Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn thành phố ninh bình - Pdf 61

VŨ LÂM THÁI DIỆP

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

H
P
Á
U
L
V
T



R
G

Ã
X
P

H
Đ

V
IN



R
G

Ã
X

Đ


Ư
N

IC
O
A

U
T
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ NINH BÌNH
VŨ LÂM THÁI DIỆP

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN HIỀN PHƢƠNG

Hà Nội - 2019



Tác giả

Vũ Lâm Thái Diệp


M

C
LC
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………… 1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƢỜI CAO TUỔI VÀ MỘT SỐ NỘI DUNG PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP
XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI CAO TUỔI……………………………………… 7
1.1. Một số vấn đề lý luận về trợ giúp xã hội đối với ngƣời cao tuổi .............7
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của ngƣời cao tuổi ............................................7
1.1.2. Khái niệm trợ giúp xã hội đối với ngƣời cao tuổi ................................10
1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của trợ giúp xã hội đối với ngƣời cao tuổi ................15
1.2. Một số nội dung pháp luật về trợ giúp xã hội đối với ngƣời cao tuổi ...20
1.2.1. Sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật về trợ giúp xã hội đối với
ngƣời cao tuổi ....................................................................................................21
1.2.2. Quy định pháp luật về trợ giúp xã hội đối với ngƣời cao tuổi ...........25
Chƣơng 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ
HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI CAO TUỔI TẠI THÀNH PHỐ NINH
BÌNH.……………………………………………………..…….………...….…..48
2.1. Khái quát sơ lƣợc về thành phố Ninh Bình và thực trạng ngƣời cao
tuổi tại thành phố Ninh Bình ...........................................................................48
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về đối tƣợng ngƣời cao tuổi hƣởng trợ
giúp xã hội .........................................................................................................53
2.3. Thực tiễn thực hiện pháp luật về chế độ trợ giúp xã hội đối với ngƣời


An sinh xã hội

BHXH:

Bảo hiểm xã hội

BHYT:

Bảo hiểm y tế

BTXH:

Bảo trợ xã hội

LHQ:

Liên Hợp Quốc

NCT:

Người cao tuổi

Nghị định số 67/2007/NĐ-CP:

Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007
của Chính phủ vềchính sách trợ giúp các đối
tượng bảo trợ xã hội

Nghị định số 13/2010/NĐ-CP:

Bảng 2.4. Số hộ có người cao tuổi …………………………………………..……...56
Bảng 2.5. Số tiền trợ cấp hàng tháng của người cao tuổi…………………………..58
Bảng 2.6. Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ..……………………………………60
Bảng 2.7. Quy trình tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả …………………………..……68


M

Đ

U
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, xuất phát từ nhiều nguyên nhân về kinh tế, chính trị, nguyên
nhân về tỷ lệ sinh giảm, các điều kiện về chăm sóc, hỗ trợ sức khỏe ngày càng
được quan tâm,… tỷ lệ người cao tuổi ngày càng gia tăng là một hiện tượng phổ
biến ở các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Nâng cao tuổi thọ của người
dânlà một trong những thành tựu của quá trình phát triển. Con người sống thọ
hơn nhờ các điều kiện tốt hơn về chế độ dinh dưỡng, vệ sinh, tiến bộ y học, chăm
sóc y tế, giáo dục và đời sống kinh tế.
Tuy nhiên, tỷ lệ người cao tuổi tăng đồng nghĩa với tỷ lệ người phụ thuộc
trên tổng dân số cũng tăng lên, kéo theo những thay đổi về cấu trúc dân số, cơ
cấu lao động, tâm lý, lối sống, sự chuyển giao giữa các thế hệ, kinh tế, xã hội...
Do vậy vấn đề già hóa dân số cũng trở thành mối quan tâm đối với toàn xã hội,
mỗi quốc gia, dân tộc. Theo nghiên cứu “Triển vọng dân số thế giới” của LHQ,
tốc độ già hóa dân số của Việt Nam diễn ra nhanh hơn nhiều so với các nước:
năm 2015, số người ở độ tuổi 65 trở lên mới chiếm 6,7% dân số, nhưng con số
này đến năm 2040 được dự báo là sẽ chiếm 17% dân số và đến năm 2060 là
26,2% dân số [29]. Với tốc độ này sẽ đặt ra những thách thức lớn cho việc đảm
bảo hạ tầng an sinh xã hội để đáp ứng đủ nhu cầu của một xã hội già hóa dân số
nhanh chóng, trong khi còn nhiều người đang sống ở mức nghèo, cận nghèo...

