Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật - Từ thực tiễn tại Thành phố Hà Nội - Pdf 41

KHOA LUT

PHM TH TRANG

PHáP LUậT Về TRợ GIúP Xã HộI
ĐốI VớI NGƯờI KHUYếT TậT - Từ THựC TIễN
TạI THàNH PHố Hà NộI
Chuyờn ngnh: Lut Kinh t
Mó s: 60 38 01 07

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS NGUYN HU CH

H NI - 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN


1.2.3. Nội dung pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tậtError! Bookmark
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI
VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI .................... Error! Bookmark not defined.
2.1.

Thực trạng pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tậtError! Bookma

2.1.1. Đối tượng được trợ giúp xã hội........... Error! Bookmark not defined.

2.1.2. Trình tự, thủ tục hưởng trợ giúp xã hội đối với người khuyết tậtError! Bookmark n

2.1.3. Quyền lợi về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tậtError! Bookmark not defin
2.1.4. Nguồn tài chính và cơ quan tổ chức thực hiệnError! Bookmark not defined.
2.2.

Thực tiễn thực hiện trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật
tại Thành phố Hà Nội ....................... Error! Bookmark not defined.


2.2.1. Tình hình người khuyết tật và công tác người khuyết tật trên địa
bàn Thành phố Hà Nội ........................ Error! Bookmark not defined.
2.2.2. Đối tượng được trợ giúp xã hội........... Error! Bookmark not defined.

2.2.3. Trình tự, thủ tục hưởng trợ giúp xã hội đối với người khuyết tậtError! Bookmark n

2.2.4. Quyền lợi về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tậtError! Bookmark not defin
2.2.5. Nguồn tài chính và cơ quan tổ chức thực hiệnError! Bookmark not defined.
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI

Là mắt xích quan trọng trong chính sách an sinh xã hội, với truyền thống
nhân đạo của dân tộc, người khuyết tật luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và
Nhà nước ta. Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013 đều khẳng định
người khuyết tật là công dân - thành viên của xã hội, được hưởng đầy đủ các quyền
lợi và nghĩa vụ của công dân, được chung hưởng thành quả xã hội. Vì khuyết tật,
nên người khuyết tật có quyền được xã hội trợ giúp để thực hiện được quyền bình
đẳng và tham gia tích cực vào các hoạt động của xã hội, đồng thời khuyết tật, họ
được miễn trừ một số nghĩa vụ công dân.
Xã hội ngày càng phát triển song hành với các chiến lược phát triển kinh tế
thì những chủ trương chính sách phát triển xã hội thông qua các chính sách đảm
bảo đời sống an sinh xã hội của người dân cũng ngày càng được chú trọng. Hiện
nay, người khuyết tật gặp rất nhiều khó khăn, nhất là các cơ hội tiếp cận các hoạt
động, dịch vụ nhằm nâng cao năng lực, tạo thuận lợi cho việc hội nhập đời sống
của cộng đồng. Bản thân người khuyết tật không thể hội nhập vào cuộc sống cộng
đồng nếu đó chỉ là sự nỗ lực của bản thân mà còn cần được sự quan tâm chia sẻ,
tạo thuận lợi từ gia đình, cộng đồng và xã hội để người khuyết tật có thể dễ dàng
hoà nhập với cộng đồng và xã hội từ đó phát huy được khả năng của mình.
5


Tuy nhiên, thực trạng trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật ở nước ta
cũng bộc lộ nhiều hạn chế, như: còn một số đối tượng người khuyết tật chưa được
hưởng trợ giúp; thủ tục, điều kiện hưởng trợ giúp rườm rà; mức trợ giúp hiện hành
cho người khuyết tật còn thấp… Vì những lý do đó, tôi lựa chọn đề tài “Pháp luật
về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật - Từ thực tiễn tại Thành phố Hà Nội”
làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình với mong muốn góp phần hoàn thiện pháp luật
và thực tiễn trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật ở Thành phố Hà Nội nói riêng
và cả nước nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu
Hoạt động trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật có ý nghĩa thực tiễn vô

