Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiễn tại thành phố hà nội - Pdf 42

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

PHM TH TRANG

PHáP LUậT Về TRợ GIúP Xã HộI
ĐốI VớI NGƯờI KHUYếT TậT - Từ THựC TIễN
TạI THàNH PHố Hà NộI

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2016


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

PHM TH TRANG

PHáP LUậT Về TRợ GIúP Xã HộI
ĐốI VớI NGƯờI KHUYếT TậT - Từ THựC TIễN
TạI THàNH PHố Hà NộI
Chuyờn ngnh: Lut Kinh t
Mó s: 60 38 01 07

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS NGUYN HU CH

H NI - 2016


sống xã hội ............................................................................................ 7

1.1.1. Khái niệm người khuyết tật................................................................... 7
1.1.2. Đặc điểm của người khuyết tật ........................................................... 11
1.1.3. Vai trò của người khuyết tật trong đời sống xã hội ............................ 16
1.2.

Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật ................... 16

1.2.1. Khái niệm pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật ....... 16
1.2.2. Sự cần thiết phải có pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người
khuyết tật ............................................................................................. 19
1.2.3. Nội dung pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật......... 20
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI
VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI .......................................................................28
2.1.

Thực trạng pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật .... 28

2.1.1. Đối tượng được trợ giúp xã hội........................................................... 29
2.1.2. Trình tự, thủ tục hưởng trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật ............ 33
2.1.3. Quyền lợi về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật ....................... 39
2.1.4. Nguồn tài chính và cơ quan tổ chức thực hiện.................................... 45
2.2.

Thực tiễn thực hiện trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật
tại Thành phố Hà Nội ....................................................................... 48



cộng đồng trở thành cấp thiết và mang tính nhân đạo sâu sắc. Do đó, có thể
nhận thấy, trợ giúp xã hội là biện pháp tương trợ cộng đồng đầu tiên mà con
người tìm đến để giúp nhau vượt qua những tình huống khó khăn. Người
khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc một
hay nhiều chức năng nào đó của bộ phận cơ thể bị suy giảm. Do khuyết tật
nên họ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt, học tập, lao động và
tham gia hoạt động xã hội. Do đó việc bảo đảm sự bình đẳng trong việc thực
hiện các quyền và nghĩa vụ về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đối với người
khuyết tật là nghĩa vụ của gia đình, xã hội và Nhà nước.
Là mắt xích quan trọng trong chính sách an sinh xã hội, với truyền
thống nhân đạo của dân tộc, người khuyết tật luôn nhận được sự quan tâm của
Đảng và Nhà nước ta. Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013 đều
khẳng định người khuyết tật là công dân - thành viên của xã hội, được hưởng
đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, được chung hưởng thành quả
xã hội. Vì khuyết tật, nên người khuyết tật có quyền được xã hội trợ giúp để
thực hiện được quyền bình đẳng và tham gia tích cực vào các hoạt động của
xã hội, đồng thời khuyết tật, họ được miễn trừ một số nghĩa vụ công dân.
Xã hội ngày càng phát triển song hành với các chiến lược phát triển
kinh tế thì những chủ trương chính sách phát triển xã hội thông qua các chính
sách đảm bảo đời sống an sinh xã hội của người dân cũng ngày càng được chú

1


trọng. Hiện nay, người khuyết tật gặp rất nhiều khó khăn, nhất là các cơ hội
tiếp cận các hoạt động, dịch vụ nhằm nâng cao năng lực, tạo thuận lợi cho
việc hội nhập đời sống của cộng đồng. Bản thân người khuyết tật không thể
hội nhập vào cuộc sống cộng đồng nếu đó chỉ là sự nỗ lực của bản thân mà
còn cần được sự quan tâm chia sẻ, tạo thuận lợi từ gia đình, cộng đồng và xã
hội để người khuyết tật có thể dễ dàng hoà nhập với cộng đồng và xã hội từ

