ĐỖ ĐỨC TRỊNH
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
LUẬT KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI
CAO TUỔI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG,
TỈNH NAM ĐỊNH
ĐỖ ĐỨC TRỊNH
2017 - 2019
HÀ NỘI – 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
ĐỖ ĐỨC TRỊNH
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107
Hà Nội, ngày …… tháng ….. năm 2019
Tác giả luận văn
(Ký và ghi rõ họ tên)
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài............................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài .........................................................................................3
2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước ..............................................................................3
2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài..........................................................................8
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..............................................................................9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...............................................................................9
5. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................... 10
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài ......................................................10
7. Kết cấu Luận văn .......................................................................................................10
CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN
HÀNH VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI CAO TUỔI ........................... 11
1.1. Một số vấn đề lý luận về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ........................... 11
1.1.1. Các khái niệm liên quan ......................................................................................11
1.1.2. Đặc điểm của trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ..........................................15
1.1.3. Nguyên tắc trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi..............................................22
1.1.4. Ý nghĩa của việc thực hiện trợ giúp đối với người cao tuổi ................................ 23
1.2. Pháp luật Việt Nam hiện hành về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ..............26
1.2.1. Chế độ trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ....................................................26
1.2.1.1. Chế độ trợ giúp thường xuyên ..........................................................................26
1.2.1.2. Chế độ trợ giúp đột xuất ...................................................................................34
1.2.2. Hồ sơ, thủ tục đề nghị hưởng và giải quyết chế độ trợ giúp xã hội đối với người
cao tuổi .......................................................................................................................... 36
1.2.3. Nguồn tài chính thực hiện chế độ trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi...........40
ĐỐI VỚI NGƢỜI CAO TUỔI TẠI HUYỆN XUÂN TRƢỜNG, TỈNH NAM
ĐỊNH ............................................................................................................................. 70
3.2. Định hưỡng hoàn thiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi .........70
3.1.1. Bám sát mục tiêu, định hướng trợ giúp đến năm 2020 .......................................70
3.1.2. Trợ giúp đối với người cao tuổi phải dựa trên cơ sở quyền con người, quyền
công dân nói chung và quyền của người cao tuổi nói riêng ..........................................71
3.1.3. Trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi phải đảm bảo tính toàn diện ..................72
3.1.4. Trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi phải đảm bảo yếu tố bình đẳng giữa các
đối tượng người cao tuổi ............................................................................................... 73
3.1.5. Trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi phải bám sát định mức bảo đảm ...........74
3.1.6. Đảm bảo tính sự quản lý của nhà nước về chính sách trợ giúp xã hội đối với
người cao tuổi ................................................................................................................74
3.1.7. Phải đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống văn bản pháp luật về trợ
giúp xã hội đối với người cao tuổi.................................................................................74
ii
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về trợ giúp đối với người cao tuổi ........................75