và mức độ khác nhau. Tuy vậy, công trình nghiên cứu về vấn đề trợ giúp xã hội đối
với người khuyết tật một cách hệ thống và toàn diện thì vẫn còn ít, nhất thực tiễn
thực hiện trên địa bàn Thành phố Hà Nội là chưa có công trình nghiên cứu nào. Vì
vậy, tác giả tiếp tục nghiên cứu đề tài này, nhằm cung cấp một cái nhìn toàn diện
hơn về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật và thực tiễn tại Thành phố Hà Nội,
đưa ra một số giải pháp hoàn thiện về vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là xây dựng cơ sở lý luận về pháp luật trợ
giúp xã hội đối với người khuyết tật, dựa trên cơ sở lý luận đó để đánh giá về thực
trạng các quy định pháp luật hiện hành, thực tiễn thực hiện trên địa bàn thành phố Hà
Nội và đưa ra được những giải pháp hoàn thiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với
người khuyết tật nhằm đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của thực tiễn về vấn đề bảo vệ,
hỗ trợ và thực hiện hóa quyền của người khuyết tật. Với mục đích như trên, nhiệm vụ
nghiên cứu của luận văn là:
Đánh giá về những quan điểm hiện hành và từ đó xây dựng nội dung lý luận
về pháp luật trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật như: Xây dựng khái niệm trợ
7


giúp xã hội đối với người khuyết tật, xác định các nguyên tắc cơ bản trong việc trợ
giúp xã hội đối với người khuyết tật.
Đánh giá nội dung pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật, bao
gồm những ưu nhược điểm và hạn chế của các quy định của pháp luật hiện hành.
Việc đánh giá được thực trạng thực hiện pháp luật nhằm phát hiện những bất cập,
hạn chế cơ bản của các quy định pháp luật hiện hành. Đánh giá thực tiễn thực hiện
và áp dụng pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn thành
phố Hà Nội.
Xây dựng các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành về trợ
giúp xã hội đối với người khuyết tật. Những phương hướng này cần bám sát và thể
hiện đúng chủ trương chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam, pháp luật của Nhà

luận văn có tính ứng dụng thực tiễn. Một là, luận văn đóng góp những căn cứ khoa
học cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết
tật ở Việt Nam. Hai là, luận văn sẽ góp phần đóng góp vào hệ thống kiến thức
pháp lý để các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức công tác xã hội và người khuyết
tật áp dụng các quy định của pháp luật một cách hiệu quả.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về người khuyết tật và pháp luật về
trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật
và thực tiễn thực hiện tại Thành phố Hà Nội.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về
trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật.

9


10


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ
PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1.1. Người khuyết tật và vai trò của người khuyết tật trong đời sống xã
hội
1.1.1. Khái niệm người khuyết tật
Vào những năm 1970, trong các văn bản quốc tế thường dùng hai từ tiếng
Anh “disability” (khuyết tật) và “handicap” (không hội nhập được) để nói về
người khuyết tật. Từ “disability” được dùng để nói về một loạt những hạn chế về
mặt chức năng khác nhau xuất hiện ở bất cứ cộng đồng dân cư và bất cứ quốc gia

ngại khác nhau khi tham gia vào các hoạt động xã hội).
Trước đây trong các văn bản pháp luật quốc tế cũng như của Việt Nam
thường sử dụng thuật ngữ “người tàn tật”.
Theo Tuyên ngôn của người khuyết tật được Đại hội đồng Liên hiệp quốc
thông qua ngày 9/12/1975 thì:
Người tàn tật có nghĩa là bất cứ người nào mà không có khả năng tự bảo
đảm cho bản thân, toàn bộ hay từng phần những sự cần thiết của một cá nhân bình
thường hay của cuộc sống xã hội do sự thiếu hụt bẩm sinh hay không bẩm sinh
trong những khả năng về thể chất hay tâm thần của họ [26].
Theo Nghị định số 81/CP ngày 23/11/1995 của Chính phủ Việt Nam về
hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động người tàn tật.
Điều 1 quy định, người tàn tật là “người mà khả năng lao động bị suy giảm từ 21%
trở lên do tàn tật được hội đồng giám định y khoa xác định” [9].
Theo pháp lệnh về người tàn tật của Việt Nam ban hành ngày 30/7/1998
Người tàn tật không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người khiếm
khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những
dạng tật khác nhau làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh
12


hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn [49].
Tuy nhiên, hiện nay hầu như tất cả các văn bản liên quan đến người khuyết
tật đều không sử dụng thuật ngữ “người tàn tật” mà chỉ sử dụng thuật ngữ “người
khuyết tật”. Sau này công ước quốc tế và những văn bản quốc tế đều dùng từ
Poeple with disability – Người sống chung với khuyết tật; như một cách nói tránh
để giảm sự kỳ thị với người khuyết tật – Luật người khuyết tật Việt Nam được xây
dựng sau khi có công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật, tiếp thu công ước
nên cũng xây dựng và tiếp cận người khuyết tật theo hướng quyền, và nguyện vọng
của người khuyết tật – Chứ không theo hướng bảo trợ xã hội như pháp lệnh người
tàn tật 1998 – Nên thống nhất sử dụng thuật ngữ “người khuyết tật”

khuyết tật có thể từ nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể là từ cá nhân, từ xã hội.
Nếu dùng từ “tàn tật” thì chỉ tập trung vào sự bất lợi của người khuyết tật đối với
mọi người xung quanh, tức là phân biệt họ với những người khác trong xã hội. Do
vậy, xu hướng chung được khuyến nghị là sử dụng thuật ngữ “khuyết tật” thay cho
“tàn tật”.
Ở Việt Nam khái niệm “Người khuyết tật” đã thay đổi theo từng giai đoạn
và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các yếu tố văn hóa và lịch sử. Trước năm 2009,
thuật ngữ phổ biến để chỉ người khuyết tật là “tàn tật” và quan điểm nhìn nhận phổ
biến về người khuyết tật chủ yếu theo xu hướng mô hình từ thiện. Bắt đầu từ năm
2010, thuật ngữ “người khuyết tật” được sử dụng thay thế cho thuật ngữ “người
tàn tật”, điều này thể hiện sự tiến bộ mạnh mẽ trong công tác bảo vệ, giáo dục,
chăm sóc người khuyết tật. Hiện nay tại Việt Nam, thuật ngữ “khuyết tật” được sử
dụng với vai trò là thuật ngữ chính thống và phổ biến khi nói về nhóm đối tượng
dân cư đặc thù này. Điều này không chỉ có tác dụng tích cực với nhóm người
khuyết tật về mặt tinh thần mà còn tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức của xã
hội nhằm hướng tới những thay đổi mạnh mẽ.
Như vậy, tùy từng thời điểm và từng quốc gia mà khái niệm về người khuyết
14


tật có những điểm tương đồng và khác biệt nhất định. Để có khái niệm chung nhất
về người khuyết tật nhằm thuận lợi cho việc tìm hiểu nghiên cứu tác giả xin trích
dẫn khái niệm trong Giáo trình Luật về người khuyết tật của trường Đại học Luật
Hà Nội vào, đây là khái niệm mà tác giả thấy phù hợp, ngắn gọn, đầy đủ ý nghĩa
bao quát hết được những đặc điểm cơ bản của người khuyết tật. Theo đó “Người
khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy
giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia
của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thể
khác” [43, tr.21].
1.1.2. Đặc điểm của người khuyết tật

sinh hoạt và di chuyển.
Khuyết tật nghe, nói: Người khuyết tật gặp khó khăn trong việc phát âm ra
tiếng và nghe được âm thanh, từ đó cũng dẫn tới những khó khăn về đọc, về viết
kéo theo cả một loạt các khó khăn và hạn chế khác trong hoạt động sinh hoạt học
tập, lao động, hòa nhập với cộng đồng. Đối với những người khiếm thính họ cần
được hỗ trợ máy trợ thính để có thể nghe được, và học ngôn ngữ ký hiệu trong giao
tiếp đối với người bị câm, điếc. Một số người khiếm thính ở dạng nhẹ ngoài việc
kết hợp dùng máy trợ thính, họ học phương pháp đọc khẩu hình. Người khuyết tật
về nghe, nói thường rất khó khăn trong việc thể hiện ngôn ngữ giao tiếp và tiếp
nhận thông tin từ cộng đồng, bởi ngôn ngữ của họ là ngôn ngữ ký hiệu.
Khuyết tật nhìn (khuyết tật thị giác, khiếm thị): Đó là những người có tật về
mắt làm cho họ không nhìn thấy hoặc nhìn không rõ ràng. Công cụ hỗ trợ cho họ là
chiếc gậy trắng, chữ nổi Braille, chó dẫn đường, các dụng cụ hỗ trợ thông minh, lối
đi có gờ nổi ký hiệu nhận diện, phát ra âm thanh hướng dẫn... Đối với những người
nhìn kém thì môi trường cần thiết cho họ phải đảm bảo đủ ánh sáng, dùng những
màu tương phản hợp lý trong sinh hoạt và các hoạt động khác, cung cấp thiết bị
phóng đại hình ảnh.
16


