ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG VĂN QUẾ
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LAI
CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hướng ứng dụng)
HÀ NỘI - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG VĂN QUẾ
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LAI
CHÂU
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380101.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hướng ứng dụng)
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. VŨ THU HIỀN
1.1.1. Người khuyết tật – đối tượng cần nhận được sự trợ giúp nhất từ
xã hội ..................................................................................................... 7
1.1.2. Khái niệm trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật ........................... 10
1.1.3. Nguyên tắc cơ bản của trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật ........ 12
1.2.
Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật ở Việt Nam ......... 15
1.2.1. Chính sách trợ cấp xã hội đối với người khuyết tật ............................ 15
1.2.2. quy định trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật ở cộng đồng và
cơ sở trợ giúp xã hội............................................................................ 21
1.2.3. Hỗ trợ, tạo điều kiện cho người khuyết tật hòa nhập cộng đồng ........ 24
Kết luận chương 1 ......................................................................................... 29
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ
GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU ............................................................ 30
2.1.
Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về trợ giúp xã
hội đối với người khuyết tật ............................................................. 30
2.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội .................................................................... 30
2.1.2. Hệ thống quy phạm pháp luật về trợ giúp xã hội ................................ 31
2.1.3. Mô hình tổ chức trợ giúp xã hội.......................................................... 31
2.1.4. Năng lực của những người làm công tác người khuyết tật ................. 32
2.2.
3.2.
Một số giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về trợ giúp xã
hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Lai Châu .............. 54
3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp xã hội đối với
người khuyết tật .................................................................................. 54
3.2.2. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trợ
giúp xã hội đối với người khuyết tật ................................................... 59
3.2.3. Đẩy mạnh xã hội hoá, huy động nguồn lực của các cơ quan, tổ
chức, cá nhân trong hoạt động trợ giúp xã hội đối với người
khuyết tật ............................................................................................. 60
3.2.4. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan
và hiệu quả hoạt động của Ban Công tác người khuyết tật ................ 62
3.2.5. Tăng cường công tác giám sát , thanh tra, kiểm tra đối với hoạt
động trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật .................................... 64
3.2.6. Nâng cao trình độ, năng lực của những người làm công tác
người khuyết tật .................................................................................. 65
3.2.7. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án về người
khuyết tật trên địa bàn tỉnh Lai Châu .................................................. 66
Kết luận chương 3 ......................................................................................... 69
KẾT LUẬN .................................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 72
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo đảm quyền con người là nhiệm vụ quan trọng trong tiến trình xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước
dân còn chưa nhận thức đẩy đủ về vấn đề người khuyết tật, xem công tác
người khuyết tật thuộc trách nhiệm của ngành Lao động –Thương binh và Xã
hội, xem việc trợ giúp người khuyết tật chỉ là hoạt động từ thiện, nhân đạo từ
cộng đồng; cơ sở vật chất tại các cơ sở trợ giúp người khuyết tật còn thiếu
thốn, nhất là trang thiết bị y tế phục hồi chức năng phù hợp cho người khuyết
tật, thiếu các dịch vụ trị liệu tâm lý…
Thực trạng trên đòi hỏi phải có những phương hướng, giải pháp để
khắc phục tồn tại, khó khăn và nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp xã hội
cho người khuyết tật, góp phần vào việc bảo đảm quyền của người khuyết
tật và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lai Châu. Vì
lý do trên, em chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với
người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Lai Châu" làm đề tài cho luận văn thạc
sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến vấn đề thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với
người khuyết tật đã có một số công trình nghiên cứu với những góc độ tiếp
cận khác nhau. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây:
- “Để nâng cao khả năng thực hiện pháp luật về việc làm và dạy nghề
đối với người tàn tật” của tác giả Nguyễn Đức Hoán đăng trên Tạp chí Lao
động và Xã hội, (308), 2007, tr.2-5.
- “Định hướng phát triển chính sách đối với người khuyết tật trong giai
đoạn tới” của tác giả Lê Bạch Hồng đăng trên Tạp chí Lao động và Xã hội,
(333), 2008, tr.14-29.