để trên thực tế đóng góp một phần quan trọng trong an sinh xã hội nói chung.
Xã hội ngày càng phát triển cùng với các chiến lược phát triển kinh tế thì
những chủ trương, chính sách phát triển xã hội thông qua các chính sách đảm
bảo đời sống an sinh xã hội của người dân cũng ngày càng được chú trọng. Vấn
đề trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, chính
trị, xã hội mà còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc thể hiện truyền thống “Uống
nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của dân tộc ta.
Người cao tuổi là một trong những nhóm đối tượng đặc thù, là những
người không còn làm việc chính thức trong mọi lĩnh vực nghề nghiệp,thường có
tâm lý hụt hẫng, hoài cổ, dễ bị rơi vào cảm giác cô đơn, tủi thân, thay đổi tâm
tính trở nên cố chấp, bảo thủ… Do vậy, đây là nhóm đối tượng cần được sự quan
tâm, trợ giúp của gia đình cũng như Nhà nước và toàn thể xã hội.
Xuất phát từ thực tiễn áp dụng, thi hành pháp luật về trợ giúp xã hội đối với
người cao tuổi tại thành phố Ninh Bình, tác giả thấy rằng vấn đề nghiên cứu tìm
hiểu cũng như phân tích đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam về trợ giúp
2


xã hội đối với người cao tuổi; những vướng mắc, hạn chế qua thực tiễn áp dụng và
việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
có ý nghĩa về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật nhằm bảo vệ quyền
lợi và nhu cầu chính đáng của người cao tuổi, cân bằng lợi ích giữa các thành viên
trong xã hội, đảm bảo công bằng, an sinh xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước trong lĩnh vực trợ giúp xã hội, từ đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh
tế, ổn định chính trị.
Từ những lý do trên tác giả chọn đề tài:“Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với
người cao tuổi từ thực tiễn thành phố Ninh Bình” làm đề tài Luận văn tốt nghiệp
của mình với mong muốn góp một phần nhỏ trong nghiên cứu khoa học, là nguồn tài
liệu tham khảo trong lĩnh vực trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu

- Trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi tại cộng đồng (nghiên cứu tại địa
bàn xã Trực Tuấn, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định) của tác giả Đồng Thị Minh
Phúc (năm 2014) đã làm rõ thực trạng các hoạt động trợ giúp xã hội đối với
người cao tuổi tại địa bàn nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe, tinh thần, sinh hoạt,
vật chất, việc làm, tiếp cận các kiến thức thông tin; những mong muốn nguyện
vọng của người cao tuổi…; phân tích những khó khăn và đưa ra các giải pháp
nâng cao hiệu quả trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi tại cộng đồng.
Còn rất nhiều các công trình nghiên cứu, các bài viết liên quan đến người
cao tuổi ở nước ta hiện nay được tiếp cận, đi sâu phân tích dưới các góc độ khác
nhau. Tuy nhiên, theo hiểu biết của tác giả nhận thấy, ở khía cạnh tiếp cận thực
tiễn áp dụng thực thi pháp luật tại mỗi địa phương lại có những vấn đề khác
nhau. Vì vậy, việc nghiên cứu luận văn sẽ góp phần bổ sung lý luận, thực tiễn
thực hiện và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi hiện nay trên địa bàn thành phố Ninh
Bình nói riêng, cả nước nói chung.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Mục tiêu chung nhất và xuyên suốt của Luận văn là làm r những vấn đề
4


lý luận, thực tiễn về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi tại thành phố Ninh
Bình, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trợ giúp
xã hội đối với người cao tuổi.
3.2. Mục tiêu cụ thể
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu nêu trên, các mục tiêu cụ thể được
xác định trong Luận văn như sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về trợ giúp xã hội đối với người
cao tuổi như khái niệm trợ giúp xã hội, khái niệm người cao tuổi, đặc điểm,…
- Từ việc tìm hiểu những cái chung đi đến việc tìm hiểu cái riêng, cái cụ

