nhóm tác giả Đinh Gia Khánh, Võ Quang Nhơn,
Chu Xuân Diên [73] trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam đã dành 12 trang
(257 – 269) để sơ lược, nêu lên những nét khái quát nhất về đối tượng phản ánh, đặc
điểm nội dung, chức năng câu đố cũng như vị trí của nó trong đời sống tinh thần
của nhân dân, giới thiệu tóm lược nghệ thuật sử dụng câu đố, so sánh sự giống và
khác nhau trong ẩn dụ của câu đố và tục ngữ, phân biệt hát đố và câu đố. Câu đố
được xem là “một phương tiện nhận thức, vừa thoả mãn được nhu cầu tri thức, vừa
thoả mãn được nhu cầu vui chơi, giải trí của nhân dân lao động”. [73, tr. 361].
Dễ nhận thấy, ở góc độ văn học, việc nghiên cứu câu đố nói chung khá
phong phú (khoảng 40 công trình) nhưng các tác giả chủ yếu đi vào sưu tầm, biên
soạn lại câu đố Việt Nam (11 công trình) và chú trọng bàn về nội dung hay đối
tượng phản ánh. Bên cạnh đó, còn có một số công trình nghiên cứu câu đố cho
những đối tượng cụ thể.
1.1.1.2. Nghiên cứu câu đố cho những đối tượng cụ thể
Tác giả Đinh Thị Thu Hương [70] trong luận văn thạc sĩ Câu đố Việt – Tày những
tương đồng và khác biệt đã chỉ ra các điểm giống và khác nhau giữa câu đố của
người Việt – người Tày. Qua việc so sánh câu đố của người Việt và người Tày về
các phương diện (thế giới vật đố, cách thức tư duy cũng như thể thơ, cách gieo vần);
tác giả luận văn đã khám phá những điểm tương đồng, khác biệt về văn hoá, phong
tục, đời sống kinh tế, xã hội của hai dân tộc Việt - Tày; giải mã và khám phá những
bản sắc trong nền văn hoá của hai dân tộc, nhờ chìa khóa là câu đố.
Nguyễn Thị Hường [71], trong luận văn tốt nghiệp đại học năm 2008 đã tìm
hiểu Không gian làng quê trong thế giới hình ảnh vật đố của câu đố người Việt. Ở
luận văn này, sau khi tìm hiểu vài nét khái quát về câu đố và vấn đề khảo sát các hình
ảnh thuộc không gian làng quê xuất hiện trong thế giới hình ảnh vật đố; tác giả đã
nghiên cứu không gian làng quê Việt Nam và một số đặc điểm nghệ thuật của câu
đố; qua đó giúp người đọc thấy được đời sống lao động, sinh hoạt, những quan


9

nghĩa (hay gần nghĩa), cùng trường nghĩa và cả lối chơi chữ về ẩn dụ). Tác giả bài
viết cũng chỉ ra rằng: “Câu đố nhìn tổng thể thì ra một vật kì dị, thậm chí quái đản…
nhưng từng bộ phận hợp thành nó thì lại là những hình ảnh sự vật, hiện tượng thân
quen với người lao động” [93, tr. 32].
Một số bài viết của Đỗ Thành Dương [29], [30], [31] trên Tạp chí Ngôn ngữ,
tập san Ngữ học trẻ đề cập tới ba loại thủ pháp chơi chữ trong câu đố: hiện tượng
đồng âm, hiện tượng đồng nghĩa (đồng nghĩa trực tiếp, đồng nghĩa gián tiếp) và
hiện tượng nói lái trong câu đố của người Việt. Trong bài “Nói lái trong câu đố tiếng
Việt” - Ngôn ngữ và đời sống, số 9 (17), tác giả đã đề cập đến cách sử dụng biện


