Từ ngữ chỉ động vật và thực vật trong tiếng Sán Dìu (LA tiến sĩ) - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trịnh Thị Thu Hòa

TỪ NGỮ CHỈ ĐỘNG VẬT VÀ THỰC VẬT
TRONG TIẾNG SÁN DÌU

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRỊNH THỊ THU HÒA

TỪ NGỮ CHỈ ĐỘNG VẬT VÀ THỰC VẬT
TRONG TIẾNG SÁN DÌU
Chuyên ngành: Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số
Mã số: 60.22.01.09

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS TẠ VĂN THÔNG

Hà Nội, năm 2017
i


Trang phụ bìa ……………………………………………………………….................
Lời cam đoan ……………………………………………………………….................
Lời cảm ơn ………………………………………………………………….................
Mục lục …………………………………………………………………….................
Danh mục các chữ viết tắt …………………………………………………..................
Danh mục các bảng…………………………………………………………..................

i
ii
iii
iv
vi
vii

MỞ ĐẦU ……………….…………….……………………………………...................

1

Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT ........
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ……………………………………............................
1.1.1. Về các từ ngữ chỉ động vật và thực vật……………………………………....................
1.1.2. Về tiếng Sán Dìu……………………………………………………....................
1.2. Cơ sở lí thuyết..……………………………………………………….. .................
1.2.1. Từ, ngữ, nghĩa của từ và sự chuyển nghĩa của từ……………………..................
1.2.2. Lí thuyết trƣờng từ vựng …………………….. ……………………....................
1.2.3. Định danh trong ngôn ngữ và bức tranh ngôn ngữ về thế giới………..................
1.2.4.Vấn đề ngôn ngữ và văn hóa, ngôn ngữ học văn hóa……………………. ...........
1.3.Tiểu kết chƣơng 1…………………………………………………….....................
Chƣơng 2: ĐẶC ĐIỂM CÁC TỪ NGỮ CHỈ ĐỘNG VẬT TRONG TIẾNG SÁN DÌU ...
2.1. Khái quát về động vật và các từ ngữ chỉ động vật tiếng Sán Dìu......................

2.3.1. Từ ngữ chỉ bộ phận đặc trƣng của động vật .………………..................................
2.3.2. Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể động vật dùng chung cho cả ngƣời..................................
2.4. Tiểu kết chƣơng 2……………………………………………………...................
Chƣơng 3: ĐẶC ĐIỂM CÁC TỪ NGỮ CHỈ THỰC VẬT TRONG TIẾNG SÁN DÌU .....
3.1.Khái quát về thực vật và các từ ngữ chỉ thực vật tiếng S n Dìu……….............
3.2. Đặc điểm các từ ngữ chỉ thực vật trong tiếng Sán Dìu……………....................
3.2.1. Đặc điểm cấu tạo của từ ngữ……….....................................................................................

48
48
56
56
61
78
79
81
83
84
84
85
85

2.2.

iv


3.2.1.1. Kết quả thống kê phân loại chung theo cấu tạo..................................................

85

4.1.2. Biểu hiện qua cách định danh động, thực vật................. ..................................................
4.1.2.1. Cách định danh thiên về miêu tả................. ...............................................................
4.1.2.2. Thường sử dụng hình ảnh so sánh liên tưởng mang đậm văn hóa tộc người .....................
4.2. Phản ánh kinh nghiệm ứng xử với tự nhiên và lao động sản xuất………….....
4.3. Phản nh đời sống văn hóa tộc ngƣời……………………………………….......
4.3.1. Về ẩm thực………………………………………………………….....................
4.3.2. Về y học dân gian……………………………………………………..................
4.3.3. Về tín ngƣỡng………………………………………………………....................
4.3.4. Về văn học dân gian…………………………………………………..................
4.4. Tiểu kết…………………………………………………………………………....
KẾT LUẬN…………………………………………………………………...................
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ ……………….........................
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..………………………………….......................
PHỤ LỤC …………………………………………………………………...................

v

118
118
118
126
130
130
132
135
137
137
138
139
141

vi


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1

Phân loại biểu thức định danh động vật trong tiếng Sán Dìu…….............