3.2.1. Sửa đổi, bổ sung các quy định về chế độ trợ giúp thường xuyên ........................76
3.2.2. Sửa đổi, bổ sung các quy định về chế độ trợ giúp đột xuất .................................81
3.2.3. Sửa đổi, bổ sung các quy định về hồ sơ, thư tục đề nghị hưởng và giải quyết
hưởng chế độ trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ....................................................82
3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trợ giúp đối với người cao
tuổi tại huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định ................................................................ 83
KẾT LUẬN ..................................................................................................................89
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................... 90
iii
2017 cho thấy dân số từ 60 tuổi trở lên ở Việt Nam là 10,6% tổng số dân. Tỷ lệ này dự
kiến là 11,24% vào năm 2020 và sẽ tăng lên tới 28,5% vào năm 2050 (Ủy ban dân số,
gia đình và trẻ em, Dự báo dân số, gia đình và trẻ em đến năm 2025, Hà Nội,6/2006)
thuộc vào mức cao trong khối ASEAN sau Singapore (39,8%), Thái Lan (29,8%)
(Liên Hợp Quốc, Báo cáo triển vọng dân số thế giới phiên bản 2006). Nếu như các nền
kinh tế phát triển mất vài thập kỉ, thậm chí hàng thế kỉ để chuyển từ giai đoạn già hóa
dân số (nhóm 60+ tuổi chiếm 10%) sang giai đoạn dân số già (nhóm dân số 60+ tuổi
chiếm 20%) như Australia 73 năm, Hoa Kỳ 69 năm, Canada 65 năm,… thì Việt Nam
chỉ mất 22 năm. Dự báo đến năm 2030, tỷ trọng người cao tuổi Việt Nam chiếm 17%
(khoảng 19 triệu người) và sẽ nâng lên 25% (khoảng 28 triệu người) vào năm 2050
(70% số người cao tuổi ở Việt Nam không nhận được trợ cấp) [42]. Việt Nam sẽ phải
đối diện với nhiều thách thức khi tốc độ già hóa dân số nhanh hơn so với sức tăng
1
trưởng của nguồn lực xã hội. Tỷ lệ dân số cao tuổi càng lớn thì vấn đề trợ giúp xã hội
đối với người cao tuổi ngày càng cấp thiết. Chế độ, chính sách đối với người cao tuổi
luôn là vấn đề được Đảng, Nhà nước ta chú ý, quan tâm. Với sự quan tâm của Đảng,
Nhà nước thì hàng loạt các luật, chính sách đã được thông qua và thực hiện nhằm đảm
bảo chế độ xã hội đối với người cao tuổi như Luật Người cao tuổi năm 2009, Nghị
định 136/2013/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ
xã hội,... Chế độ trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ở nước ta đã có nhiều tiến bộ
song vẫn còn nhiều hạn chế.
Bên cạnh đó xuất phát từ đặc điểm của người cao tuổi có thể thấy rằng họ
thuộc nhóm yếu thế trong xã hội, cuộc sống của một bộ phận trong số họ phải đối mặt
với nhiều rủi ro. Hiện tượng người cao tuổi phải lao động nặng nhọc, bị ngược đãi hay
lang thang còn nhiều. Mặt khác, xã hội Việt Nam hiện đại vẫn chưa đánh giá đúng vị
thế, vai trò của người cao tuổi dẫn đến việc họ bị phân biệt đối xử. Truyền thống hiếu
kính với người cao tuổi có xu hướng giảm sút…
“Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn huyện Xuân Trường,
tỉnh Nam Định” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việt Nam là một nước đang phát triển, số người cao tuổi đang có xu hướng
tăng nhanh, điều này đồng nghĩa với việc chúng ta đã bước qua thời kỳ dân số vàng và
đang đối mặt với vấn đề già hóa dân số. Vì vậy, thời gian gần đây người cao tuổi đã
trở thành đối tượng thu hút sự chú ý của nhiều công trình nghiên cứu và sự quan tâm
của toàn xã hội.
Có rất nhiều góc độ tiếp cận đối với vấn đề người cao tuổi như dưới góc độ y
học, luật học, tâm lý học… Mỗi góc độ có trọng tâm nghiên cứu khác nhau phù hợp
với đặc trưng của từng góc độ tiếp cận. Ví dụ: dưới góc độ y học sẽ tập trung ở khía
cạnh sức khỏe cũng như tâm, sinh lý của người cao tuổi. Dưới góc độ luật học sẽ tiếp
cận các vấn đề về người cao tuổi thông qua quy định và thực hiện các văn bản quy
phạm pháp luật, thông tư, chính sách riêng cho người cao tuổi.
2.1 Tình hình nghiên cứu trong nƣớc
Ở nước ta đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về người cao tuổi, góp phần
giúp cho mọi người có được những hiểu biết về cuộc sống của người cao tuổi cũng
3
như các vấn đề họ gặp phải từ đó có các chính sách hợp lí đối với họ. Có thể kể đến
một số nghiên cứu mà tác giả tiếp cận được như:
Bài viết “Vấn đề về người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Lê Văn
Khảm, đăng trên tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam - 2014. Bài viết nhấn mạnh đên
vấn đề chăm sóc sức khỏe đối với người cao tuổi, vai trò của môi trường xã hội đối với
người cao tuổi, bao gồm: vai trò của gia đình, hệ thống y tế, cộng đồng, Nhà nước và
các chính sách an sinh xã hội.
“Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thuộc hộ
nghèo từ thực tiễn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang” Luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội,
của tác giả Đặng Phương Liên (2018). Thông qua việc khảo sát thực trạng các dịch vụ
Đồng Thị Minh Phúc (2014). Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong tất cả sự trợ giúp xã
hội trong các mối quan hệ của người cao tuổi thì hầu hết người cao tuổi đánh giá cao
mối quan hệ với con cháu trong gia đình, họ coi gia đình là chỗ dựa an toàn nhất, quan
trọng nhất. Việc trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi tuy đã được sự quan tâm của
chính quyền, cộng đồng nhưng chỉ là chung chung và chưa thực sự thiết yếu đối với
người cao tuổi. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra những tác động vào việc thực hiện
chính sách liên quan đến trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi tại xã Trực Tuấn cũng
như một số các giải pháp áp dụng trong công tác xã hội đối với người cao tuổi tại cộng
đồng.
Bài viết: “Xu thế già hóa dân số ở nước ta hiện nay và yêu cầu nâng cao chất
lượng sống của người cao tuổi” của Thạc sĩ Lê Xuân Cử và Thạc sĩ Phạm Hải Hưng Đại học Lao động xã hội Hà Nội, đăng trên Tạp chí Cộng sản (9/2018). Bài viết đã chỉ
ra những khó khăn trong cuộc sống của người cao tuổi ở nước ta như: thu nhập thấp,
không ổn định, sức khỏe của người cao tuổi có nhiều vấn đề… Hệ thống các cơ sở
chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở nước ta còn khá nghèo nàn, nhiều khó khăn,
thách thức. Ngoài ra, hệ thống an sinh xã hội cũng chưa đáp ứng được nhu cầu của
người cao tuổi; chưa có hệ thống chăm sóc dài hạn và hệ thống cung ứng việc làm
cũng như chăm sóc sức khỏe dài hạn cho người cao tuổi; một bộ phận xã hội còn quan
niệm sai lệch về người cao tuổi; vai trò của các tổ thức, đoàn thể, cá nhân chưa thực sự
được phát huy… cũng là những khó khăn, thách thức đối với chất lượng sống của
người cao tuổi.
5
“Báo cáo tổng quan về chính sách chăm sóc người già thích ứng với thay đổi
cơ cấu tuổi ở Vệt Nam” của nhóm nghiên cứu: PGS. TS.Phạm Thắng, TS. Đỗ Thị
Khánh Hỷ, Hà Nội 2009. Báo cáo đề cập đến xu hướng già hóa dân số trên Thế giới
cũng như ở nước ta, một số vấn đề đặt ra khi dân số già như: Công tác lập kế hoạch và
hoạch định chính sách, nguồn nhân lực, nguy cơ dễ bị tổn thương của người cao tuổi…
Thách thức mà chúng ta sẽ gặp phải từ đó đưa ra các kiến nghị, định hướng giải pháp
chăm sóc người cao tuổi”, Tạp chí cộng sản, số 62/2012 của tác giả Lan Hương; Bài
viết: An sinh xã hội cho người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay của Nguyễn Đình Tuấn,
Tạp chí khoa học và xã hội Việt Nam, số 11(108)/2016. Ngoài ra còn có nhiều bài viết
đăng trên các báo online, đó là: Nguyễn Thanh Vân, Dân số già nhanh, Việt Nam cần
làm
gì,
Tạp
chí
dân
số
và
phát
triển,
số
11(152)
năm
2014,
https://tuoitre.vn/70-so-nguoi-cao-tuoi-o-viet-nam-khong-nhan-duoc-tro-cap-
1354123.htm; Hoàng Mạnh, 62% người cao tuổi ở Việt Nam chưa có lương hưu hoặc
trợ cấp tuổi già, http://dantri.com.vn/viec-lam/62-nguoi-cao-tuoi-vn-chua-co-luonghuu-hoac-tro-cap-tuoi-gia-20150909100344502.htm.