Nam” của Mai Ngọc Cường, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009;
- Giáo trình Luật Người khuyết tật năm 2011 của Trường đại học Luật
Hà Nội do Nguyễn Hữu Chí chủ biên;
- Bài viết “Pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật tại Việt
Nam - Thực tiễn và một số kiến nghị” của Nguyễn Hiền Phương trên tạp chí
Luật học số đặc san năm 2013;
- Bài viết “Thực trạng an sinh xã hội ở Việt Nam và phương hướng hoàn
thiện” của Lê Thị Hoài Thu trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 1 năm 2014;
- Bài viết “Một số bất cập trong áp dụng pháp luật về bảo trợ xã hội
đối với người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay” của Hoàng Kim Khuyên số 10
năm 2015.
Những công trình nghiên cứu trên nhìn chung đã nghiên cứu cơ sở lý
luận và thực tiễn về hoạt động trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật trên
từng khía cạnh và mức độ khác nhau. Tuy vậy, công trình nghiên cứu về vấn
đề trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật một cách hệ thống và toàn diện thì
vẫn còn ít, nhất thực tiễn thực hiện trên địa bàn Thành phố Hà Nội là chưa có
công trình nghiên cứu nào. Vì vậy, tác giả tiếp tục nghiên cứu đề tài này,
nhằm cung cấp một cái nhìn toàn diện hơn về trợ giúp xã hội đối với người
khuyết tật và thực tiễn tại Thành phố Hà Nội, đưa ra một số giải pháp hoàn
thiện về vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là xây dựng cơ sở lý luận về pháp luật
trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật, dựa trên cơ sở lý luận đó để đánh giá về

3


thực trạng các quy định pháp luật hiện hành, thực tiễn thực hiện trên địa bàn
thành phố Hà Nội và đưa ra được những giải pháp hoàn thiện pháp luật về trợ
giúp xã hội đối với người khuyết tật nhằm đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của

Đối tượng nghiên cứu là hệ thống quy định pháp luật về trợ giúp xã hội
đối với người khuyết tật ở Việt Nam kể từ khi có luật về người khuyết tật năm
2010 cho đến hiện nay và có so sánh với các quy định pháp luật trước đó.
Những nghiên cứu của luận văn hướng tới hệ thống các quy định pháp
luật điều chỉnh hoạt động trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được những nhiệm vụ nghiên cứu và mục đích nghiên
cứu, luận văn được tiếp cận theo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin trong việc giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu. Đối với từng nội dung cụ
thể, đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp thống kê,
phương pháp so sánh luật học và phương pháp lịch sử.
6. Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn
Luận văn là công trình nghiên cứu về hệ thống lý luận về trợ giúp xã
hội đối với người khuyết tật cũng như đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật
về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật. Do đó luận văn sẽ góp phần bổ
sung một số vấn đề lý luận mới về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có tính ứng dụng thực tiễn. Một là, luận văn
đóng góp những căn cứ khoa học cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về trợ
giúp xã hội đối với người khuyết tật ở Việt Nam. Hai là, luận văn sẽ góp phần
đóng góp vào hệ thống kiến thức pháp lý để các cơ quan quản lý nhà nước, tổ
chức công tác xã hội và người khuyết tật áp dụng các quy định của pháp luật
một cách hiệu quả.

5


7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về người khuyết tật và pháp
luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người

Hai từ “disability” và “handicap” thường được dùng không rõ ràng và
nhiều khi lẫn lộn với nhau, vì thiếu mà nhiều khi đã dẫn đến sự dẫn hướng
chưa được thích đáng cho phía hoạch định chính sách và thi hành chính sách.
Năm 1980, Tổ chức y tế thế giới đã thông qua sự phân loại trên phạm

7


vi quốc tế về các khái niệm "impairment" (khiếm khuyết), "disability" (khuyết
tật hay tàn tật) và "handicap" (không hội nhập được), nó cho thấy có một sự
tiếp cận vấn đề chuẩn xác hơn, nhằm sử dụng được một cách thỏa đáng trong
nhiều lĩnh vực như phục hồi chức năng, giáo dục, thống kê, chính sách, lập
pháp, điều tra dân số, xã hội học, kinh tế học và nhân học...
Những trải nghiệm thu nhận được từ việc thực hiện Chương trình hành
động thế giới về người khuyết tật và qua rất nhiều cuộc thảo luận được mở ra
trong Thập kỉ người khuyết tật của Liên hiệp quốc (1983-1992) đã khiến cho
người ta có được những kiến thức sâu hơn và sự hiểu biết rộng hơn về vấn đề
người khuyết tật cùng những từ ngữ được dùng nói trên. Việc sử dụng đồng
thời các từ này cho thấy sự cần thiết của việc cần hướng đến cả những nhu
cầu cá nhân (như phục hồi chức năng và các trợ giúp kĩ thuật) và cả sự còn
thiếu hoàn chỉnh của xã hội (những trở ngại khác nhau khi tham gia vào các
hoạt động xã hội).
Trước đây trong các văn bản pháp luật quốc tế cũng như của Việt Nam
thường sử dụng thuật ngữ “người tàn tật”.
Theo Tuyên ngôn của người khuyết tật được Đại hội đồng Liên hiệp
quốc thông qua ngày 9/12/1975 thì:
Người tàn tật có nghĩa là bất cứ người nào mà không có khả năng tự
bảo đảm cho bản thân, toàn bộ hay từng phần những sự cần thiết của một cá
nhân bình thường hay của cuộc sống xã hội do sự thiếu hụt bẩm sinh hay
không bẩm sinh trong những khả năng về thể chất hay tâm thần của họ [26].