46

Bảng 2.2

Kết quả phân loại cấu tạo của các từ ngữ chỉ động vật………….............

47

Bảng 2.3

Kết quả phân loại đặc trƣng định danh động vật trong tiếng Sán Dìu ....................

76

Bảng 3.1

Phân loại biểu thức định danh thực vật trong tiếng Sán Dìu…….............

85

Bảng 3.2


1, những đặc trƣng và quan hệ mang tính hệ thống về cơ cấu nghĩa, về sự phát triển
nghĩa của các từ ngữ trong từ vựng của ngôn ngữ đang xét; 2, quan hệ giữa hiện thực và
lối tri nhận, cách liên tƣởng của cộng đồng ngƣời nói, qua việc định danh hay sự ghi
nhận bằng phƣơng tiện ngôn ngữ, đối với các sự vật hiện tƣợng của hiện thực này.
1.2. Nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam không chỉ
có giá trị khoa học mà còn mang

nghĩa chính trị và nhân văn sâu sắc. Trong quá trình

phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, ngôn ngữ và nhiều thành tố văn hóa khác của
các dân tộc thiểu số đang bị mai một và có nguy cơ biến mất. Trƣớc thực tế đó, Đảng
và Nhà nƣớc Việt Nam đã có những chính sách nhằm bảo tồn và phát triển ngôn ngữ
cũng nhƣ những nét bản sắc trong văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số.
Trong Nghị định 05/ 2011/ NĐ – CP, Đảng cộng sản Việt Nam đã đƣa ra nguyên tắc
cơ bản về hoạt động của công tác dân tộc là: “Đảm bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết,
bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp
của mỗi dân tộc” [35;1]. Khẳng định tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát triển
văn hóa các dân tộc thiểu số, Nghị định nêu rõ: “Hỗ trợ việc gìn giữ và phát triển chữ
viết của của các dân tộc có chữ viết. Các dân tộc thiểu số có trách nhiệm gìn giữ văn
hóa truyền thống tốt đẹp, tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình…” [35; 4].
1.3. Sán Dìu là dân tộc cƣ trú ở một số tỉnh miền núi trung du phía Bắc Việt
Nam, có số dân không lớn (146. 821 ngƣời, tính đến tháng 4/ 2009). Ngoài tên gọi Sán
Dìu, dân tộc này còn có tên gọi khác là Sán Déo, Trại, Trại Đất, Mán Quần Cộc…
Đây là một cộng đồng định cƣ ở Việt Nam đã hơn 300 năm. Theo các tài liệu đã có,
ngôn ngữ của ngƣời Sán Dìu thuộc chi Hán, nhánh Hán Nam, ngữ hệ Hán - Tạng
(Sino-Tibetan family). Tiếng nói của ngƣời Sán Dìu rất gần với tiếng Hán và chữ viết
cũng xuất phát từ chữ vuông gốc Hán (gọi là “Nôm Sán Dìu”). Mặc dù cộng đồng dân tộc
này sớm trở thành đối tƣợng nghiên cứu của các nhà dân tộc học, nhƣng các công trình
1


ngữ) chỉ chỉ ĐV (trừ ngƣời) và TV thực vật trong tiếng Sán Dìu, chỉ về mặt hình thức
2