2
- “10 năm công tác trợ giúp người tàn tật và những vấn đề đặt ra”
của tác giả Nguyễn Hữu Hải đăng trên Tạp chí Lao động và Xã hội, (333),
2008, tr.16-18.
các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết
học Mác-Lênin; kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng
hợp, so sánh thống kê, tổng kết thực tiễn. Cụ thể là:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng chủ yếu tại Chương 1
để nêu và phân tích cơ sở lý thuyết của vấn đề nghiên cứu, từ đó khái quát hóa
thành những luận điểm, quan điểm làm cơ sở cho việc nghiên cứu các nội
dung khác trong luận văn.
- Phương pháp phân tích, so sánh được áp dụng nhằm làm rõ những nội
dung của Chương 2. Đây là chương đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về
trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật, qua đó nhận diện những ưu điểm,
hạn chế và đề xuất các giải pháp ở Chương 3.
- Phương pháp phân tích, chứng minh được sử dụng chủ yếu ở
Chương 3 nhằm làm rõ những yêu cầu, giải pháp đảm bảo thực hiện pháp
luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật nói chung, trên địa bàn tỉnh
Lai Châu nói riêng.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Luận văn là công trình nghiên cứu cơ bản, tương đối có hệ thống về
cơ sở lý luận , thực tiễn thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với
người
khuyết tật.
- Luận văn đã chỉ ra những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của thực
trạng thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật trên địa
bàn tỉnh Lai Châu.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t ; nâng cao hiê ̣u quả thực
hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật nói chung và trên
địa bàn tỉnh Lai Châu nói riêng trong thời gian tới.
5
giúp đỡ để đảm bảo cuộc sống và hòa nhập cộng đồng. Vì vậy, với trách
nhiệm đảm bảo và chăm lo đời sống cho các thành viên xã hội, Nhà nước đều
xác định trách nhiệm ở các mức độ, phạm vi nhất định đối với việc bảo đảm
cho người khuyết tật có được cuộc sống đầy đủ về sức khỏe và phúc lợi cho
họ và gia đình ở mức có thể.
Tuy nhiên, trong một thời kỳ dài, quan niệm về người khuyết tật chưa
được đề cập chính thức trong văn kiện quốc tế cũng như văn bản quy phạm
pháp luật mà xã hội chỉ nhìn nhận họ là những người tàn tật (Disable persons),
là đối tượng phúc lợi xã hội. Chỉ đến những năm 80 của thế kỷ XX, nhận thức
về người khuyết tật đã có sự thay đổi và việc sử dụng thuật ngữ “Người
khuyết tật” đã thể hiện sự coi trọng đến nhóm người thiệt thòi này. Tuy vậy,
tùy vào điều kiện kinh tế, văn hóa- xã hội của mỗi nước, quan niệm về người
khuyết tật cũng có sự khác nhau.
7
Có quan niệm cho rằng: Người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể
chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan
trọng trong cuộc sống [16].
Có quan điểm khác cho rằng: Người khuyết tật là một trong những người
bị bất thường, mất mát của một cơ quan nhất định hoặc chức năng tâm lý hay
sinh lý, hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những người đã mất toàn bộ hoặc một
phần khả năng tham gia vào các hoạt động một cách bình thường [21].
Cũng có quan điểm cho rằng: Người khuyết tật là người có khiếm
khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác
với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và
trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác [5]…
Ở nước ta, trước đây trong các văn bản pháp luật chưa sử dụng thuật
ngữ "Người khuyết tật” mà sử dụng thuật ngữ “Người tàn tật” để chỉ người
thập nhất, trình độ học vấn thấp. Ngoài ra, người khuyết tật từ 15 tuổi trở lên
rất khó có việc làm, hầu hết người khuyết tật hoặc chưa bao giờ đi làm hoặc
đã từng đi làm nhưng lại bị thất nghiệp.
