BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
--------------
NGUYỄN THỊ BẢO
NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ CHỈ ĐỘNG VẬT TRONG
THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT
(So sánh với thành ngữ tiếng Anh)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC NGÔN NGỮ
MÃ SỐ: 5 . 12 . 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. HOÀNG DŨNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2003
1
MỤC LỤC
MỤC LỤC ....................................................................................... 2
MỞ ĐẦU ......................................................................................... 4
0.1. Lý do chọn đề tài ................................................................................... 4
0.2. Lòch sử vấn đề nghiên cứu.................................................................... 4
0.3. Đối tượng và phạm vi của luận văn ..................................................... 7
0.4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 8
0.5. Tư liệu nghiên cứu................................................................................. 8
0.6. Đóng góp của luận văn ......................................................................... 9
0.7. Bố cục luận văn ................................................................................... 10
3
MỞ ĐẦU
0.1. Lý do chọn đề tài
Mỗi ngôn ngữ, thông qua ngôn từ có những cấu trúc tạo nghóa khác
nhau. Những cấu trúc này thể hiện tư duy văn hoá dân tộc, tâm lý, trí thông
minh và sự tài hoa của người bản ngữ. Thành ngữ là một trong những cấu trúc
tạo nghóa ấy. Thành ngữ không chỉ có tác dụng làm cho lời văn hay, hình
tượng đẹp mà còn có tác dụng diễn tả ý tưởng một cách sâu sắc, tế nhò, hàm
súc. Đặc biệt là thành ngữ có thành tố chỉ động vật.
0.2. Lòch sử vấn đề nghiên cứu
Do vò trí quan trọng trong kho từ vựng của một ngôn ngữ, thành ngữ đã
thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu. Thành ngữ không chỉ là đối
tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học mà còn là đối tượng nghiên cứu của các
ngành khoa học xã hội và nhân văn khác.
Việc sử dụng thành tố chỉ động vật trong các kết cấu thành ngữ thể
hiện nét độc đáo của nhân dân lao động, phản ánh tâm lý - văn hoá một dân
tộc, góp phần tạo nên tính dò biệt trong cách diễn đạt bằng ngôn từ, trong cách
nhìn, cách nghó của mỗi dân tộc đối với hiện thực khách quan. Cùng chỉ một
khái niệm, một hiện tượng, một trạng thái tình cảm nhưng mỗi dân tộc sử
dụng những yếu tố động vật khác nhau để diễn đạt. Những yếu tố chỉ động
vật này thể hiện nét ngữ nghóa - văn hoá của từng dân tộc và thường được gọi
là thành tố văn hoá. Thí dụ, để chỉ chuyện ăn nhiều, người Việt Nam dùng
hình ảnh con cọp, con trâu, con rồng (ăn như hùm đổ đó, ăn như trâu, ăn như
rồng cuốn…), người Anh lại dùng hình ảnh con ngựa (eat like a horse). Còn khi
chỉ chuyện ăn ít, người Anh dùng hình ảnh con chim (eat like a bird), người
4
Một vài nhận xét về thành ngữ so sánh có tên gọi động vật tiếng Việt
(Nguyễn Thúy Khanh, Ngôn ngữ, số 3, 1994).
Các con vật và một số đặc trưng của chúng được cảm nhận từ góc độ dân
gian và khai thác để đưa vào kho tàng thành ngữ tiếng Việt (Phan Văn Quế,
Ngôn ngữ, số 4, 1995).
Chú chuột trong kho thành ngữ, tục ngữ, ca dao tiếng Việt (Phương Trang,
Ngôn ngữ và đời sống, số 1, 1996).
Trường nghóa của một thực từ ( Dương Kỳ Đức, Ngữ học trẻ, 1996).
Mối quan hệ giữa văn hoá và ngôn ngữ qua hình ảnh trâu bò trong thành
ngữ Việt – Nga – Anh (Huỳnh Công Minh Hùng, Hội thảo ngôn ngữ và văn
hóa, Hà Nội, 2000).
Hình ảnh gấu trong thành ngữ (trên cứ liệu tiếng Việt-Nga-Anh-Pháp và
một số tiếng Châu Âu khác) (Huỳnh Công Minh Hùng, T/c Khoa học
ĐHSP-TP.HCM, số 24, 2000).