cấu tạo và ngữ nghĩa (cơ sở định danh). Các từ ngữ thuộc các loại khác và các mặt
khác có liên quan ít nhiều đến các từ ngữ trên sẽ không đƣợc xem xét, chẳng hạn: các
từ ngữ chỉ động tác, tính chất; hoặc mặt ngữ dụng... của các từ ngữ này.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Các từ ngữ chỉ ĐVvà TV trong tiếng Sán Dìu đƣợc khảo sát tại địa phƣơng ngƣời
Sán Dìu ở các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang và Vĩnh Phúc. Đƣợc chú ý là các từ ngữ chỉ
ĐV và bộ phận cơ thể ĐV; TV và bộ phận TV, xét về phƣơng diện cấu tạo và ngữ nghĩa.
4. Phƣơng ph p nghiên cứu
4.1. Phương pháp ngôn ngữ học điền dã
Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để thu thập đƣợc những cứ liệu phong phú và
sinh động bằng cách nghe, ghi trực tiếp các từ ngữ trong sinh hoạt hàng ngày của
ngƣời Sán Dìu; với các thông tin viên là ngƣời Sán Dìu từ 55 tuổi đến 80 tuổi, chủ yếu
là nông dân. Đây thực tế là công việc khó khăn nhất trong thực hiện luận án, do đa số
ngƣời Sán Dìu không nhớ hoặc không biết đầy đủ tiếng mẹ đẻ của mình.
4.2. Phương pháp phân tích thành tố nghĩa
Phƣơng pháp này là cơ sở để phân tích các thành tố nghĩa trong các tên gọi ĐV
và TV, đặc biệt là thành tố nghĩa là cơ sở định danh, qua đó, tìm ra các phƣơng thức
định danh ĐVvà TV trong tiếng Sán Dìu.
4.2. Phương pháp miêu tả
Đây là phƣơng pháp chính để giải quyết các vấn đề của luận án. Từ dữ liệu tiếng
Sán Dìu đã thu thập, phƣơng pháp này giúp tiến hành phân tích các đặc điểm ngữ pháp và
ngữ nghĩa của các từ ngữ, tổng hợp và chỉ ra các quy luật chung.
Luận án chú trọng sử dụng thủ pháp thống kê - phân loại nhằm tìm ra quy luật
xuất hiện của các loại từ ngữ - các đơn vị định danh trong tiếng Sán Dìu, theo những
mục đích miêu tả, phân tích và đánh giá khác nhau, qua việc tính đếm số lƣợng và tỉ lệ
các kiểu loại từ ngữ này.

trong số các ngôn ngữ dân tộc thiểu số theo đƣờng lối chính sách chung của Đảng và
Nhà nƣớc Việt Nam.
Tác giả cũng mong muốn từ kết quả này có thể hƣớng tới một cuốn từ điển đối
dịch Việt - Sán Dìu; Sán Dìu - Việt.
7. Cơ cấu luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo và Phụ lục, luận án gồm 4 chƣơng:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lí thuyết
4


Chương 2: Đặc điểm các từ ngữ chỉ động vật trong tiếng Sán Dìu
Chương 3: Đặc điểm các từ ngữ chỉ thực vật trong tiếng Sán Dìu
Chương 4: Một số nét văn hóa tộc ngƣời qua các từ ngữ chỉ động vật và thực vật
trong tiếng Sán Dìu

5


Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Nghiên cứu về từ ngữ chỉ động vật và thực vật
1.1.1.1. Nghiên cứu về từ ngữ chỉ động vật và thực vật trong tiếng Việt
Lựa chọn các nhóm từ, lớp từ trong một ngôn ngữ để phân tích là hƣớng nghiên
cứu đƣợc nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm. Hƣớng nghiên cứu này thực chất là quá
trình vận dụng lí thuyết hệ thống - cấu trúc của F.de Saussure trong nghiên cứu ngôn
ngữ. Các từ ngữ chỉ động vật và thực vật thuộc từ vựng cơ bản trong mỗi ngôn ngữ.
Do đó, khi phân lập các vốn từ của một ngôn ngữ, nhóm từ ngữ chỉ động vật và thực
vật thƣờng đƣợc chú ý và tìm hiểu.
Nghiên cứu nhóm từ vựng cụ thể trong tiếng Việt có hai hƣớng cơ bản: i. khảo