thì “người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây
ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc
sống”[43, tr. 18-19]. Một người được coi là người khuyết tật nếu đã có một
khiếm khuyết nào đó từ trước. Những khiếm khuyết ấy có thể bao gồm khiếm
khuyết về cơ thể, giác quan, nhận thức hoặc trí tuệ. Những người bị rối loạn
tâm thần và mắc các loại bệnh kinh niên khác nhau cũng có thể được coi là
người khuyết tật. Các khuyết tật có thể xuất hiện trong cuộc đời hoặc có ngay
từ lúc sinh ra ở một người nào đó.

9


Bộ luật xã hội Đức định nghĩa:
Người khuyết tật là người có các chức năng về thể lực, trí lực hoặc
tâm lý tiến triển không bình thường so với người có cùng độ tuổi trong thời
gian trên 6 tháng và sự không bình thường này là nguyên nhân dẫn đến việc
họ bị hạn chế tham gia vào cuộc sống xã hội [43, tr.18]
Ở Việt Nam, người khuyết tật được Đảng, Nhà nước quan tâm từ rất
sớm. Tuy vậy, thuật ngữ người khuyết tật mới được sử dụng gần đây với sự ra
đời của Luật người khuyết tật năm 2010. Theo đó người khuyết tật được hiểu
là “người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm
chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học
tập gặp khó khăn” [34, Điều 2, Khoản 1].
Lý do để giải thích cho việc thay đổi thuật ngữ này là việc hiểu bản
chất của khuyết tật có thể từ nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể là từ cá
nhân, từ xã hội. Nếu dùng từ “tàn tật” thì chỉ tập trung vào sự bất lợi của
người khuyết tật đối với mọi người xung quanh, tức là phân biệt họ với những
người khác trong xã hội. Do vậy, xu hướng chung được khuyến nghị là sử
dụng thuật ngữ “khuyết tật” thay cho “tàn tật”.
Ở Việt Nam khái niệm “Người khuyết tật” đã thay đổi theo từng giai

Người khuyết tật trước hết cũng là những con người nên họ mang
những đặc điểm chung về tâm sinh lý, đặc điểm về kinh tế - xã hội như mọi
người khác trong xã hội. Tuy nhiên, với những đặc điểm riêng về từng dạng
khuyết tật nên người khuyết tật nói chung lại có những nét đặc thù so với
những người không khuyết tật và mỗi nhóm khuyết tật khác nhau lại có
những nét đặc thù tương đối khác nhau.
 Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ dạng tật và mức độ
khuyết tật.
Đặc điểm về dạng tật
Trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về phân loại người

11


khuyết tật theo các tiêu chí khác nhau, tuy nhiên thì tiêu chí về sự khiếm
khuyết bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng là tiêu chí được quan tâm
nhiều nhất. Ở Việt Nam, theo quy định của Luật Người khuyết tật năm
2010 thì các dạng khuyết tật được phân theo dạng tật: Khuyết tật vận động;
khuyết tật nghe, nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết
tật trí tuệ; khuyết tật khác [34].
Mỗi dạng khuyết tật này có những đặc điểm riêng, chung về tâm sinh
lý, về khả năng qua đó tác động đến các nhu cầu của bản thân và có ảnh
hưởng qua lại, tác động đáng kể tới môi trường xung quanh làm xuất hiện
những hệ quả pháp lý trong quá trình hòa nhập cộng đồng.
Khuyết tật vận động là những người có cơ quan vận động bị tổn
thương, khó khăn trong di chuyển (nằm, ngồi, cầm, nắm, di chuyển...). Do đó,
người khuyết tật gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt cá nhân, học tập, lao
động và vui chơi. Họ cần được hỗ trợ về phương tiện đi lại đối với những
người khuyết tật vận động về vùng chân như dùng xe lăn, gậy chống... và
không gian cần thiết tiếp cận, thuận tiện để sinh hoạt và di chuyển.