11
pháp nói lái trong câu đố và tác dụng của nó.
Hay Nguyễn Thị Lê Vân [120] trong luận văn của mình cũng đã tìm hiểu Một
số biện pháp tu từ trong câu đố dân gian Việt, trong đó giá trị của biện pháp so
sánh, ẩn dụ, chơi chữ... đã được khẳng định.
Trong Đề tài NCKH cấp trường – Nghệ thuật chơi chữ trong câu đố dân gian
người Việt, Trương Chí Hùng [59] đã tập trung nghiên cứu nghệ thuật chơi chữ trong
câu đố dân gian người Việt: Chơi chữ bằng phương tiện ngữ âm và chữ viết,; chơi chữ
bằng phương tiện từ vựng, ngữ nghĩa; chơi chữ bằng phương tiện ngữ pháp; chơi chữ
bằng nói lái; chơi chữ dựa vào cứ liệu ngoài văn bản (cứ liệu văn học dân gian, cứ liệu
văn chương bác học), để thấy được chơi chữ trong câu đố dân gian người Việt vận
dụng hầu hết các tiềm năng ngôn ngữ đồng thời vận dụng linh hoạt các phương thức
chơi chữ dựa vào cứ liệu ngoài văn bản (cứ liệu văn học). Trên cơ sở đó, tác giả đã tiến
hành so sánh với chơi chữ trong ca dao dân ca và trong văn học viết.
1.1.2.2. Nghiên cứu ngữ nghĩa của câu đố
Phạm Văn Tình [113] trong Thông báo văn hóa dân gian, 2003, NXB Khoa
học Xã hội cũng đã chỉ ra Hiện tượng đồng dạng khác nghĩa và đồng nghĩa khác
dạng của câu đố. Tác giả bài viết đã chỉ ra điểm thú vị trong câu đố đó là nhiều câu
đố về những sự vật, hiện tượng khác nhau lại có cấu trúc giống nhau (đồng dạng

ra đời của nó; đồng thời phải tăng cường vốn tri thức về những vật đố được sử dụng
trong câu đố Việt cho người giải. Song giới hạn một bài viết 5 trang và sự khảo sát
bước đầu trên phạm vi ngữ liệu hơn 200 câu đố, tác giả chưa cho người đọc có một
cái nhìn hệ thống, toàn diện và họp lý về tiền giả định bách khoa trong câu đố của
người Việt. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của các tiền giả định ngôn ngữ - một nửa căn
cứ để hiểu nghĩa tường minh của phát ngôn vẫn còn là một hướng đi để ngỏ.
Tô Thị Phương Dung [28] trong luận văn Tiền giả định trong câu đố người
Việt đã tìm hiểu tiền giả định bách khoa và tiền giả định ngôn ngữ trong câu đố của
người Việt. Theo tác giả, tiền giả định bách khoa được phân loại thành 5 loại: tiền
giả định bách khoa về tự nhiên; tiền giả định bách khoa về con người; tiền giả định
bách khoa về văn hóa - xã hội; tiền giả định bách khoa về phương ngữ; tiền giả định
bách khoa liên quan đến hiểu biết về từ Hán - Việt. Còn tiền giả định ngôn ngữ gồm
tiền giả định từ vựng, tiền giả định cú pháp và tiền giả định đề tài. Dù xuất hiện ít
hơn nhưng loại tiền giả định này rất hữu hiệu trong Ị việc giúp người giải thu hẹp
được phạm vi vật đố.
Bùi Thị Thu Huyền [69] trong Câu đố dân gian của người Việt nhìn từ góc độ


13
ngôn ngữ học, đã nghiên cứu Câu đố dân gian người Việt nhìn từ bình diện hình
thức. Theo tác giả: xét theo thể loại văn bản, câu đố có dạng thơ và dạng lời nói
thông thường; xét theo lý thuyết cấu trúc hội thoại, câu đố có dạng một cặp trao –
đáp và dạng đoạn thoại; còn xét theo lý thuyết lập luận, lại có câu đố có luận cứ
tường minh và câu đố có kết luận hàm ẩn, câu đố có kết luận tường minh và câu đố
có luận cứ hàm ẩn. Ngoài ra, người viết còn đề cập đến số lượng luận cứ, kết luận
trong một lập luận; hiện tượng luận cứ đồng hướng lập luận trong câu đố; vai trò
của luận cứ trọng tâm trong lời đố có môtip giống nhau), đồng thời chỉ ra một số
căn cứ (căn cứ vào tri thức ngôn ngữ và tri thức về cuộc sống, căn cứ vào các tri
thức nền khác) và phương thức xây dựng câu đố dân gian người Việt (phương thức
đánh lạc hướng chiếu vật, phương thức thay thế - bổ sung)…