Theo hƣớng nghiên cứu của Hoàng Trọng Canh, Nguyễn Thị Quỳnh Trang đã lựa
chọn khảo sát nhóm từ chỉ nghề cá phƣơng ngữ Nghệ Tĩnh. Với 570 từ chỉ nghề cá, tác
giả phân loại đƣợc 388 từ chỉ đối tƣợng đánh bắt cá và 182 từ chỉ phƣơng tiện, công cụ
đánh bắt, sản xuất, các quá trình hiện tƣợng liên quan. Từ kết quả thống kê phân loại,
tác giả phân tích đặc điểm cấu tạo và nguồn gốc thành phần các loại từ chỉ nghề cá
trong phƣơng ngữ Nghệ Tĩnh. Qua đó, tác giả đã chỉ ra sắc thái địa phƣơng Nghệ Tĩnh
ẩn sâu trong lớp từ này. Tác giả Trần Hoàng Anh cũng tiến hành khảo sát, phân tích
các từ chỉ nghề cá ở Đồng Tháp Mƣời từ góc độ định danh và bƣớc đầu chỉ ra đặc
điểm cấu tạo (chủ yếu là từ ghép phân nghĩa) và đặc điểm định danh – ngữ nghĩa
(mang tính cụ thể, tính loại biệt cao).
Khảo sát nhóm từ ngữ chỉ ĐVvà TV trong tác phẩm văn học là một hƣớng tiếp
cận đƣợc nhiều ngƣời quan tâm. Mở đầu cho hƣớng nghiên cứu này phải kể đến tác
giả Bùi Minh Toán [114]. Tác giả đã khảo sát 58 từ thuộc trƣờng từ vựng chỉ cỏ cây
trong truyện Kiều và phân loại thành 3 tiểu trƣờng: tiểu trƣờng tên gọi khái quát của cỏ
cây, tiểu trƣờng tên gọi cụ thể các loài cỏ cây và tiểu trƣờng tên gọi các bộ phận của cỏ
cây. Bằng những dẫn chứng cụ thể, tác giả đã chỉ ra rằng: “58 từ thuộc ba tiểu
trƣờng cỏ cây trong Truyện Kiều đã tạo nên các THTM với nhiều

nghĩa thẩm mỹ sâu

sắc, trong đó nổi bật là thể hiện những phƣơng diện khác nhau của con ngƣời, từ dáng
vẻ, cử chỉ bên ngoài, đến tuổi tác, vị thế và tâm lí tình cảm bên trong. Qua đó có thể
nhận thấy một đặc điểm trong cách tri nhận và cảm thụ của ngƣời Việt Nam: thông
qua cỏ cây để thể hiện con người, hay nhìn nhận con người như cỏ cây, là cỏ cây.
Điều này có sự thống nhất với tín hiệu cỏ cây ở nhiều lĩnh vực khác trong kho tàng văn
hóa dân tộc”. Nhƣ vậy, trong tác phẩm văn chƣơng, việc các tác giả sử dụng các từ
7



8


dân ca và tìm hiểu đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa để tìm ra giá trị nghĩa biểu
trƣng của lớp từ này. Ngô Thị Hợi đã khảo sát 12487 bài ca dao, trong đó có 2019 bài
ca dao nói về và cây và 925 bài nói về hoa. Theo số liệu thống kê, tác giả tìm đƣợc 140
tên gọi các loài cây và 72 tên gọi các loài hoa. Từ việc phân tích đặc điểm ngữ nghĩa
của lớp từ ngữ này tác giả đã khẳng định ngoài