Khuyết tật trí tuệ: Đây là dạng khuyết tật bị giảm hoặc mất khả năng
nhận thức, tư duy biểu hiện bằng chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về
sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc. Những người khuyết tật về trí tuệ có
nhiều hạn chế làm ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của họ và người thân.
Xét ở góc độ đặc điểm về tâm lý, sinh lý cho thấy tính đa dạng của khuyết
tật và rõ ràng việc đảm bảo các quyền của họ dưới phương diện pháp lý cũng cần
tính đến yếu tố đặc thù của các dạng khuyết tật khác nhau.
Đặc điểm về mức độ khuyết tật
Căn cứ vào mức độ khuyết tật, người khuyết tật được chia làm 3 loại: người
khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng, người khuyết tật nhẹ. Theo quy

Đối với gia đình có người khuyết tật thường thì sẽ phải chịu những gánh
nặng về kinh tế, năng suất lao động của người khuyết tật thường thấp và có khi họ
không có khả năng lao động mà có thể còn phải chi một khoản tiền nhất định mỗi
tháng cho họ để phục hồi chức năng - Như dụng cụ chỉnh hình, chân tay giả, xe
lăn... người khuyết tật cũng ít có cơ hội được tham gia học hành, một phần là do
bản thân họ không có khả năng tự mình đến trường, không có phương tiện dụng cụ
chỉnh hình phục hồi chức năng hoặc ngôi trường hay cơ sở đào tạo không tiếp cận,
hoặc không có chương trình, giáo viên chuyên biệt để dạy cho người khuyết tật,
trong các dạng khuyết tật đặc thù, hai là do kinh tế gia đình còn eo hẹp nên chất
lượng lao động của họ đa số là rất thấp. Vì vậy mà thu nhập của người khuyết tật
thường rất thấp hoặc không có thu nhập dẫn đến điều kiện sống và sinh hoạt không
tốt, ảnh hưởng phần nào đến chất lượng cuộc sống của cả gia đình trong các gia
đình có người khuyết tật.
Hơn nữa, trong xã hội còn tồn tại nhiều quan niệm tiêu cực định kiến sai lầm
về người khuyết tật nên thường dẫn đến thái độ kỳ thị và phân biệt đối xử đối với
người khuyết tật. Một số gia đình thường bao bọc quá mức, hoặc tập trung đầu tư
và hỗ trợ cho những người con không khuyết tật thì có thể gây áp lực cho người
18


khuyết tật về vấn đề tâm lý, vì họ thường không có thu nhập mà lại gây ra gánh
nặng cho gia đình. Trong cộng đồng, nhiều người coi người khuyết tật là đáng
thương hoặc do những sai lầm ở kiếp trước “tật nguyền”, “quả báo”, không có
cuộc sống bình thường là “gánh nặng” của xã hội [43, tr.24]. Ở trường học thường
thì không nhận những học sinh khuyết tật hoặc không đủ điều kiện dạy học sinh
khuyết tật mà họ phải đi học tại trường dành riêng cho người khuyết tật, đôi khi là
ở quá xa nhà, hoặc quá ít trường chuyên biệt như vậy, nên họ không thể theo học
được. Đây có lẽ cũng là một thiệt thòi lớn đối với người khuyết tật khi không được
nhận sự giáo dục đầy đủ nhất. Đối với một số người khuyết tật có việc làm thì việc
kỳ thị không giao việc cho người khuyết tật, hoặc nhận người khuyết tật vì mục

Bộ Lao Động - Thương binh và Xã hội (2010), Thông tư số 24/2010/TTLTBLĐTBXH-BTC ngày 18/8/2010 của liên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
và Bộ tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP
và Nghị định số 13/2010/NĐ-CP, Hà Nội.

