PHƯƠNG PHÁP CẤP CỨU BỆNH NHÂN NGỪNG HÔ HẤP - NGỪNG TUẦN HOÀN
1. PHƯƠNG PHÁP ÉP TIM NGOÀI LỒNG NGỰC.
1.1. MỤC ÐÍCH
ép tim ngoài lồng ngực là một thủ thuật dùng áp lực mạnh, liên tục và nhịp nhàng ép lên 1/3 dưới
của xương ức. Tim được ép giữa xương ức và xương sống nằm ở PHÍA SAU, GIÚP CHO SỰ
LƯU THÔNG MÁU giữa tim, phổi, não và các tổ chức khác của cơ thể đồng thời kích thích ÐỂ
TIM ÐẬP LẠI KHI TIM NGỪNG ÐẬP.
ép tim thường có hiệu quả hơn nếu tiến hành kết hợp với hô hấp nhân tạo.
1.2. Kỹ thuật tiến hành.
1.2.1. Chuẩn bị dụng cụ:
Một tấm ván hoặc một khay lớn rộng hơn lưng của nạn nhân.
1.2.2. Tiến hành
a) Ðặt nạn nhân nằm ngửa trên một mặt phẳng cứng, chân cao hơn đầu. Nếu nằm trên giường
đệm thì lót tấm ván hoặc khay dưới lưng.
b) Cấp cứu viên quỳ bên cạnh nạn nhân (ngang tim). (Cấp cứu viên đứng thán nằm trên giường).
c) Ðặt bàn tay trái lên 1/3 dưới xương ức, hướng sang bên trái, bàn tay phải úp lên mu bàn tay
trái, 2 tay duỗi thẳng hai vai hướng thẳng vào hai tay. Phải xác định rõ vị trí trước khi đặt tay lên
ngực nạn nhân.
Hình 182. Mặt cắt ngang của lồng ngực, tim được ép giữa xương ức và cột sống
d) Dồn sức nặng của toàn thân ép xuống lồng ngực của nạn nhân nhịp nhàng, liên tục 60-80 lần/1
phút. (H.183)
e) Khi phối hợp ép tim và thổi ngạt, cứ 5 lần ép tim thì thổi ngạt 1 lần. Phương pháp này cần có 2
người. (H.184)
f) Kiên trì ép cho đến khi tim đập trở lại. Khi cần thiết có thể thay người khác, nhưng phải đảm bảo
liên tục.
g) Trong khi cấp cứu phải theo dõi sắc mặt, mạch, đồng tử của nạn nhân. Sau 60 phút tim không
đập trở lại, đồng tử giãn to thì thôi.
h) Khi tim đã đập trở lại, toàn trạng ổn định, cho nạn nhân nằm thoải mái, đắp ấm và tiếp tục theo
dõi mạch, nhịp thở của nạn nhân.
1.2.3. Ghi hồ sơ.
a) Tình trạng nạn nhân trước, trong và sau khi ép tim
phổi nạn nhân có nhiều oxy.
Nếu không thấy lồng ngực nạn nhân phồng lên trong khi thổi vào, phải kiểm tra lại tư thế của đầu
và cằm, xem đường hô hấp có thông không.
g) Ngẩng đầu hít vào thật sâu đồng thời bỏ tay bịt mũi nạn nhân.
h) Tiếp tục thổi 15-20 lần/phút cho người lớn, 20-25 lần/phút cho trẻ em, 30-40 lần/phút cho trẻ
nhỏ và trẻ sơ sinh, thổi cho đến khi nạn nhân tự thở lại được. Khi cần thay đổi người khác cần
phải duy trì động tác, không được để gián đoạn.
i) Lấy gối dưới vai ra, cho nạn nhân nằm thoải mái và đắp ấm.
j) Theo dõi sát mạch, nhịp thở và chăm sóc nạn nhân cho đến khi tình trạng ổn định.
Lau mồm, mặt cho nạn nhân.
2.2.3. Thu dọn và bảo quản dụng cụ
- Thu dọn gối, chăn hoặc vải trải gửi đi giặt.
- Ðổ bỏ gạc bẩn và những ngoại vật lấy ra từ nạn nhân.
2.2.4. Ghi hồ sơ
- Tình trạng nạn nhân trước, trong và sau khi thổi ngạt.
- Thời gian thổi ngạt
- Tên người thực hiện
2.2.5. Những điểm cần lưu ý
a) Kỹ thuật thổi ngạt cần được thực hiện ngay tức khắc, tại chỗ và liên tục.
b) Trong khi thổi ngạt phải đồng thời theo dõi mạch, đồng tử của nạn nhân để kết hợp đánh giá
tình trạng nạn nhân.
c) Ðối với trẻ nhỏ: miệng của cấp cứu viên có thể trùm kín cả miệng và mũi của trẻ nhưng thổi với
nhịp nhanh hơn và nhẹ hơn.
d) Luôn luôn đảm bảo đường thở được thông suốt.
3. PHỐI HỢP ÉP TIM VÀ THỔI NGẠT
Khi xác định một bệnh nhân ngững tuần hoàn, người điều dưỡng cần làm theo các bước sau:
3.1. Ðể bệnh nhân nằm trên nền cứng.
3.2. Khai thông hô hấp.
- Ðể bệnh nhân nằm ngửa đầu tối đa
- Móc đờm, dãi, dị vật (răng giả) trong miệng bệnh nhân.