2.2. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài
Có thể nói, trợ giúp xã hội cho các đối tượng yếu thế trong xã hội nói chung là
một đề tài không mới trên thế giới, nhất là ở các nước có nền an sinh xã hội tốt. Chính
vì vậy, vấn đề này cũng được các học giả quan tâm nghiên cứu. Có thể đề cập đến một
số công trình nghiên cứu ở nước ngoài mà tác giả tiếp cận được có đề cập trực tiến đến
các chính sách an sinh xã hội cho người cao tuổi nói chung và các chính sách về trợ
giúp xã hội đối với người cao tuổi nói riêng:
Social Protection: Theories and evidences in Vietnam (Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn bảo trợ xã hội ở Việt Nam) của Nguyễn Trọng Hà, Đại học quốc gia Australia,
NXB Camberra, 2009.
Sustaining Social Security in Era of Population Aging (Đảm bảo an sinh xã
hội trong thời kỳ già hóa dân số) của John.A.Turner, Viện nghiên cứu về việc làm
Upjohn W.E, Kalamazoo, Michigan, Hoa Kỳ, 2016.
Professor Dr Paul De Hert and Eugenio Mantovani, Specific Human Right for
Older Person?, VrijeUniversiteit Brussels (VUB).
Từ các nghiên cứu nêu trên, có thể thấy vấn đề về người cao tuổi đã được các
tác giả tiếp cận, đi sâu nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt là dưới góc
độ đòi hỏi phải hoàn thiện các quy định của pháp luật và tổ chức thực hiện có hiệu quả
các chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi. Tuy nhiên, khi tiếp cận ở góc độ
này thì thực tiễn thực hiện ở mỗi địa phương lại có những vấn đề khác nhau nên để có
thể nắm được thực trạng về tình hình trợ giúp xã hội cho người cao tuổi trên địa bàn
tỉnh Nam Định từ đó đề ra được những phương pháp hoàn thiện pháp luật cho vấn đề
trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi, những giải pháp cho những hạn chế còn tồn tại
8
vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà
nước và Pháp luật, về bảo đảm quyền con người.
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong đề tài là: phân tích,
tổng hợp, so sánh, chứng minh, đánh giá,…
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan
đến chế độ trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi. Những nghiên cứu, đề xuất của đề
tài góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chế độ
trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam.
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo
trong nghiên cứu lập pháp cũng như thực tiễn thi hành pháp luật về chế độ trợ giúp xã
hội đối với người cao tuổi. Đề tài cũng là nguồn tài liệu tham khảo cho việc học tập
trong các cơ sở đào tạo pháp luật về chế độ trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi.
7. Kết cấu Luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi tại
huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định
Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi tại huyện Xuân Trường, tỉnh Nam
Định
10
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ
TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI CAO TUỔI
1.1. Một số vấn đề lý luận về trợ giúp xã hội đối với ngƣời cao tuổi
1.1.1. Các khái niệm liên quan
đặc điểm riêng, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, phong tục tập quán,... của mình.
Do vậy, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cũng không đưa ra khái niệm chuẩn về trợ
giúp xã hội mà chỉ đề cập thông qua những quy chuẩn tối thiểu của hệ thống an sinh
xã hội và đưa ra những đặc trưng cơ bản của trợ giúp xã hội như sau:
- Đối tượng của trợ giúp xã hội là mọi người dân không có sự phân biệt theo
tiêu chí nào khi gặp phải những rủi ro biến cố cần sự giúp đỡ.