những nghiên cứu sau.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu từ thực tiễn nhằm nâng cao tầm quan trọng của việc
trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi hiện nay trên các mặt của đời sống như
chăm sóc sức khỏe, tinh thần, vật chất… Chăm lo cho cuộc sống của người cao
tuổi không chỉ là nhiệm vụ quan trọng của mỗi cá nhân, gia đình mà là của toàn
xã hội.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
được bố cục gồm 03 chương như sau:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trợ giúp xã hội đối với người cao
tuổi và một số nội dung pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
- Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với
người cao tuổi tại thành phố Ninh Bình
- Chương 3: Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao
hiệu quả thực hiện pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi tại thành phố
Ninh Bình.
6


C
ư
h
ơ
n
g
1
M

T

Ư

IC
A
O
U
T

IV
À
M

T

S
N

ID
U
N
G
P
H
Á
P
U
L

T
V

môi trường sống lên cơ thể. Mỗi người vào từng thời điểm khác nhau, trạng thái già
xuất hiện cũng khác nhau. Có người trẻ lâu, có người già sớm. Trong các lĩnh vực
nghiên cứu khoa học xã hội có rất nhiều cách gọi khác nhau để chỉ những người lớn
tuổi nhưng xét cho cùng cách tiếp cận của các nhà khoa học chỉ dựa vào một tiêu
chí quan trọng để xác định nội hàm của khái niệm này, đó là tiêu chí về tuổi thọ.
Theo Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng thì “người cao niên” được hiểu là “người
đã nhiều tuổi” [4, tr.113]. Phụ lão được hiểu là “người già cả” [4, tr. 789]. Trên các
diễn đàn khoa học thường dùng các thuật ngữ “Người cao tuổi”, “người cao
niên”, “người già” hay “phụ lão” và hiện nay, thuật ngữ “người cao tuổi” ngày càng
được sử dụng nhiều hơn cả.
Về phương diện y học, người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền
với sự suy giảm các chức năng cơ thể. Tùy thuộc vào điều kiện, môi trường sống,
sự phát triển của hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe khác nhau mà con người ở mỗi
quốc gia, mỗi dân tộc có các biểu hiện già hóa khác nhau.
Về phương diện xã hội, người cao tuổi là những người đã từng có những
cống hiến nhất định cho gia đình và xã hội; họ có những thay đổi về tâm sinh lý, lao
động, thu nhập, quan hệ xã hội… dẫn đến những vấn đề có ảnh hưởng khó khăn
trong cuộc sống. “Trong quan niệm của cộng đồng quốc tế, NCT là một nhóm xã
hội trong nhóm dễ bị tổn thương bởi những đặc điểm về tâm, sinh lý” [33]. NCT
thuộc nhóm yếu thế trong xã hội, không đủ điều kiện tự lo liệu cuộc sống bản thân
như những người bình thường khác.
7


Về phương diện pháp luật, hiện nay chưa có một tiêu chuẩn thống nhất cho
tất cả các quốc gia về việc xác định độ tuổi được coi là người cao tuổi do xuất phát
từ thực tế các dấu hiệu biểu hiện về già như tình hình tuổi thọ, sức khỏe, tâm lý…
mà mỗi nước trên thế giới có sự khác biệt trong quy định về tuổi của NCT. Theo
Quỹ dân số Liên Hợp quốc UNFPA trong Báo cáo tóm tắt “Già hóa trong thế kỷ 21:
Thành tựu và thách thức” công bố năm 2012 tuy không nêu cụ thể nhưng cũng hàm