hiểu cách thức tri nhận thế giới của người Việt” (trên ngữ liệu câu đố về động vật)
cũng đã chỉ ra 22 tiêu chí được sử dụng như là cơ sở định danh cho các con vật, với
các mức độ khác nhau (cấu tạo cơ thể; hình thức và hình dạng; môi trường sống; tập
tính, lối sống; vai trò chức năng và mối quan hệ với con người; kích cỡ cơ thể; cách
thức di chuyển; màu sắc cơ thể; tiếng kêu; tên gọi; cách thức kiếm mồi và thức ăn;
sinh trưởng, sinh dục; nguồn gốc; phản ứng (trước tác động của môi trường, tự
nhiên, con người và loài vật khác); số lượng; mối quan hệ với loài vật khác; tính
tình; bản năng sinh vật học; giống; vị trí; trí khôn; mùi). Các đặc điểm này hầu hết
được sử dụng kết hợp với nhau, và càng có nhiều đặc điểm trong cùng một câu đố
thì bức tranh về con vật càng rõ ràng, chi tiết và cụ thể hơn. Ngoài ra việc sử dụng
tục ngữ, ca dao hoặc truyện cổ, truyện Kiều để tạo lời đố cũng được đề cập đến
trong bài viết. Các tác giả cũng chỉ ra chín cách thức liên tưởng, so sánh của người
Việt trong câu đố động vật: So sánh dựa trên sự giống nhau về hình thức; so sánh
dựa trên sự giống nhau về kích cỡ; so sánh đặc điểm cấu tạo cơ thể; so sánh dựa
trên sự giống nhau về màu sắc; so sánh đặc điểm tiếng kêu; so sánh đặc điểm số
lượng; so sánh đặc điểm về giống; so sánh đặc điểm môi trường sống; so sánh đặc
điểm về cách thức di chuyển. Từ đó, nhóm tác giả bài viết chỉ ra xu hướng quan sát,
mô tả, cách nhìn vật đố của người Việt.
Như vậy, cho đến nay, nghiên cứu câu đố có khá nhiều nhưng chủ yếu là khai
thác từ góc độ văn học, văn hóa dân gian, folklore và thường nặng về sưu tầm. Tuy
đưa ra nhận xét song đó chỉ là những gợi ý đối với người đọc. Nghiên cứu hệ thống
thể loại này dưới góc độ ngôn ngữ học chưa được khai thác triệt để. Vì trước đó, có
một số công trình Việt ngữ học nhưng lẻ tẻ (tìm hiểu hiện tượng đồng dạng khác
nghĩa, chơi chữ…) hay luận văn phân tích một phương diện nào đó (phương diện


15
tiền giả định, biểu thức chiếu vật, cách thức tri nhận, một số biện pháp tu từ…) dựa
trên một số câu đố tiêu biểu.
Về mặt cấu trúc hình thức, đã có một số bài viết về cấu trúc đồng dạng, nghệ