Ngựa trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (Phong Hoá, Ngôn ngữ và đời
sống, số 1+2, 2002)
…………
Về tiếng Anh, công trình nghiên cứu thành ngữ có thành tố chỉ động vật
trong tiếng Anh tại Việt Nam được xem là tương đối bao quát nhất cho đến
bây giờ có lẽ là luận án phó tiến só của Phan Văn Quế: Ngữ nghóa của thành
ngữ – tục ngữ có thành tố chỉ động vật trong tiếng Anh (trong sự so sánh đối
chiếu với tiếng Việt) [86]. Luận án này đã đề cập đến thành tố chỉ động vật
trong thành ngữ tiếng Việt khi phân tích bình diện ngữ nghóa và so sánh, đối
chiếu sự khác biệt về nghóa giữa thành tố chỉ động vật trong thành ngữ - tục
6
ngữ tiếng Anh và tiếng Việt nhưng không vì mục đích nghiên cứu nó mà chỉ
thôi.
0.4. Phương pháp nghiên cứu
Do tính chất và nhiệm vụ khoa học của đề tài, chúng tôi sử dụng tổng
hợp nhiều phương pháp như:
Phương pháp thống kê, nhằm thống kê tất cả những thành ngữ có chứa từ
ngữ chỉ động vật, từ ngữ chỉ bộ phận động vật, thành ngữ so sánh có thành
tố chỉ động vật, thành ngữ chứa nhiều hơn một thành tố chỉ động vật trong
tiếng Việt và tiếng Anh. Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng phương pháp này
để thống kê tất cả những nghóa có thể có ở mỗi thành tố chỉ động vật.
Phương pháp phân tích, để phân tích những đặc trưng ngữ nghóa có thể có
của những từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ.
Phương pháp đối chiếu cũng được sử dụng để so sánh đối chiếu ngữ nghóa
của thành ngữ có thành tố động vật trong hai ngôn ngữ Việt – Anh. Qua
việc so sánh đối chiếu này, những nét tương đồng và dò biệt về ngôn ngữ –
văn hoá – xã hội giữa hai ngôn ngữ sẽ được nhìn thấy một cách rõ ràng.
Cả ba phương pháp kể trên đều có tầm quan trọng như nhau và được
vận dụng kết hợp xuyên suốt luận văn.
0.5. Tư liệu nghiên cứu
Một trong những nhiệm vụ của luận văn là nhằm thống kê càng nhiều càng
tốt những thành ngữ có thành tố chỉ động vật trong tiếng Việt, nên chúng tôi cố
chọn lựa một số tài liệu tiêu biểu về thành ngữ làm cơ sở cho mọi sự tập hợp và
đối chiếu khác. Tài liệu mà chúng tôi chọn là: Thành ngữ – tục ngữ Việt Nam do
8
Bùi Hạnh Cẩn, Bích Hằng, Việt Anh biên soạn; Từ điển thành ngữ và tục ngữ
Việt Nam của Vũ Dung, Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào; Từ điển thành ngữ Việt
ngữ động vật tiếng Việt và của Phan Văn Quế là 368 đơn vò gồm cả thành ngữ
và tục ngữ động vật tiếng Anh (dẫn theo Phan Văn Quế [86]). Trên cơ sở đó,
kết quả nghiên cứu sẽ bao quát hơn, phục vụ tốt cho việc học tập, giảng dạy
và sử dụng thành ngữ. Đề tài còn giúp chúng ta hiểu biết thêm về cái chung
và cái riêng của hai nền văn hoá Việt – Anh trên cơ sở đối chiếu thành ngữ có
chứa thành tố động vật ở hai ngôn ngữ, hỗ trợ đắc lực cho việc dạy và dòch
tiếng Anh.