sự thay đổi rõ rệt nhất là ngoại hình như tóc, da, bộ răng yếu, dễđau ốm, bệnh tật…
[4, tr. 8, 9]. Tình trạng sức khỏe, NCT thường có những căn bệnh đặc thù của tuổi
cao như tim mạch, huyết áp, xương khớp, hô hấp, răng miệng và tiêu hóa hay các
vấn đề về sức khỏe tâm thần…[4, tr. 9-10].
- Đặc điểm về tâm lý: Xuất phát từ các nguyên nhân chủ quan (bản thân) và
nguyên nhân khách quan (môi trường sống, sự quan tâm của gia đình, xã hội…) mà
tâm lýcủa NCT có sự thay đổi khác nhau. Tuy nhiên, các biểu hiện tâm lý thường
gặp là: Họ thường mang tâm lý hồi tưởng quá khứ, hụt hẫng với hiện tại do các thay
đổi về công việc, lao động, thu nhập…; dễ chuyển từ trạng thái tích cực sang trạng
thái tiêu cực. Vì vậy mà NCT thường thấy cô đơn, bất lực và tủi thân, mong được
sự quan tâm, chăm sóc nhiều hơn; sợ phải đối mặt với cái chết; trở nên nói nhiều
hoặc trầm cảm. Sự thay đổi về tâm lý kéo theo sự thay đổi về tính nết như bảo thủ,
trái tính, khó thích ứng với sự thay đổi về sức khỏe…[4, tr. 9-10]. Những NCT còn
sức khỏe vẫn có thể tự phục vụ các nhu cầu chăm sóc sức khỏe bản thân, giúp đỡ
con cháu, thậm chí có những người vẫn có thể lao động. Tuy nhiên, đối với những
NCT sức khỏe đã giảm sút, thậm chí trở thành người khuyết tật khi về già, phụ
thuộc sinh hoạt vào con cháu thì càng dễ nảy sinh tâm trạng buồn phiền, chán nản,
dễ tựái, tủi thân… Sự thay đổi về tâm lý này khác nhau ở những giai đoạn tuổi tác
khác nhau. Cục Bảo trợ xã hội cho rằng NCT trải qua bốn giai đoạn như sau: Giai
đoạn đầu bắt đầu từ năm 60 tuổi đến 69 tuổi. Giai đoạn giữa từ 70 đến 79 tuổi. Giai
đoạn gần cuối từ 80 đến 90 tuổi. Giai đoạn cuối của NCT từ trên 90 tuổi. Ở mỗi giai
đoạn, NCT có những hạn chế về mặt sức khỏe và thay đổi về mặt tâm lý [4, tr. 1214].
- Về lao động, việc làm và thu nhập: Việt Nam là một quốc gia đang phát
triển nên còn nhiều hạn chế như: thu nhập bình quân còn thấp, cơ sở hạ tầng còn
9


kém, trình độ khoa học thấp, đời sống người cao tuổi còn nhiều khó khăn, mức trợ
cấp của nhà nước chưa đáp ứng được cuộc sống tối thiểu. Bên cạnh đó dân số già
hóa nhanh tạo áp lực cho hệ thống dịch vụ sức khỏe, giao thông đi lại, hệ thống hưu

chức thực hiện bằng cách xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện phù hợp với các
điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, phong tục, tập quán,… của mình. Tùy từng điều
kiện và trình độ phát triển kinh tế-xã hội khác nhau mà các quốc gia cóquy định
khác nhau về các đối tượng yếu thế thuộc diện điều chỉnh của hệ thống chính sách
trợ giúp xã hội. Theo thống kê của Tổ chức lao động quốc tế ILO trong các tài liệu
về ASX , trong số 172 nước thiết lập hệ thống ASX

thì chế độ trợ giúp xã hội

đều được quan tâm thực hiện ngay từ đầu [1].
Ở Việt Nam, mặc dù trợ giúp xã hội đã được thực hiện từ rất lâu với vai trò
quan trọng của Nhà nước nhưng cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa chính thức về
trợ giúp xã hội trong các văn bản pháp luật. Tổ chức lao động quốc tế ILO cũng
không đưa ra khái niệm chuẩn vềtrợ giúp xã hội mà chỉ đề cập thông qua những
quy chuẩn tối thiểu của hệ thống ASXH và những đặc trưng cơ bản củatrợ giúp xã
hội như: “Đối tượng trợ giúp xã hội là mọi người dân không có sự phân biệt theo
tiêu chí nào khi gặp phải rủi ro biến cố cần sự giúp đỡ…”; “Các khoản trợ cấp xã
hội nhằm duy trì cuộc sống cho đối tượng và được xácđịnh trên cơ sở mức độ rủi ro
và nhu cầu trợ giúp, không phụ thuộc vào tiền lương, thu nhập” [1]. Căn cứ xác
định mức trợ giúp xã hội theo quan niệm của ILO là mức sống tối thiểu nghĩa là căn
cứ vào mức thiếu hụt thực tế so với mức sống tối thiểu của các đối tượng thuộc diện
được trợ giúp khác nhau mà nhà nước thực hiện các biện pháp trợ giúp xã hội khác
nhau. Theo quan niệm này thì chỉ đề cập đến một chủ thể trong việc đảm bao chính
sách xã hội là nhà nước mà chưa đề cập đến sự tham gia của các chủ thể khác như:
cá nhân, cộng đồng, tổ chức chính trị - xã hội khác…
Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam thì trợ giúp xã hội là “sự giúp đỡ
thêm bằng tiền hoặc các điều kiện sinh sống thích hợp để đối tượng được giúp đỡ
cóthể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình hoặc gia đình, sớm hòa nhập
với cộng đồng” [2, Tập 1, tr. 641].