coi cái hay của câu đố ở chỗ “trong khi nói về cái tồn tại, thực tế, câu đố đồng thời kết
hợp với cả cái không thể có được” (dẫn theo [95, tr. 244]).
Về phía các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam, khái niệm về câu đố
của họ cũng không đi chệch hướng nghiên cứu của các bậc tiền bối.
Vũ Ngọc Phan cho rằng “Câu đố là một loại hình sáng tác phản ánh các sự vật,
hiện tượng của thế giới khách quan theo lối nói chệch (nói một đằng hiểu một nẻo)”
[95, tr. 257]. Khái niệm này nhấn mạnh đến cách nói chệch trong câu đố.
Chú ý đến mặt cấu tạo, tác giả Triều Nguyên trong công trình nghiên cứu của
mình lại đưa ra cái nhìn về câu đố như sau: “Câu đố là một thể loại văn học dân gian,
gồm hai bộ phận: bộ phận lời đố và bộ phận lời giải (vật đố). Lời đố bằng văn vần
nhằm miêu tả vật đố một cách xác thực, hợp lẽ nhưng làm cho lạ hóa để khó đoán
nhận, lời giải nêu tên vật đố, là những sự vật, hiện tượng phổ biến, ai cũng từng biết,
từng hay” [92, tr. 28 – 29].
Câu đố được Nguyễn Văn Trung xem xét trên phương diện cấu tạo và xã hội. Về
phương diện cấu tạo, lời đố và lời giải là hai phần tạo nên cấu trúc của đối thoại câu đố.
Còn xét trên phương diện xã hội, câu đố là trò chơi dân gian bằng ngôn ngữ (hình ảnh,
từ và ý nghĩa…), có tác dụng thử tài suy đoán, nhằm mua vui, giải trí.
Theo Đỗ Bình Trị [118], câu đố là một thể loại văn học dân gian mà chức năng
chủ yếu là phản ánh sự vật, hiện tượng bằng phương pháp giấu tên và nghệ thuật
chuyển hóa (chuyển vật nọ thành vật kia), được dùng trong sinh hoạt tập thể, để thử
tài suy đoán, kiểm tra sự hiểu biết và mua vui, giải trí.
Với Vũ Anh Tuấn, “Câu đố là những sáng tác dân gian ngắn gọn, có vần nhịp,
nội dung thiên về miêu tả sự vật qua nghệ thuật “giấu tên” – nghệ thuật ẩn dụ đặc
biệt” [120, tr. 258].
Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt, thể loại này được định nghĩa là “câu văn vần mô
tả người, vật, hiện tượng một cách lắt léo hoặc úp mở, dùng để đố nhau” [126, tr. 126].
Ngoài ra, có thể kể đến một số cách định danh khác nhau về câu đố của các
nhà nghiên cứu đã được Trần Thị An điểm lại trong phần dẫn luận mở đầu cuốn
Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, tập 2, phần tục ngữ, câu
đố: “là một thể loại văn học dân gian” (Chu Xuân Diên, Hoàng Tiến Tựu), “một định

văn bản đố. Do đó, lời giải là một phần làm nên cấu trúc hoàn chỉnh của câu đố. Khi
đó, lời đố và lời giải làm nên văn bản tổng thể trọn vẹn, đầy đủ. Đây là sự khác biệt
giữa câu đố với các văn bản folklore khác (ca dao, tục ngữ, thành ngữ…). Câu đố
có một văn bản tạm khuất lấp. Nó chỉ hiện diện đầy đủ khi giải xong. Vì thế, trong