Căn cứ vào mức độ khuyết tật, người khuyết tật được chia làm 3 loại:
người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng, người khuyết tật nhẹ.
Theo quy định của Nghị định số 28/2012/NĐ-CP thì:
Người khuyết tật đặc biệt nặng là những người khuyết tật dẫn đến mất
hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các
hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ
nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp,
chăm sóc hoàn toàn (khoản 1 Điều 3).
Người khuyết tật nặng là những người khuyết tật dẫn đến mất một phần
hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được
một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác
phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ
giúp, chăm sóc (khoản 2 Điều 3).

13


Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc hai trường hợp
kể trên (khoản 3 Điều 3).
Xét ở góc độ đặc điểm thể chất - tâm lý - xã hội cho thấy tính đa dạng
của người khuyết tật và rõ ràng việc đảm bảo các quyền của họ dưới phương
diện pháp lý cũng cần tính đến yếu tố đặc thù của các mức độ (hạng) khuyết
tật khác nhau.
 Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ kinh tế - xã hội.
Trước hết người khuyết tật là nhóm dân cư đặc biệt phải chịu thiệt thòi
về mặt kinh tế, xã hội và nhân khẩu học.
Đối với bản thân người khuyết tật, chính họ phải chịu rất nhiều thiệt
thòi trong mọi mặt cuộc sống. Họ gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện
các công việc sinh hoạt hàng ngày, trong giáo dục, việc làm, tiếp cận các dịch
vụ y tế, kết hôn, sinh con và tham gia các hoạt động xã hội. Để khắc phục

nguyền”, “quả báo”, không có cuộc sống bình thường là “gánh nặng” của xã
hội [43, tr.24]. Ở trường học thường thì không nhận những học sinh khuyết tật
hoặc không đủ điều kiện dạy học sinh khuyết tật mà họ phải đi học tại trường
dành riêng cho người khuyết tật, đôi khi là ở quá xa nhà, hoặc quá ít trường
chuyên biệt như vậy, nên họ không thể theo học được. Đây có lẽ cũng là một
thiệt thòi lớn đối với người khuyết tật khi không được nhận sự giáo dục đầy
đủ nhất. Đối với một số người khuyết tật có việc làm thì việc kỳ thị không
giao việc cho người khuyết tật, hoặc nhận người khuyết tật vì mục đích từ
thiện nhân đạo cũng diễn ra phổ biến do e ngại rằng họ không đủ năng lực để
làm, nhiều khi dẫn đến làm họ chán nản công việc và không được đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao trình độ nên trình độ không đáp ứng được điều kiện làm việc
và cuối cùng họ phải nghỉ việc dẫn đến thất nghiệp.
Ngoài ra thì hoạt động hỗ trợ cho người khuyết tật còn rất hạn chế, thực
tế cho thấy sự khác biệt lớn giữa nhu cầu của người khuyết tật và những giúp
đỡ mà họ nhận được. Những hoạt động hỗ trợ thường mang tính từ thiện, phát

15


quà, cho tiền nhiều hơn là việc hỗ trợ họ phát triển con người, như đào tạo,
dạy nghề cho người khuyết tật.
1.1.3. Vai trò của người khuyết tật trong đời sống xã hội
Người khuyết tật là một bộ phận cấu thành của xã hội không thể tách
rời và họ cũng có trách nhiệm tham gia vào các hoạt động xã hội và đóng góp
công sức của mình trong việc thúc đẩy và phát triển kinh tế - xã hội của mỗi
quốc gia và cũng có quyền được hưởng đầy đủ các thành quả phát triển của
nhân loại. Do mặc cảm về khiếm khuyết của cơ thể nên họ có tâm lý tự ti, bỏ
mặc không hòa nhập cộng đồng. Tuy nhiên, nếu họ vượt lên được hoàn cảnh
khó khăn đó thì họ có thể sống, hoạt động đóng góp cho xã hội như những
người bình thường khác. Tấm gương về thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký đã thôi