- Không đặt ra nghĩa vụ đóng góp tài chính cho việc thụ hưởng các khoản trợ
cấp xã hội, nhà nước có trách nhiệm đảm bảo từ tài chính công để chi trả cho đối
tượng.
- Các khoản trợ cấp xã hội nhằm duy trì cuộc sống cho đối tượng và được xác
định trên cơ sở mức độ rủi ro và nhu cầu trợ giúp, không phụ thuộc vào tiền lương và
thu nhập [15].
Thực tế, mặc dù có những điểm khác nhau nhất định trong khái niệm trợ giúp
xã hội ở một số quốc gia song hầu hết các nước đều thống nhất cho rằng trợ giúp xã
hội là hình thức tương trợ cộng đồng đơn giản, phổ biến nhất được thực hiện bởi Nhà
nước, cộng đồng, nhằm đảm bảo cuộc sống cho mọi thành viên xã hội khi lâm vào tình
trạng khó khăn, bất hạnh,... vì các nguyên nhân khác nhau.
Do đặc điểm riêng của Việt Nam về vị trí địa lý, điều kiện kinh tế – xã hội,
phong tục tập quán, lịch sử... chính sách trợ giúp xã hội trở thành chính sách quan
trọng, thể hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta đối với một bộ phận
những người gặp khó khăn trong xã hội. Thể chế hóa chính sách xã hội mang đậm tính
nhân đạo này, tùy thuộc vào các giai đoạn khác nhau của điều kiện kinh tế xã hội, Nhà
nước đã ban hành các văn bản pháp luật quy định cụ thể chế độ trợ giúp xã hội với
phạm vi đối tượng, điều kiện hưởng, mức hưởng,... và tổ chức thực hiện. Do vậy, dưới
12
góc độ pháp luật, có thể hiểu chế độ trợ giúp xã hội là tổng thể các quy phạm pháp luật
có quan hệ chặt chẽ với nhau, xác định quyền và nghĩa vụ của Nhà nước, tổ chức và cá
13
trong đó thuật ngữ người cao tuổi (old people/senior citizen) chính thức được sử dụng
trong các Nghị quyết 47/5 và 48/98 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc và trở thành phổ
biến trong các văn kiện của các tổ chức quốc tế cũng như các quốc gia [18, tr10]. Khái
niệm người cao tuổi được nghiên cứu dưới những góc độ sau đây:
Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền
với việc suy giảm các chức năng của cơ thể. Khi đó, con người xuất hiện các biểu hiện
suy giảm các chức năng tâm lý, sinh lý và các chức năng lao động. Quá trình đồng hóa
giảm đi, quá trình dị hóa tăng lên theo tuổi tác, quá trình trao đổi chất giảm.
Thực tế, quy định ở mỗi nước có sự khác biệt về khái niệm người cao tuổi là
do sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu hiện về già của người dân ở các nước đó khác
nhau. Những nước có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của
người dân cũng được nâng cao. Do đó, các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn
hơn. Vì vậy, quy định về độ tuổi của để xác định người cao tuổi trong pháp luật ở các
nước khác nhau. Chẳng hạn, một số nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ… quy định
người cao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên. Ở Việt Nam, Luật Người cao tuổi
năm 2009 quy định: Người cao tuổi là “Tất cả các công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở
lên” [6, Điều 2]. Như vậy, có thể thấy yếu tố cơ bản tạo nên khái niệm người cao tuổi
chính là ở độ tuổi mà ở đó, con người xuất hiện các biểu hiện suy giảm các chức năng
trên cơ thể. Hiện tại chưa có một tiêu chuẩn thống nhất về độ tuổi để xác định người
cao tuổi cho các quốc gia, tuy nhiên Liên Hợp quốc chấp nhận mốc để xác định dân số
già là từ 60 tuổi trở lên trong đó phân ra làm ba nhóm: Sơ lão (60-69 tuổi), trung lão
(70-79 tuổi) và đại lão (từ 80 tuổi trở lên).
Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2009 quy định: “Người cao tuổi được quy
định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên” [6, Điều 2]. Theo đó,
người cao tuổi Việt Nam là người có quốc tịch theo Luật Quốc tịch Việt Nam, không
phân biệt bởi bất kỳ tiêu chí gì, thành phần xã hội, dân tộc, giới tính, tôn giáo, nơi sinh
hưởng trợ giúp xã hội được hưởng toàn bộ sự trợ giúp mà không phải thực hiện bất kỳ
một nghĩa vụ đóng góp nào.
Cộng đồng họ là những chủ thể khách quan nhất, có thể tiếp cận, thấu hiểu,
sẵn sàng trợ giúp trực tiếp đối tượng cần được trợ giúp cả về vật chất lẫn tinh thần. Họ
có thể là một cộng đồng dân cư (quan hệ hàng xóm láng giềng), cộng đồng gia tộc (có
quan hệ huyết thống với đối tượng), hay có thể là được đặt trong một môi trường cụ
thể nào đó như lớp học, nhà trường, công sở, các hội nhóm,... Tựu chung lại, cộng
15
đồng ở đây có thể được hiểu là một nhóm, một tập hợp các cá thể có mối liên hệ khăng
khít ở mức tương đối hoặc tuyệt đối đối với đối tượng mà chế độ trợ giúp xã hội muốn
hướng tới.
Xã hội mang tinh thần là một chủ thể gián tiếp, không có bất cứ mối liên hệ
với đối tượng hưởng trợ giúp xã hội, chủ thể “xã hội” ở đây có thể được hiểu là các tổ
chức, đoàn thể, các doanh nghiệp, pháp nhân, thậm chí là các cá nhân sẵn sàng san sẻ,
trợ giúp đối tượng cả về mặt vật chất lẫn tinh thần. Các Quỹ, Hội cứu tế, tương trợ cho
người nghèo, nạn nhân chất độc màu da cam, các chương trình từ thiện, hỗ trợ là ví dụ
điển hình minh chứng cho vai trò của xã hội đối với chế độ trợ giúp xã hội, đặc biệt là
đối với người cao tuổi.
Thứ hai, đối tượng của trợ giúp là người cao tuổi
Đối với người cao tuổi, lão hóa là quá trình tất yếu của cơ thể sống. Lão hóa
có thể đến sớm hay muộn tùy thuộc vào cơ thể từng người. Khi tuổi già các đáp ứng
kém nhanh nhạy, khả năng tự điều chỉnh và thích nghi cũng giảm dần, tất yếu sức khỏe
về thể chất và tinh thần giảm sút. Về thể chất trong giai đoạn này cơ thể bắt đầu có
những thay đổi theo chiều hướng đi xuống.
Về sức khoẻ
Theo quy luật tự nhiên, từ độ tuổi 60 trở lên, sức khoẻ về thể chất và tinh thần
của con người có sự thay đổi rất lớn. Ở tuổi này, da con người sẽ bị khô và thô do quá
trình trao đổi chất không được như trước. Các mạch máu vì thế cũng mỏng và dễ vỡ,
Hướng về quá khứ: Để giải tỏa những ưu phiền thường nhật trong cuộc sống
hiện tại, người cao tuổi thường thích hội họp, tìm lại bạn cũ, cảnh xưa, tham gia hội ái
hữu, hội cựu chiến binh... Họ thích ôn lại chuyện cũ, viết hồi ký, tái hiện kinh nghiệm
sống cũng như hướng về cội nguồn: Viếng mộ tổ tiên, sưu tầm cổ vật…[26]
Chuyển từ trạng thái “tích cực” sang trạng thái “tiêu cực”: Khi về già người
cao tuổi phải đối mặt với bước ngoặt lớn lao về lao động và nghề nghiệp. Đó là chuyển
từ trạng thái lao động (bận rộn với công việc, bạn bè) sáng trạng thái nghỉ ngơi,
chuyển từ trạng thái tích cực khẩn trương sáng trạng thái tiêu cực xả hơi. Do vậy
17