0.7. Bố cục luận văn
Tuy chỉ nghiên cứu một bộ phận của thành ngữ tiếng Việt, nhưng để tạo
cơ sở cho việc đi sâu nghiên cứu những vấn đề mà nội dung luận văn yêu cầu,
chúng tôi vẫn phải bắt đầu từ việc tìm hiểu thành ngữ nói chung, sau đó mới
đi vào từng khía cạnh của đề tài. Nội dung đầu tiên cung cấp cái nhìn tổng
quan về thành ngữ có thành tố động vật trong tiếng Việt và tiếng Anh
(chương một). Phần chủ yếu của luận văn nằm ở chương hai: khảo sát ngữ
nghóa của từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt. Ở chương này,
ngoài việc thống kê, luận văn tiến hành miêu tả ngữ nghóa văn hoá một số
từ ngữ chỉ động vật có tần số xuất hiện cao trong thành ngữ tiếng Việt, miêu
tả ngữ nghóa các từ chỉ bộ phận động vật, phân tích mối quan hệ giữa các
thành tố động vật trong một thành ngữ. Đồng thời luận văn cũng dành một
phần thích đáng để trình bày về thành ngữ so sánh chứa thành tố động vật.
Luận văn cũng chú ý đến việc so sánh đối chiếu với thành ngữ tiếng Anh
trên cơ sở những số liệu thu thập được.
Ngoài 87 trang chính văn, 12 trang danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn dành 132 trang cho 6 phụ lục .
10
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ THÀNH NGỮ CÓ
thành ngữ và tục ngữ. Chẳng hạn như Trương Đông San, ông gọi chung thành
ngữ và tục ngữ là ngữ vò. Theo ông “ngữ vò là đơn vò ngôn ngữ trên cấp độ từ
vò gồm hai từ vò trở lên được tái hiện trong lời nói dưới dạng có sẵn, cố đònh
về hình thức và nội dung” [105].
Ý kiến đầu tiên đáng chú ý về sự khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ
là của Dương Quảng Hàm [10]. Ông viết: “Một câu tục ngữ tự nó phải có một
ý nghóa đầy đủ, hoặc khuyên răn hoặc chỉ bảo điều gì; còn thành ngữ chỉ là
những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc tả một trạng
thái gì cho màu mè”. Còn theo Vũ Ngọc Phan thì: “Tục ngữ là một câu tự nó
diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công
lý, có khi là một sự phê phán. Còn thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là
một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không
diễn đạt được một ý trọn vẹn” [110]. Nguyễn Văn Mệnh trong bài Ranh giới
giữa thành ngữ và tục ngữ [59] cho rằng “có thể nói nội dung của thành ngữ
mang tính chất hiện tượng, còn nội dung của tục ngữ nói chung mang tính chất
quy luật. Từ sự khác nhau cơ bản về nội dung dẫn đến sự khác nhau về hình
thức ngữ pháp, về năng lực hoạt động trong chuỗi lời nói… Về hình thức ngữ
pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh. Tục
ngữ thì khác hẳn. Mỗi tục ngữ tối thiểu là một câu”. Cù Đình Tú cho rằng ý
kiến của Nguyễn Văn Mệnh chưa thật xác đáng vì theo ông: “Thành ngữ là
một hiện tượng ngôn ngữ. Tục ngữ cũng là một hiện tượng ngôn ngữ. Giải
quyết các hiện tượng ngôn ngữ phải căn cứ ngôn ngữ học”. Giáo sư cho rằng
sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là sự khác nhau về chức năng:
“Thành ngữ là những đơn vò có sẵn mang chức năng đònh danh… là những đơn
vò tương đương như từ… Tục ngữ cũng như các sáng tạo khác của dân gian như
ca dao, truyện cổ tích, đều là những thông báo… Nó thông báo một nhận đònh,
12
tuệ của quần chúng, đều từ sự khái quát hiện thực để rút ra bản chất, quy luật.
Chúng ta có thể rút ra một số nét khu biệt giữa thành ngữ và tục ngữ
như sau:
Về mặt ý nghóa:
Thành ngữ miêu tả một sự vật, một hoạt động, một tính chất hay
một trạng thái. Chẳng hạn: cao như sếu; nói hươu nói vượn; lờ đờ như gà ban
hôm... Ngược lại, tục ngữ đúc kết một kinh nghiệm, một quy luật, một chân
lý của cuộc sống, hoặc nêu lên một bài học ở đời. Thí dụ: gần mực thì đen,
gần đèn thì sáng; ở hiền gặp lành; thuốc đắng dã tật; nồi nào vung ấy; một con
sâu làm rầu nồi canh; ăn ít no lâu, cày sâu tốt lúa;…
Nội dung của thành ngữ thường thiên về việc thể hiện những cái có
tính chất ngẫu nhiên và riêng lẻ. Còn nội dung của tục ngữ lại thể hiện
những cái có tính bản chất, khái quát, mang tính tất yếu, quy luật.