5.

Bộ Lao Động - Thương binh và Xã hội (2015), Sơ kết 5 năm thực hiện Luật
Người khuyết tật và đánh giá giữa kỳ Đề án 1019 năm 2015, Hà Nội.

6.

Bộ Lao Động - Thương binh và Xã hội (2014), Thông tư liên tịch số
29/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 24 tháng 10 năm 2014 Hướng dẫn thực
hiê ̣n một số điều của Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm
2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng
bảo trợ xã hội, Hà Nội.

7.

Anh Chi (2012), Việt Nam có số người khuyết tật cao hơn khu vực châu Á –
Thái Bình Dương, , (truy cập 19/7/2016).

8.

Nguyễn Đức Chiện (2012), Thành công và bất cập trong chính sách trợ giúp xã
hội thường xuyên, , (ngày truy cập 23/8/2016).

9.

Chính phủ (1995), Nghị định số 81/CP ngày 23/11/1995 hướng dẫn thi hành một


15.

Mai Ngọc Cường (2009), Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an
sinh xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

16.

Lê Bạch Dương, Đặng Nguyên Anh, Khuất Thu Hồng và Robet Leroy bach
(2005), Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam, Nxb Thế giới,
Hà Nội.

17.

Nguyễn Trọng Đàm (2016), Thực trạng thực hiện chính sách trợ giúp xã hội
và giải pháp đổi mới giai đoạn tới, , (ngày truy
cập 19/7/2016).

18.

Đinh Thị Cẩm Hà (2012), “Hoàn thiện các quy định của Hiến pháp bảo
đảm quyền của người khuyết tật”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (9), tr. 4952.

19.

Nguyễn Đức Hoàng (2013), Chế độ bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật,
Những vẫn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại
học Luật Hà Nội, Hà Nội.

20.


26.

Liên hợp quốc (1975), Tuyên ngôn của người khuyết tật.

27.

Nguyễn Hiền Phương (2010), Pháp luật an sinh xã hội – Những vấn đề lí
luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp.

28.

Hồng Phượng (2015), Hà Nội, Quan tâm chăm sóc đối tượng bảo trợ xã hội,
, (ngày truy cập 15/7/2016).

29.

Nguyễn Hiền Phương (2013), “Pháp luật bảo trợ xã hội đối với người khuyết
tật tại Việt Nam – Thực tiễn và một số kiến nghị”, Tạp chí Luật học, (Đặc
san), tr.63-67.

30.

Quốc hội (1946), Hiến pháp, Hà Nội.

31.

Quốc hội (1959), Hiến pháp, Hà Nội.

32.

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Hà Nội (2015), Báo cáo kết quả thực
hiện chính sách đối với người khuyết tật năm 2015, Hà Nội.

39.

Nguyễn Quốc Sử (2015), “Chế độ an sinh của Việt Nam đối với người
khuyết tật”, Tạp chí Quản lý Nhà nước, (12), tr.54-58.

40.

Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 1019/QĐ-TTg ngày 05/8/2012
về việc phê duyệt Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012-2020, Hà
22


Nội.
41.

Lê Thị Hoài Thu (2014), “Thực trạng an sinh xã hội ở Việt Nam và phương
hướng hoàn thiện”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (1), tr.35-45.

42.

Hồ Thị Trâm (2013), Pháp luật về việc làm cho người khuyết tật, Luận văn
thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.

43.

Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật về người khuyết tật,
Nxb Công An nhân dân, Hà Nội.

48.

UBNDTP Hà Nội (2015), Quyết định 25/2015/QĐ – UBND thành phố Hà
Nội sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 78/2014/QĐ-UBND, Hà
Nội.

49.

Ủy ban thường vụ Quốc hội (1998), Pháp lệnh của người tàn tật, Hà Nội.
23


50.

Văn phòng điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam (2008), Công
ước về quyền của người khuyết tật 2006, Nxb Lao động - xã hội.

51.

Nguyễn Vũ (2012), Bảo trợ xã hội chưa theo kịp thực tế, http://www.
kinhtedothi.vn, (ngày truy cập 18/7/2016).

II. Tài liệu trang Website
52.

truy cập ngày
16/7/2016.

53.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status