nghĩa thực của từ chỉ cây và chỉ hoa,

nghĩa tƣợng trƣng. Cây là biểu tƣợng của

trong ca dao, lớp từ này còn mang nhiều

tình yêu, hạnh phúc, hôn nhân; cây tƣợng trƣng cho ngƣời phụ nữ; cây tƣợng trƣng
cho con ngƣời Việt Nam, cho làng quê Việt Nam. Còn hoa tƣợng trƣng cho ngƣời phụ
nữ, cho tình yêu hôn nhân và cho vẻ đẹp của con ngƣời nói chung. Đứng ở góc nhìn
mới, Nguyễn Thị Vân Anh [5] đã lí giải đặc trƣng văn hóa vùng miền qua một số tín
hiệu thẩm mĩ thuộc trƣờng TV trong ca dao Nam Trung Bộ. Với 47 tín hiệu thẩm mĩ
vốn đƣợc chuyển nghĩa từ tên gọi các loại thực vật, tác giả đã chỉ ra những tín hiệu thẩm
mĩ mang đặc trƣng riêng nhƣ: dừa, cau, dâu.
Khảo sát nhóm từ chỉ ĐVvà TV trong đồng dao ngƣời Việt, Lê Thị Thuận [135]
đã góp phần làm sáng tỏ dấu ấn văn hóa Việt một số phƣơng diện: i. phản ánh thế giới
động thực vật nhiều màu sắc ở nông thôn Việt Nam; ii. phản ánh nhiều hoạt động vui
chơi hội hè truyền thống vui nhộn; iii. Phản ánh thái độ và quan niệm sống của ngƣời
Việt. Nguyễn Thị Hoa Hiên [56] chú đến lớp từ ngữ chỉ tên gọi các loài cá, tôm trong
ca dao, tục ngữ. Tác giả đã chỉ ra giá trị biểu trƣng của lớp từ này qua các tác phẩm ca
dao, tục ngữ: cá, tôm biểu trƣng cho sức mạnh, cá, tôm biểu trƣng tình yêu, cá, tôm biểu
trƣng cho tính dục, cá, tôm biểu trƣng cho tính nam…. Cùng hƣớng nghiên cứu này có

ngữ âm, phần lớn các công trình nghiên cứu về từ vựng vẫn lấy lí thuyết trƣờng từ
vựng và các đơn vị cơ sở của nó nhƣ các nhóm từ, lớp từ làm cơ sở nghiên cứu. Có thể
dẫn ra một số công trình khảo sát, miêu tả hệ thống từ ngữ sau: công trình nghiên cứu
về ngôn ngữ dân tộc Ê đê của Phan Văn Phức [106]; công trình nghiên cứu về tiếng
Hrê của Tạ Văn Thông [131]; luận án nghiên cứu về hệ thống từ ngữ chỉ ngƣời trong
tiếng Êđê của tác giả Đoàn Thị Tâm [110]; công trình nghiên cứu về tiếng Thái của
tác giả Hà Thị Mai Thanh [115]. Bên cạnh đó, hiện nay, nghiên cứu ngôn ngữ dân
tộc thiểu số cũng đƣợc xem xét theo hƣớng liên ngành ngôn ngữ văn hóa mà cơ sở của
nó là dựa trên lí thuyết định danh. Theo hƣớng này, các tác giả chủ yếu lựa chọn nhóm
từ ngữ chỉ ĐV và TV trong vốn từ cơ bản của một ngôn ngữ là đối tƣợng nghiên cứu
(có so sánh với tiếng Việt). Tiêu biểu, có thể đến hai công trình của Sùng A Khứ, Lò
Thị Khoa. Tác giả Sùng A Khứ [73] đã khảo sát 367 từ chỉ ngữ chỉ TV trong tiếng
Mông, tiến hành phân tích đặc điểm định danh trƣờng từ vựng – ngữ nghĩa tên gọi TV
trong tiếng Mông trên các phƣơng diện: nguồn gốc tên gọi, cách thức biểu thị, mức độ

10


rõ lí do của tên gọi. Từ đó, bƣớc đầu chỉ ra những đặc trƣng văn hóa dân tộc trong ý
nghĩa của tên gọi TV trong tiếng Mông và đối sánh với tiếng Việt. Kết quả đã chỉ ra: i.
Về nguồn gốc tên gọi,“ lƣợng từ thuần trong tiếng Mông cao hơn so với tiếng Việt cho
thấy sự phạm trù hóa hiện thực khách quan của ngƣời Mông chi tiết hơn ngƣời Việt.
Ngƣợc lại, lƣợng từ vay mƣợn của ngƣời Việt cao hơn do nguồn gốc cây nhập ngoại của
ngƣời Việt nhiều hơn so với ngƣời Mông cho thấy hệ TV của ngƣời Việt phong phú hơn
của ngƣời Mông” [83;73]; ii. so với tiếng Việt,“ ngƣời Mông cũng đề cao đến đặc tính
bên trong của thực vật khi định danh, điều đó cho thấy đặc điểm tri nhận thế giới của
dân tộc Mông : tri nhận thế giới thông qua những đặc trƣng thuộc về bản thể” [84,73];
iii. “ngƣời Mông có xu hƣớng ƣa dùng hoán dụ cao hơn ngƣời Việt. Ngƣợc lại ngƣời
Việt lại sử dụng phƣơng pháp chuyển nghĩa ẩn dụ cao hơn ngƣời Mông. Nhƣ vậy, ngƣời
Mông thiên về lối tƣ duy cảm giác, hành động - trực quan, ngƣời Việt thiên về có đặc