góa bụa, tuổi già hoặc thiếu sinh kế trong những hoàn cảnh vượt ngoài tầm
kiểm soát của mình [25].
Người khuyết tật luôn chiếm một tỉ lệ nhất định trong dân số mỗi quốc
gia, ở Việt Nam theo báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội (năm
2015), ước tính cả nước có khoảng 7,2 triệu người khuyết tật, chiếm 7,8% dân
số cả nước [17]. Xem xét về thể trạng và cơ hội tạo thu nhập đảm bảo cuộc
sống cho thấy đương nhiên với những khuyết tật của mình, nhóm đối tượng
này trở thành yếu thế so với những người bình thường. Họ cần hỗ trợ, giúp đỡ
để đảm bảo cuộc sống. Với trách nhiệm đảm bảo và chăm lo đời sống cho các
thành viên xã hội, Nhà nước xác định trách nhiệm của mình đối với cuộc sống
của người khuyết tật, trước hết và cơ bản là khoản trợ cấp hỗ trợ nuôi dưỡng
trong chế độ bảo trợ xã hội. Trợ giúp xã hội là hình thức an sinh xã hội mang
tính xã hội cao nhất vì đây là hình thức không đòi hỏi người hưởng trợ cấp
phải nộp bất cứ một khoản đóng góp nào.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, trợ giúp xã hội là “sự giúp
đỡ bằng tiền mặt hoặc điều kiện sinh sống thích hợp để đối tượng được giúp
đỡ và có thể phát huy khả năng, tự lo liệu cuộc sống của mình hoặc gia đình,
sớm hòa nhập với cộng đồng” [20, tr.641].

17


Ở Việt nam, khái niệm trợ giúp xã hội gần với bảo trợ xã hội, là một
trong ba bộ phận cấu thành cơ bản của hệ thống an sinh xã hội. Trong một số
tài liệu nghiên cứu, thuật ngữ bảo trợ xã hội hay trợ giúp xã hội và cứu trợ xã
hội đều đề cập đến nội hàm khái niệm có phạm vi như nhau [27, tr.86-87].
Theo đó, trợ giúp xã hội là sự đảm bảo và giúp đỡ của Nhà nước, sự hỗ trợ
của nhân dân và cộng đồng về thu nhập và các điều kiện sinh sống bằng các
hình thức và biện pháp khác nhau đối với các đối tượng bị lâm vào hoàn cảnh
rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, thiệt thòi, yếu thế, không đủ khả năng tự lo được

hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật.
1.2.2. Sự cần thiết phải có pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người
khuyết tật
Thứ nhất, pháp luật là công cụ để nhà nước quản lý xã hội. Thông qua
pháp luật, các chính sách trợ giúp xã hội nói chung, trợ giúp xã hội cho người
khuyết tật nói riêng được thể chế hóa thành các quy định pháp luật.
Với chức năng xã hội của Nhà nước, thì trợ giúp xã hội đối với người
khuyết tật là trách nhiệm của Nhà nước, chứ không đơn thuần là mục đích
nhân đạo, ban ơn, chiếu cố đến những người chịu thiệt thòi trong cuộc sống.
Các khoản trợ cấp, hỗ trợ cho cuộc sống của những người khuyết tật được
thực hiện như một sự phân phối lại lợi ích xã hội theo hướng công bằng, đảm
bảo cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Thứ hai, xuất phát từ tầm quan trọng của trợ giúp xã hội đối với cuộc
sống của người khuyết tật. Trợ giúp xã hội chủ yếu là sự hỗ trợ về tài chính
giúp cuộc sống của bản thân người khuyết tật và gia đình người khuyết tật bớt
đi phần nào khó khăn. Bên cạnh đó, sự hỗ trợ này thể hiện thái độ quan tâm
của Nhà nước, của cộng đồng đối với người khuyết tật giúp họ không còn
cảm thấy tự ti, mặc cảm vì khiếm khuyết của mình. Nhiều người khuyết tật từ
đó ý thức được vai trò và vị trí của mình trong xã hội, tự tin vươn lên trong
cuộc sống học tập và lao động như những người bình thường, trở thành công
dân tốt của xã hội.

19


Thứ ba, do yêu cầu của quá trình hội nhập nên việc ban hành pháp luật
về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật là tất yếu. Ngày 22/10/2007, Việt
Nam ký kết tham gia Công ước về quyền của người khuyết tật. Ngày
28/11/2014 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII,
kỳ họp thứ 8 đã phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status