18
luận án này, câu đố - đối tượng nghiên cứu được xét trong tư cách của một văn bản
– một văn bản đặc biệt, hoàn chỉnh bao gồm cả lời đố và lời giải.
1.2.1.2. Đặc trưng thể loại
Mỗi thể loại văn học đều mang đặc trưng riêng. Là một thể loại văn học dân
gian, câu đố cũng có những nét đặc thù riêng có.
i. Câu đố - một trò chơi trí tuệ bằng ngôn từ
Đánh cờ, thả thơ, thi hát, đố - giải … là những trò chơi trí tuệ đầy thú vị trong
dân gian, song trò chơi trí tuệ trong câu đố lại mang những đặc điểm riêng:
a. Câu đố là một trò chơi ngôn ngữ được tạo ra từ cách nói lạ hóa, thách đố sự
thông minh và tài phán đoán của người giải. Vật đố có thể được miêu tả trực tiếp,
song phần lớn nó lại được miêu tả một cách gián tiếp thông qua các biện pháp tu từ
độc đáo như so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, vật hóa, ngoa dụ, chơi chữ; nhằm đánh lạc
hướng suy nghĩ của người giải đố. Điều này làm cho câu đố vừa hóc búa, khó đoán
lại vừa thú vị, hấp dẫn. Người ra đố và người giải đố, ngoài việc được đặt mình vào
“không gian trí tuệ, tư duy duy lý”, còn được đặt mình vào “không gian nghệ thuật, tư
duy thẩm mĩ, cảm xúc”. Đây chính là đặc trưng hấp dẫn về mặt tâm lí nghệ thuật, làm
nên cái hay, cái đẹp của câu đố mà không phải thể loại Folklore nào cũng có được.
b. Câu đố có tác dụng tạo cho con người một năng lực suy luận logic và khả
năng tưởng tượng.
Năng lực tưởng tượng là đôi cánh của hoạt động trí tuệ. Nó có thể giúp chúng
ta phát hiện mối liên hệ giữa các sự vật tưởng chừng chẳng có liên quan gì; khiến
tâm hồn ta có thể bay bổng, nghĩ đến những thứ rất mới, có khi rất lạ so với những
thứ đã có. Không ít trường hợp, cùng một sự vật lại được nhìn nhận một cách đa

giải có thể là con sò hay con hến đều được. Cũng vậy, lời đố (4) “Không uốn mà


20
ngay” [125, tr. 94] không chỉ là đặc điểm thân cây cau mà còn là đặc điểm của nhiều
thân cây khác… Ẩn số của bài toán (5) “Không vê mà tròn” [125, tr. 87] không chỉ là
trái bưởi. Hay đáp án cho lời đố (6) “Mình vàng mà thắt đai vàng. Tiếng kêu thỏ thẻ
rõ ràng trên cây. Có chân mà chẳng có tay. Con mắt thì có lông mày thì không” có thể
là chim bồ các [125, tr. 208] hoặc con ong [125, tr. 287 – 288].
Hơn nữa, bài toán đặc biệt ấy còn có linh hồn. Bởi nó có hình thức rất sinh
động và cho ta kết quả đôi khi thật bất ngờ. Ví dụ, đố về con ốc: (7) “Mồm bò
không phải mồm bò mà lại mồm bò” [125, tr. 265] hay đố về trái cau: (8) “Bắt đầu
đội nón. Chóp mặc áo xanh. Đi quanh một vòng. Thay đội nón bằng mặc áo trắng”
[125, tr. 90]... thì cách đố và lời giải quả là bất ngờ, thú vị. Chính điều này làm nên
sức hấp dẫn riêng cho câu đố.
Mỗi câu đố còn như một bài thơ nhỏ, xinh xắn, đáng yêu, được diễn đạt theo
cách diễn đạt của thơ ca, vần điệu hài hòa. Ở đó, các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn
dụ, nhân hóa, phóng đại, chơi chữ… được sử dụng khá nhiều. Vì thế, ngoài tác
dụng rèn luyện tư duy, câu đố còn bồi dưỡng cho chúng ta năng lực thẩm mĩ, năng
lực cảm thụ văn học, năng lực sử dụng ngôn ngữ.
Có thể nói, câu đố là “một bài toán, không phải toán số, mà là toán văn học
(vận dụng hình ảnh, chữ nghĩa) có một trật tự luận lý chặt chẽ và hợp lý theo cách
riêng của câu đố” [119, tr. 17].
1.2.1.3. Chức năng
i. Chức năng nhận thức
Là một loại hình sáng tác folklore, sản phẩm của trí tuệ nhân dân, mục đích
của câu đố là phát triển và hoàn thiện trí tuệ cho con người. Vì thế, nhận thức là giá
trị không thể phủ nhận của thể loại này.
Trước hết, câu đố cung cấp cho chúng ta một vốn tri thức phong phú, đa dạng
về thế giới khách quan: kiến thức tự nhiên, xã hội. Đó là những nhận thức thông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status