Về mặt ngữ pháp:
Mỗi thành ngữ, nhìn chung, chỉ là một ngữ, chưa phải là một câu hoàn
chỉnh vì thành ngữ chỉ nhằm nêu lên một hình ảnh, một hiện tượng, chẳng hạn
như: mèo mả gà đồng; dốt đặc cán mai; đánh rắn giữa khúc… Ngược lại, tục
ngữ là một câu hoàn chỉnh, là một thông báo trọn vẹn, một kết luận cụ thể,
một nhận đònh chắc chắn, một bài học kinh nghiệm. Thí dụ: Con không chê
cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo,...
Phần lớn thành ngữ tiếng Việt có kết cấu một trung tâm, thường là
những thành ngữ dạng so sánh: chậm như rùa, lừ đừ như ông từ vào đền, nhớn
nhác như gà phải cáo, lúng túng như gà mắc tóc, cao như sếu… Một bộ phận
14
nhỏ các thành ngữ có kết cấu hai trung tâm: nước đổ đầu vòt, ếch ngồi đáy
giếng… Tuy nhiên những thành ngữ này cũng chỉ là một phần của câu, vẫn
dùng để gọi hành động, tính chất sự vật. Thí dụ: nước đổ đầu vòt “phí công,
trong cách vận dụng hai loại đơn vò này trong giao tiếp. Một thành ngữ không
thể độc lập tạo thành câu. Trái lại, một tục ngữ hoàn toàn có thể có khả năng
đó. Rõ ràng là giữa thành ngữ và tục ngữ có một đường ranh giới thực tế. Tuy
nhiên ranh giới này không phải là ngăn cách tuyệt đối, không phải là đường
kẻ thẳng băng. Chính vì vậy mà có những đơn vò được tác giả này cho là
thành ngữ, tác giả khác lại cho là tục ngữ. Chẳng hạn kiến tha lâu cũng đầy tổ
được rất nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học xếp vào tục ngữ, trong đó có
Phạm Văn Bình, tác giả của cuốn Tục ngữ Việt Nam [76], chó treo mèo đậy
được Hoàng Diệu Minh cho là tục ngữ [13], vắng chúa nhà gà vọc niêu cơm
theo Phan Văn Quế là tục ngữ [86]. Nhưng Nguyễn Như Ý lại đưa tất cả các
câu trên vào trong cuốn Từ điển thành ngữ tiếng Việt phổ thông [43], v.v..
1.2. Thành tố chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt
Thành ngữ chứa thành tố chỉ động vật (thành ngữ động vật) được hiểu
là những thành ngữ mà trong thành phần của chúng có những từ ngữ chỉ con
vật, thí dụ cao như sếu; lẩn như chạch; ăn như mèo; chuột chạy cùng sào.
Những từ ngữ này được chúng tôi gọi là “thành tố chỉ động vật” (sếu, chạch,
mèo, chuột). Qua tìm hiểu các từ điển thành ngữ, các bài báo, bài nghiên cứu
thành ngữ, chúng tôi thấy số lượng thành ngữ động vật tiếng Việt ở các tài
liệu khác nhau là rất khác nhau. Nhưng điều chắc chắn là loại thành ngữ này
chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong toàn bộ vốn thành ngữ tiếng Việt.
16
Theo kết quả thống kê được miêu tả trong luận án thạc só của Trònh
Cẩm Lan [102], mức độ sử dụng các thành tố động vật trong thành ngữ tiếng
Việt theo thứ tự như sau: chim (157, kể cả các loài chim cụ thể), cá (113, kể
cả các loài cá cụ thể), chó (110), gà (79), bò (40), chuột (37), ngựa (30), mèo
(23), ong (11), ruồi (9), lợn (8), khỉ (6), vòt (5), sói (2), sư tử (2), thỏ (2)… (Trònh
Nai, nắc nẻ, nghêu (sò), ngỗng, ngựa, nhái, nhện, nhộng, nòng nọc
Ong, ốc
Rái, rắn, rận, rết, rồng, rùa, ruồi (nhặng), rươi
Sâu, sên, sóc, sói, sư tử, sứa
Tằm, tê giác, tép, thằn lằn, thần trùng, thiêu thân, thỏ, thuồng luồng, tò vò,
tôm, trai, trâu
Ve, vích, vòt, voi, vờ, vượn.