Theo ước tính của Tổ chức lao động quốc tế, có khoảng hơn 386 triệu
người trên thế giới trong độ tuổi lao động bị khuyết tật. Tỉ lệ thất nghiệp của
người khuyết tật ở một số quốc gia lên đến hơn 80%. Mặt khác, do bị khuyết
tật, người khuyết tật phải gánh chịu rất nhiều thiệt thòi trong cuộc sống xã
hội. Khuyết tật là nguyên nhân chính gây ra nhiều khó khăn cho người khuyết
tật trong việc thực hiện các công việc sinh hoạt hằng ngày, trong học tập, tiếp
cận dịch vụ chăm sóc y tế… Để khắc phục những khó khăn này, người khuyết
tật chủ yếu dựa vào gia đình – nguồn giúp đỡ chính đối với họ. Hoạt động hỗ
trợ cho người khuyết tật còn rất hạn chế. Thực tế cho thấy có sự khác biệt lớn
giữa nhu cầu của người khuyết tật và những giúp đỡ mà họ nhận được. Sự hỗ
trợ từ phía Nhà nước và cộng đồng thời gian qua mang tính từ thiện nhiều hơn
là phát triển con người. Người khuyết tật được hỗ trợ về bảo hiểm y tế, bảo
hiểm xã hội, thực phẩm… nhưng lại ít được trợ giúp trong việc làm, dạy nghề
và tham gia hoạt động xã hội.
Từ sự phân tích trên, có thể thấy rằng người khuyết tật phải chịu những
khó khăn, thiệt thòi nhất định trong sinh hoạt cá nhân, học tập, lao động; thực
9
hiện các quyền, hưởng các dịch vụ xã hội một cách đầy đủ và hòa nhập cộng
đồng như những người bình thường khác, nhất là trong trường hợp gia đình
người khuyết tật không có đủ điều kiện kinh tế, nhân lực để chăm sóc, hỗ trợ
người khuyết tật. Vì vậy, để khắc phục những khó khăn này, người khuyết tật
rất cần sự trợ giúp của xã hội và dưới góc độ bảo đảm quyền con người, có
thể nói rằng trợ giúp xã hội là một yêu cầu khách quan đòi hỏi trách nhiệm
của Nhà nước và sự chung tay của cộng đồng để bảo đảm cho người khuyết
động của các cơ quan quản lý nhà nước về người khuyết tật, cơ quan, tổ chức
thực hiện công tác người khuyết tật nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích hợp
pháp của người khuyết tật. Do đó, việc bảo đảm hiệu quả trợ giúp xã hội đối
với người khuyết tật cũng đòi hỏi phải đáp ứng những yêu cầu cải cách hành
chính, nhất là việc ứng dụng công nghệ thông tin nhằm giảm thiểu các chi phí
tuân thủ các thủ tục hành chính trong hoạt động trợ giúp xã hội cũng như đảm
bảo tính công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện pháp luật về trợ giúp
xã hội đối với người khuyết tật, nhất là việc giải quyết các chính sách, chế độ
đối với người khuyết tật.
53
3.2. Một số giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về trợ giúp xã
hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Lai Châu
3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp xã hội đối
với người khuyết tật
Hiệu quả trợ giúp xã hội nói chung, trợ giúp xã hội đối với người
khuyết tật nói riêng phụ thuộc rất lớn vào quy định của pháp luật. Thực tế cho
thấy rằng pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật ở nước ta thời
gian qua mặc dù đã được hoàn thiện nhưng cũng còn những vướng mắc, bất
cập trước những yêu cầu bảo vệ người khuyết tật và điều kiện phát triển kinh
tế đất nước. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người
khuyết tật là cần thiết, theo đó cần tập trung vào những nội dung cơ bản sau:
Một là, hoàn thiện hơn nữa các quy định về cơ sở bảo trợ xã hội đối
với người khuyết tật theo hướng sau:
- Khuyến khích thành lập cơ sở bảo trợ xã hội tư nhân, cơ sở bảo trợ
dành riêng cho người khuyết tật.