hợp. Đối tượng củaưu đãi xã hội là người có công với cách mạng, đối tượng của
12


bảo hiểm xã hội là người lao động, đối tượng của bảo hiểm y tế là toàn dân, còn
đối tượng củatrợ giúp xã hội như đã phân tíchở trên, là những người yếu thế trong
xã hội, không phân biệt vị thế, thành phần xã hội, vì nhiều nguyên nhân khác nhau
mà rơi vào hoàn cảnh khó khăn, rủi ro, bất hạnh không đủ khả năng tự lo liệu đảm
bảo cuộc sống của bản thân và gia đình, cần có sự giúp đỡ [3]; mà cụ thể hơn trong
hầu hết các quy định pháp luật của các quốc gia đề cập đến là nhóm người khuyết
tật, người già, cô đơn, trẻ em mồ côi thiếu người nuôi dưỡng...
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị
trường đã tạo ra nhiều thành quả những cũng đặt ra nhiều thách thức, khó khăn đối
với một bộ phận dân cư yếu thế trong xã hội, trong đó có phần đa người cao tuổi ít
có khả năng thích ứng với cơ chế mới, trở thành đối tượng yếu thế, dễ tổn thương
và bị xâm phạm các quyền. Vấn đề về việc làm, thu nhập, nhu cầu lao động và nhu
cầu được chăm sóc sức khỏe; các vấn đề vềquan hệ xã hội và nhu cầu được quan
tâm, tôn trọng đối với NCT là một trong những vấn đề cần được nhà nước và xã
hội quan tâm.Theo đó, các nội dung của trợ giúp xã hộinói chung khi áp dụng với
đối tượng là NCT nói riêng thì phải thỏa mãn các điều kiện được hưởng trong các
chế độ chung vềtrợ cấp, hỗ trợ và các chi phí khác.
Với quan điểm tiến bộ, trợ giúp xã hội đối với NCT được tiếp cận từ góc độ
nhân quyền với trách nhiệm của nhà nước chứ không chỉ dừng lại ở mục đích nhân
đạo, chiếu cố tới những người có hoàn cảnh bất hạnh, khó khăn, không có khả năng
tự lo liệu cho cuộc sống tối thiểu của bản thân. Các khoản trợ cấp, hỗ trợ cho cuộc
sống của NCT được thực hiện như một sự cân bằng xã hội theo hướng công bằng,
đảm bảo sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia trong tình hình phát triển kinh tếxã hội. Bên cạnh đó, việc nhìn nhận NCT là một nhóm người có vai trò nhất định
trong xã hội cũng góp phần khơi gợi, khích lệ tiềm năng đóng góp cho xã hội của
họ. Đây là những tư tưởng tiến bộ để các khoản trợ cấp xã hội không còn mang ý
nghĩa là gánh nặng ngân sách nhà nước mà chính là động lực thúc đẩy phát triển