Tần số xuất hiện của các thành tố động vật trong thành ngữ tiếng Việt
như sau. Chim và các loại chim xuất hiện nhiều nhất với hơn 232 thành ngữ.
Thứ hai là cá và các loại cá: 149. Tiếp theo là chó: 149; trâu: 123; gà: 113;
mèo: 61; bò: 73; voi: 61; ngựa: 58; cọp: 55; chuột: 47; rắn: 33; lợn: 28; cóc:
25; cua: 28; vòt: 26; rồng: 23; ong: 21; ếch, nhái, ễnh ương: 31; ruồi: 18;
kiến: 14; tôm: 17; cáo: 12; hươu: 12; ốc: 12; khỉ: 12; tằm: 15; dê: 10; lươn: 9;
thỏ: 10; đom đóm: 9; rận: 9; rươi: 8; đỉa: 9; chuồn chuồn: 8; dơi: 7; chạch: 8;
ngỗng: 6; chấy: 7, cáy: 6, muỗi: 6; sói: 11; châu chấu: 4; nai: 3; gấu: 5; ve: 6;
vích: 4; sâu: 3 …
So với số liệu thống kê của Trònh Cẩm Lan và Phan Văn Quế, kết quả
thống kê của chúng tôi có số lượng thành ngữ và thành tố động vật chứa trong
các thành ngữ lớn hơn nhiều. Có lẽ do nguồn tài liệu dựa vào khác nhau,
phương pháp thống kê cũng như quan điểm phân đònh thành ngữ – tục ngữ
18
khác nhau. Có một điều lý thú là dù kết quả khá khác biệt về tần số xuất hiện
của các thành tố động vật, nhưng những thành tố có tần số xuất hiện cao ở ba
kết quả thống kê khá giống nhau. Những thành tố đó là: chim, chó, cá, gà, lợn,
trâu, bò, voi, mèo, chuột, ngựa, … Hãy xem bảng đối chiếu kết quả dưới đây
của ba tác giả:
TRỊNH CẨM LAN
113
Cá
68
Cá
149
Chó
110
Chó
123
Chó
149
Trâu
54
Trâu
123
61
Mèo
23
Mèo
52
Mèo
61
Ngựa
30
Ngựa
49
Ngựa
58
Cọp
51
(bò cái), crocodile (cá sấu), crow (quạ)
Dog (chó), donkey (lừa), dove/pigeon (bồ câu), duck/drake (vòt), duckling
(vòt con)
Eagle (đại bàng), eel (lươn), elephant (voi)
Fish (cá), flea (bọ chét), fly (ruồi), fox (cáo)
Goat (dê), goose (ngỗng)
Hare (thỏ rừng), hawk (diều hâu), hen (gà mái), herring (cá trích), horse
(ngựa)
Jackdaw (quạ xám), kitten (mèo con)
Lamb (cừu non), lark (sơn ca), leech (đỉa), leopard (báo), lion (sư tử),
lobster (tôm)
Mackerel (cá thu), mare (ngựa cái), magpie (chim ác là), monkey (khỉ),
mouse/rat (chuột), mule (la)
Owl (cú), ox (bò thiến), oyster (sò, hàu)
Parrot (vẹt), peacock (công), pig (lợn)
Rabbit (thỏ)
20
Sardine (cá mòi), sheep (cừu), snail (sên), snake/serpent (rắn), sprat (cá
trích cơm), stag (nai đực, hươu đực), swallow (én), swan (thiên nga).
Tiger (hổ), toad (cóc), turkey (gà tây)
Vixen (chồn cái), whale (cá voi), wolf (chó sói), worm (giun, sâu).