- Quy định cụ thể điều kiện cơ sở vật chất, kĩ thuật, trình độ và các tiêu
chí về đạo đức, nghề nghiệp của cán bộ, nhân viên thực hiện việc chăm sóc
mở rộng phạm vi đối tượng người khuyết tật được hưởng trợ giúp xã hội so
với Luật Người khuyết tật hiện hành. Thực tế cho thấy rằng trong nhiều năm
qua, các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đã không ngừng mở rộng
các đối tượng người khuyết tật được hưởng trợ giúp xã hội nhưng phạm vi đối
tượng người khuyết tật được hưởng trợ giúp xã hội còn hạn chế. Vì vậy, trước
yêu cầu cần mở rộng phạm vi đối tượng, tăng mức trợ cấp và các hỗ trợ khác
cho người khuyết tật với tương quan về khả năng đáp ứng của điều kiện kinh
tế - xã hội cho thấy không thể ngay lập tức bổ sung đối tượng hưởng trợ giúp
xã hội mà cần có lộ trình cụ thể theo từng giai đoạn, phù hợp với điều kiện
thực tế, đảm bảo tính khả thi. Trước mắt, có thể tính đến việc bổ sung một số
đối tượng người khuyết tật được hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên đối với
55
những người mắc bệnh tâm thần, bệnh tự kỷ, bệnh trầm cảm; người khuyết tật
nhẹ nhưng thuộc hộ gia đình nghèo, không nơi nương tựa, gặp khó khăn trong
lao động mà đang mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi; bổ sung đối
tượng người khuyết tật nặng không nơi nương tựa, không tự lo liệu được cuộc
sống được tiếp nhận vào nuôi dưỡng, chăm sóc tại các cơ sở bảo trợ xã hội
(theo quy định hiện nay chỉ tiếp nhận người khuyết tật đặc biệt nặng).
- Cần hoàn thiện các quy định của pháp luật về xác định mức độ khuyết
tật, cấp giấy xác nhận mức độ khuyết tật nhằm đảm bảo tính chính xác và chặt
chẽ. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần ban hành văn bản hướng dẫn
việc xác định mức độ khuyết tật cụ thể hơn để Hội đồng giám định cấp xã tổ
chức tốt việc xác định chính xác, đúng đối tượng người khuyết tật được
hưởng trợ cấp xã hội.
Bai là, về trợ cấp xã hội đối với người khuyết tật
Cần hoàn thiện quy định của pháp luật về trợ cấp xã hội thường xuyên
và đột xuất với người khuyết tật theo hướng sau:
- Bổ sung quy định cụ thể về việc thống kê, rà soát lại đối tượng người
khuyết tật được hưởng trợ giúp xã hội.
Việc thống kê, rà soát đối tượng hưởng trợ giúp xã hội cần được quy
định là trách nhiệm thường xuyên của cán bộ cấp xã trực tiếp làm công tác trợ
giúp xã hội, bởi lẽ họ là những cán bộ nắm bắt được tình hình của nhân dân
địa phương một cách rõ ràng và chính xác, đồng thời chính những cán bộ này
cũng chính là chủ thể trực tiếp thực hiện công tác xét duyệt hồ sơ, thẩm định
thương tật của người khuyết tật, đề xuất phương án để người khuyết tật hưởng
chế độ phù hợp theo quy định của pháp luật, do đó họ có thể nắm vững số
lượng cũng như tình trạng của từng đối tượng khuyết tật.
- Xây dựng các chính sách trợ giúp cho người khuyết tật hướng đến
mục tiêu tăng cường hỗ trợ sinh kế phù hợp với đặc điểm sức khỏe và nhu
cầu của đối tượng người khuyết tật. Trong thiết kế chính sách, cần đổi mới
57
quan điểm tiếp cận đối với người khuyết tật phải dựa trên quyền bình đẳng
của công dân, coi người khuyết tật là công dân bình đẳng với mọi công dân
khác chứ không chỉ là đối tượng chăm sóc của xã hội, nhất là khi Việt Nam
đã phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền của người khuyết tật.
Ví dụ như: trong vấn đề bảo hiểm y tế, hoạt động văn hóa, du lịch, cần thực
hiện chế độ miễn phí những người khuyết tật nói chung mà không có sự
phân biệt mức độ khuyết tật.