- Chủ thể của trợ giúp xã hội đối với NCT không chỉ là nhà nước mà còn là
cộng đồng xã hội và gia đình. Nhà nước bảo đảm thực hiện trợ giúp xã hội đối với
NCT và giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện; đẩy mạnh xã hội hóa,
14


khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp và người dân tham gia. Đồng thời, tạo điều
kiện để người dân nâng cao khả năng tự bảo đảm an sinh cho bản thân và gia đình.
1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
Trên thế giới, số lượng NCT luôn chiếm một tỷ lệ nhất định trong dân số
mỗi quốc gia. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tuổi thọ trung bình của Việt
Nam đã tăng từ 68,6 tuổi năm 1999 lên tới 73,4 tuổi năm 2016, và dự báo sẽ lên
78 tuổi vào năm 2030. Tính đến hết năm 2017, cả nước có hơn 11 triệu NCT,
chiếm khoảng 11,95% dân số, trong đó có khoảng gần 2 triệu người từ 80 tuổi
trở lên [22]. Xét về thể trạng và cơ hội tạo thu nhập cho thấy đương nhiên nhóm
đối tượng này trở thành nhóm người yếu thế trong xã hội.

ọ cần giúp đỡ, hỗ trợ

để đảm bảo cuộc sống tối thiểu của bản thân. Trợ giúp xã hội góp phần đảm bảo
nhân quyền, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đảm bảo, chăm lo đời sống cho
các thành viên trong xã hội, xác định r trách nhiệm đối với cuộc sống của
những nhóm người yếu thế trong xã hội, trong đó có NCT.
Tuy nhiên, vai trò, ý nghĩa của trợ giúp xã hội đối với NCT không chỉ
dừng lại ở đó mà xem xét dưới nhiều khía cạnh khác nhau mà trợ giúp xã hộicó
nhiều vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với NCT. Cụ thể như sau:
 Thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng đối với người cao tuổi
Trong những năm qua, đường lối, quan điểm của Đảng về chính sách trợ
giúp xã hộiđối với người cao tuổi luôn được quan tâm, duy trì, hoàn thiện. Trên
cơ sởđó, thể chế chính sách đóng vai trò quan trọng trong hệ thống trợ giúp xã hội.

hội, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của người dân, tạo sự đồng thuận
xã hội, lòng tin của người dân vào chính sách, đường lối đổi mới của Đảng; là
tiền đề của sự ổn định kinh tế, xã hội, chính trị.
 Khắc phục sự phân hóa xã hội, đảm bảo công bằng xã hội và ổn định
chính trị
Đất nước ta đang trên con đường hội nhập và phát triển, hướng mục tiêu
trở thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa để có thể sánh vai với các nước
phát triển trên thế giới. ASXH nói chung, trợ giúp xã hội nói riêng là một trong
16


những trụ cột cơ bản trong hệ thống các chính sách xã hội được Đảng và Nhà
nước quan tâm xây dựng. Đây là nhân tố đảm bảo công bằng xã hội. Công bằng
được hiểu là tài sản, lợi ích và cơ hội giữa các thành viên trong xã hội được phân
phối một cách phù hợp, khách quan và không thiên vị [40, tr.39]. Trong bối cảnh
trợ giúp xã hội đối với NCT, mục tiêu công bằng được hiểu là NCT cũng có
được cơ hội và điều kiện theo khả năng của họ mà không bị thiên vị so với các
nhóm người khác. Nhà nước tạo điều kiện, mở rộng khả năng tiếp cận các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục, việc làm, nguồn vốn, mạng lưới an sinh cho
NCT [40, tr.39].
Bên cạnh những thành tựu về kinh tế - xã hội thì chúng ta đang phải đối
mặt với nhiều khó khăn, thách thức nảy sinh từ hệ quả của quá trình phát triển
kinh tế - xã hội như: phân hóa tầng lớp xã hội; quá trình đô thị hóa chưa đồng
bộ, môi trường ngày càng xuống cấp; thất nghiệp gia tăng;các tệ nạn xã hội, ma
túy; người già neo đơn… Dân số nước ta ngày càng già đi, quá trình già hóa dân
số diễn ra nhanh chóng kéo theo đó là số lượng người cao tuổi ngày càng tăng
lên gây sức ép đối với nền kinh tế - xã hội. Từ thực tiễn phát triển đã cho thấy
trợ giúp xã hội cho các đối tượng yếu thế, trong đó có NCT đã có vai trò rất lớn
trong việc khắc phục những hệ lụy của phân hóa xã hội, tăng cường gắn kết xã
hội, sự đồng thuận và đảm bảo ổn định chính trị.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status