trình của Nguyễn Văn Ái [1]. Đây là bài báo khoa học đăng trong chuyên khảo Tìm
hiểu ngôn ngữ các dân tộc (1972). Bài viết là kết quả của chuyến đi điền dã tại xã
Vĩnh Thực huyện Móng Cái, Quảng Ninh (của đoàn điều tra gồm 4 thành viên Vũ Bá
Hùng, Nguyễn Minh Đức, Nguyễn Khắc Toàn và Nguyễn Văn Ái). Những kết quả
bƣớc đầu từ ngữ liệu hơn 1.000 từ ngữ khảo sát đã giúp phân tích mô tả một cách khái
quát về hệ thống ngữ âm Sán Dìu. Theo kết quả này, tiếng Sán Dìu có 19 âm vị phụ
âm, 2 âm vị bán phụ âm, 10 âm vị nguyên âm đơn và 6 thanh điệu. Từ kết quả mô tả
phụ âm và nguyên âm, tác giả còn chỉ ra sự 5 kiểu kết hợp âm vị trong tiếng Sán Dìu.
Bao gồm: i. nguyên âm + thanh điệu (u “đen”, a “câm”, e hun “một nửa”); ii. nguyên
âm + phụ âm hoặc bán phụ âm + thanh điệu (im, in, it); iii. phụ âm + nguyên âm +
thanh điệu; iv. phụ âm + nguyên âm + phụ âm hoặc bán phụ âm + thanh điệu; ik. Phụ
âm âm tiết hóa η.
Có thể nói, công trình là sự mô tả bƣớc đầu mang tính khái quát về ngữ âm Sán
Dìu ở Vĩnh Thực (Quảng Ninh). Với dung lƣợng một bài báo khoa học, tác giả chƣa
thực sự đi sâu khai thác và lí giải một cách toàn diện ngữ âm của ngôn ngữ này. Hơn
thế, tƣ liệu tác giả khảo sát chỉ tập trung ở một vùng (xã Vĩnh Thực) nên chƣa thể mô
tả đƣợc toàn diện cho tiếng Sán Dìu ở Việt Nam và chƣa lí giải đƣợc hiện tƣợng
phƣơng ngữ trong ngôn ngữ này. Ngoài ra, khu vực các tác giả chọn để khảo sát chƣa
phải vùng cƣ trú điển hình của ngƣời Sán Dìu bởi Vĩnh Thực tại thời điểm khảo sát
(1972) có 2.442 ngƣời, trong đó, dân tộc Kinh chiếm 95%, 3 hộ ngƣời Hán và 45 hộ
ngƣời Sán Dìu.

12


Kế thừa và phát triển công trình của Nguyễn Văn Ái, Nguyễn Thị Kim Thoa đã
tìm hiểu về ngữ âm tiếng Sán Dìu một cách hệ thống và toàn diện trong một số nghiên
cứu của mình [126], [127], [130]. Trong đó, luận án tiến sĩ của tác giả là công trình
nghiên cứu chuyên sâu về ngữ âm tiếng Sán Dìu. Phạm vi khảo sát của luận án đƣợc
mở rộng ở nhiều vùng khác nhau: Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Thái Nguyên và Quảng


Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Kim Thoa còn bài báo khoa học bƣớc đầu khảo sát và
nghiên cứu về từ ghép, lời chào hỏi của ngƣời Sán Dìu. Tìm hiểu về từ ghép, Nguyễn
Thị Kim Thoa đã phân tích 2000 đơn vị từ vựng của tiếng Sán Dìu và chỉ ra rằng:
tiếng Sán Dìu cũng sử dụng phƣơng thức ghép trong cấu tạo từ nhƣ một số ngôn ngữ
khác. Phƣơng thức này tạo ra 2 kiểu từ ghép cơ bản là từ ghép đẳng lập và từ ghép
chính phụ. Trong đó, từ ghép đẳng lập là những từ có các thành tố cấu tạo bình đẳng nhau
về nghĩa (Ví dụ: mai1 mai6 – mua bán; siu6 lan1 – thối nát); từ ghép chính phụ là từ có các
thành tố cấu tạo phụ thuộc lẫn nhau về ý (thành tố chính và thành tố phụ), trong đó, thành
tố phụ có vai trò phân loại, chuyên biệt cho thành tố chính (Ví dụ: van1 lan1 – cơm nhão;
sai1 vo5ti5 – than củi), đặc biệt, trong cách tổ chức, vị trí của thành tố phụ có thể đứng
trƣớc hoặc đứng sau thành tố chính [128].
Nghiên cứu về lời chào hỏi của ngƣời Sán Dìu [129], tác giả tập trung miêu tả
trên các phƣơng diện: từ xƣng hô và hành vi chào hỏi của ngƣời Sán Dìu. Ở phƣơng
diện thứ nhất, tác giả tập trung khảo sát các đại từ xƣng hô trong tiếng Sán Dìu và hệ
thống các từ thân tộc đƣợc sử dụng nhƣ từ xƣng hô ở ngôi thứ hai. Kết quả khảo sát
cho thấy, các từ xƣng hô nhƣ noi1 (tôi, tao), ni1(mày), hi5(nó) đƣợc dùng rộng rãi
trong mọi mối quan hệ, từ gia đình đến xã hội, không phân biệt tuổi tác. Nhƣng trong
quá trình phát triển cộng đồng, ngƣời Sán Dìu đã đƣa hệ thống các từ chỉ quan hệ
thân tộc vào cách xƣng hô ngoài xã hội nhƣ: a1 kong1 (ông), tai1 ko1 (anh), man1 ku5
(chú)… Về hành vi chào hỏi, theo kết quả khảo sát của tác giả, ngƣời Sán Dìu không
có hành vi ngôn ngữ chào trực tiếp mà chỉ sử dụng hành vi hỏi để thực hiện nghi
thức chào. Do sử dụng hành vi hỏi để chào nên tùy vào từng ngữ cảnh cụ thể mà
ngƣời Sán Dìu có những câu chào hỏi khác nhau. Qua đó, tác giả cũng chỉ ra một số
đặc trƣng về ngôn ngữ cũng nhƣ văn hóa của dân tộc Sán Dìu thông qua lời chào hỏi:
thể hiện sự quan tâm, tình cảm gắn bó, tinh thần đoàn kết và tính cộng đồng. Có thể
nói, công trình chỉ là những khảo sát bƣớc đầu, chƣa có sự khảo sát chi tiết, cụ thể và
mang tính hệ thống về lời chào hỏi của ngƣời Sán Dìu. Do đó, theo chúng tôi, công
trình chƣa thật sự chỉ ra đƣợc những đặc trƣng ngôn ngữ - văn hóa cơ bản của tộc
ngƣời này. Tuy nhiên, sự đóng góp ban đầu này của tác giả cũng vô cùng quan trọng

tƣởng chúng ta nhƣ một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ, mặc dù
khái niệm này rất khó định nghĩa ”. Hay trƣờng phái ngôn ngữ học miêu tả Mĩ lại cực
đoan, coi nhẹ khái niệm từ khi cho rằng đơn vị cơ bản của ngôn ngữ là hình vị chứ
không phải từ. Theo họ, từ là đơn vị thuộc ngữ pháp.
Cho đến nay có tới trên 300 định nghĩa khác nhau về từ. Các định nghĩa cho thấy
việc miêu tả bản chất của từ và đƣa ra những nguyên tắc định nghĩa từ đƣợc nhìn nhận
theo 3 khuynh hƣớng: i. Từ chỉ đƣợc khảo sát theo một phần quan điểm của ngôn ngữ
15