Bốn là, ban hành quy định về thành lập quỹ trợ giúp xã hội dành cho
người khuyết tật thống nhất từ Trung ương đến địa phương để thống nhất,
điều hòa việc sử dụng quỹ trợ giúp xã hội.
Hiện nay nước ta chưa xây dựng được quỹ trợ giúp xã hội theo đúng
nghĩa mà chỉ thực hiện cấp phát trợ cấp từ ngân sách trung ương và ngân sách
địa phương, trong đó ngân sách địa phương là chủ yếu. Vì vậy, số lượng đối
công tác trợ giúp xã hội.
Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật phải làm rõ được bản chất của
hoạt động trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật không phải là sự ban ơn,
nhân đạo của Nhà nước mà là trách nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng đối
với những người khuyết tật để từ đó khích lệ, động viên, tạo điều kiện cho
người khuyết tật phấn đấu khắc phục khó khăn và tích cực hòa nhập cộng
đồng, đóng góp vào sự phát triển của đất nước. Từ đó, trong từng hoạt động
trợ giúp xã hội, đòi hỏi người làm công tác người khuyết tật phải chủ động,
linh hoạt trong việc lựa chọn, giải thích các quy định pháp luật được áp dụng
để không chỉ người khuyết tật hiểu, nhận thức đúng mà trong nhiều trường
hợp ngay chính cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan cũng nhận thức rõ trách
nhiệm phối hợp để giải quyết phù hợp những vướng mắc, khó khăn trong quá
trình trợ giúp xã hội. Tuy nhiên, để làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật, đòi hỏi người
làm công tác xã hội phải nghiên cứu, đánh giá cụ thể từng trường hợp, hoàn
59
cảnh của người khuyết tật để có sự lựa chọn, phối hợp đúng với các cơ quan,
tổ chức cá nhân liên quan trong hoạt động trợ giúp, đảm bảo các chế độ, chính
sách đối với người khuyết tật và ngăn ngừa sự kỳ thị, phân biệt đối xử với
những người khuyết tật.
Việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về trợ giúp xã hội đối
với người khuyết tật cần tập trung vào việc tuyên truyền, phổ biến các Công
ước của Liên Hợp Quốc về quyền của người khuyết tật và các văn bản quy
phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam liên quan đến người khuyết tật. Đặc
biệt cần tập trung lồng ghép vào việc thực hiện các chương trình, đề án, dự án
truyền thông; xây dựng tài liệu tuyên truyền; tổ chức đào tạo, tập huấn công
tác truyền thông đối với người khuyết tật về thái độ, cách ứng xử đối với
được can thiệp sớm. Vì vậy, trong lĩnh vực y tế, cần chú trọng xã hội hóa hoạt
động phát hiện sớm và can thiệp sớm để đảm bảo cho các cơ sở y tế chuyên
khoa phụ sản thực hiện đầy đủ hoạt động xét nghiệm ban đầu với tất cả các trẻ
sơ sinh, nhất là các vùng nông thôn, vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa có
nhiều dân tộc thiểu số dưới 10.000 người sinh sống để giảm tỷ lệ khuyết tật
bẩm sinh đang chiếm tỷ lệ tương đối cao.
Trong lĩnh vực giáo dục, cần nghiên cứu mô hình giáo dục hoà nhập
phù hợp với khả năng và đặc điểm của từng dạng khuyết tật. Để thực hiện
công việc này đòi hỏi chủ trương xã hội hoá cao trong công tác nghiên cứu
mô hình trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục. Nhiệm vụ của trung tâm là
phát hiện sớm và can thiệp nhằm lựa chọn phương thức giáo dục phù hợp, tư
vấn tâm lý tình cảm giáo dục hướng nghiệp và cung cấp chương trình, nội
dung, thiết bị tài liệu phù hợp đặc thù của từng dạng trẻ khuyết tật cũng như
mức độ khuyết tật.
Ở phạm vi địa bàn tỉnh Lai Châu, để thực hiện công tác xã hội hóa hoạt
động trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật, các cơ quan có thẩm quyền cần
khuyến khích việc áp dụng và mở rộng mô hình trung tâm bảo trợ xã hội tư
61