Những thành tố động vật có tần số xuất hiện nhiều nhất:
Dog (chó): 64; bird (crow (jackdaw), dove (pigeon), eagle, hawk, lark,
magpie, owl, parrot, peacock) (chim và các loại chim): 58; fish (herring,
mackerel, sardin, sprat, whale) (cá và các loại cá): 46; horse, mare (ngựa,
ngựa cái): 36; cat, kitten (mèo): 37; bull, ox, cow, calf (bò các loại bò): 24;
cock, chicken, hen (gà các loại): 24; sheep, ram (cừu): 13; pig (lợn): 15;
Én, nhạn (swallow)
Gà con (chicken), gà mái (hen), gà trống (cock), gấu (bear), giun (worm).
Hàu (sò) (oyster)
Kiến (ant), khỉ (monkey)
Lợn (pig), lươn (eel)
Mèo (cat)
Ngỗng (goose)
Ong (bee)
Quạ (crow, jassdow)
Rắn (snake), ruồi (fly)
Sâu (worm), sên (snail), sư tử (lion)
Tôm (lobster)
Vẹt (parrot), vòt (duck), voi (elephant)
22
Có 46 tên con vật cùng xuất hiện trong cả hai thành ngữ Việt – Anh, nhiều
hơn so với 33 con vật theo thống kê của Phan Văn Quế [86].
1.4.2. Các thành tố động vật chỉ có trong thành ngữ tiếng Việt
Ba ba, bò, bò cạp, bọ, bọ chó, bọ mạt, bọ ngựa, bọ xít
Cá chép, cá chuối, cá diếc, cá đối, cá gáy, cá nghê, cá mè, cá rô, cá thia,
cá chày, cá lóc, cá trôi, cá vàng, cá lăng, cá vược, cá ngão, cá trê, cá nheo,
cá lòng tong, cá săn sắt, cá cháy, cá bống, chi chi, cá mại, cá thờn bơn, cá
trắm
Cà cuống, cáy, chạch, châu chấu, chấy, chẫu chàng
Chim bìm bòp, bồ nông, chào mào, chèo bẻo, chim chích, cò, chim cuốc, dẽ,
giẻ cùi, hạc, hét, chim két, khướu, loan, ó, oanh, phượng, sáo, sẻ, sếu, vạc,
yến
Chuồn chuồn, cóc, cốc, cua, cun cút
Rabbit (thỏ nhà)
Sardine (cá mòi), sheep / ram (cừu), sprat (cá trích cơm), swan (thiên nga)
Turkey (gà tây)
Vixen (chồn cái)
24 con vật chỉ có trong thành ngữ tiếng Anh, không thấy xuất hiện
trong thành ngữ tiếng Việt (theo thống kê của Phan Văn Quế, có 31 con vật
(cả thành ngữ và tục ngữ)) [86].
1.4.4. Một số nhận xét từ phần trình bày trên
1.4.4.1. Các loài chim, cá, côn trùng, sâu bọ xuất hiện trong thành ngữ tiếng
Việt nhiều hơn so với trong tiếng Anh. Cụ thể:
Trong thành ngữ tiếng Anh chỉ có 6 loại cá và đa số là cá biển: cá trích
(herring), cá cơm (sprat), cá thu (markerel), cá mòi (sardine), cá voi (whale).
24
Trong tiếng Việt thì tình hình hoàn toàn ngược lại: có rất nhiều loại cá xuất
hiện, hầu hết là cá nước ngọt với hơn 29 loại khác nhau.
Dưới đây là bảng liệt kê các loài cá xuất hiện trong thành ngữ và môi
trường nước của chúng (việc xác đònh môi trường nước dựa vào Từ điển tiếng
Việt do Hoàng Phê chủ biên, 1997)[14]:
TT
TÊN CÁ
T.VIỆT
T. ANH
MÔI TRƯỜNG
4
cá chép
+
–
nước ngọt
5
chi chi
+
–
nước ngọt
6
cá chuối
+
–
nước ngọt
+
+
biển
10
cá kình/ cá
voi
11
cá lăng
+
–
nước ngọt
12
cá lòng tong
+
–
nước ngọt
16
cá mòi
+
+
biển
17
cá ngão
+
–
nước ngọt
18
cá nghê
+
–
biển