học, còn việc giải quyết nó đƣợc chuyển sang các lĩnh vực lân cận nhƣ triết học, logic
học và tâm lí học… Tiêu biểu cho khuynh hƣớng này là các tác giả I.O.Reznikov,
E.M. Galkina Fedoruk …; ii. Từ đƣợc xác định theo một tiêu chí nào đó (thiên về ngữ
âm, hoặc thiên về ngữ nghĩa, hoặc thiên về chức năng…) hoặc xác định một cách
chung chung, không cụ thể. Tiêu biểu có các tác giả E. Sapir, K.Buhkler, Hans Glinz,
W. Schmidt, V.M. Zhirmunsky…; iii. Từ đƣợc khảo sát từ nhiều tiêu chí khác nhau,
nhƣng đặc biệt chú trọng tới những đặc điểm riêng của từ trong mỗi ngôn ngữ. Tiêu
biểu cho hƣớng nghiên cứu này là các tác giả O.P Xunik, N.M. Sansky…Theo khuynh
hƣớng này, từ đã đƣợc khảo sát một cách toàn diện và đầy đủ về các mặt ngữ âm, hình
thái, ngữ pháp, ngữ nghĩa… Có thể nói, khuynh hƣớng thứ ba này mở ra hƣớng nghiên
cứu từ một cách đúng đắn nhất và hiệu quả nhất bởi nghiên cứu từ từ nhiều phƣơng
diện sẽ giúp chúng ta nhận diện đƣợc đặc điểm chung các ngôn ngữ có cùng loại hình,
đồng thời cũng tìm đƣợc những đặc điểm riêng của từ trong mỗi ngôn ngữ. Do đó, một
trong những định nghĩa về từ đƣợc nhiều ngƣời chấp nhận và sử dụng hơn cả là:
Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ có khả năng hoạt động độc lập, tái
hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu.
Định nghĩa này tuy không phải là chiếc chìa khóa vạn năng dùng để nhận diện
chính xác tất cả các đơn vị gọi là từ trong mọi ngôn ngữ, nhƣng nó đã chỉ ra đƣợc
những đặc điểm cơ bản mà một đơn vị từ phải có. Đó là: đơn vị mang nghĩa nhỏ nhất;
có khả năng hoạt động độc lập; là đơn vị trực tiếp tham gia tạo câu.

Nguyễn Kim Thản lại dùng thuật ngữ từ tổ, Nguyễn Tài Cẩn, Mai Ngọc Chừ gọi là đoản
ngữ, Cao Xuân Hạo lại gọi là ngữ đoạn…
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học của Nguyễn Nhƣ Ý, "ngữ là sự
kết hợp hai hoặc nhiều thực từ (không hoặc có cùng với các hƣ từ có qua hệ với chúng
gắn bó về

nghĩa và ngữ pháp), diễn đạt một khái niệm thống nhất, và là tên gọi phức

tạp biểu thị các hiện tƣợng của thực tại khách quan" [159; 176].
Định nghĩa về đơn vị phrase, tác giả I.S. Bystrov, Nguyễn Tài Cẩn và N.V.
Stankievic cho rằng: Có thể hình dung nhóm từ ngữ (ngữ) là một tổ hợp nhất định, các
vị trí bao gồm vị trí hạt nhân và các vị trí phụ thuộc, những vị trí phụ thuộc này phân
bố về phía phải và phía trái hạt nhân [dt 110; 20].
Nhƣ vậy, qua các định nghĩa, ta thấy ngữ là một tổ hợp từ có quan hệ nhất định
với nhau và có những đặc điểm sau:
i. Về cấu tạo: Ngữ là một kết hợp cú pháp đƣợc tạo thành bởi hai hay nhiều từ
trên cơ sở liên hệ ngữ pháp phụ thuộc – theo quan hệ phù hợp, chi phối hay liên hợp.
Trong một số ngữ có từ đóng vai trò chủ yếu về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp, gọi là
thành tố chính hay thành tố trung tâm, các từ phụ thuộc vào thành tố chính gọi là các
thành tố phụ. Thành tố chính của ngữ có thể là danh từ (tạo nên ngữ danh từ), động từ
(tạo nên ngữ động từ), tính từ (tạo nên ngữ tính từ).
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status