ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN
TÊN ĐỂ TÀI:
XÂY DỤNG MÔ HÌNH c ơ SỞ DỮ LIỆU HỆ THÔNG TIN ĐỊA LÝ PHỤC
VỤ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CÂP QUẬN
(LẤY VÍ DỤ QUẬN TÂY Hồ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
MÃ SỐ: QT- 02-21
CHỦ TRÌ ĐỂ TÀI: TS. NHỮ THỊ XUÂN
CÁN B ộ PHỐI HỢP:
GVC. Nguyễn Đức Khả
TS. Trần Quốc Bình
CN. Đỉnh Ngọc Đạt
ThS. Đinh Bảo Hoa
CN. Bùi Quang Thành
■I I
ũT / A O
HÀ NỘI, 2003
Ơ
BÁO CÁO TÓM TẮT
1. TÊN ĐỂ TÀI: XÂY DỤNG MÔ HÌNH c ơ SỎ DỬ LIỆU HỆ THÔNG TIN ĐỊA LÝ
PHỤC VỤ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CÂP QUẬN
(LẤY VÍ DỤ QUẬN TÂY HỔ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI).
2
-
Kiến nghị về tổ chức và vận hành hộ thông tin địa lý phục vụ quản lý nhà
nước về đất đai ở quận Tay Hồ.
5. CÁC KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
+ Phát triển lý luận xây dựng mô hình cơ sở dữ liệu GIS trong quản lý đất đai
cấp quận, huyện;
+ Thành lập một số các bản đồ phục vụ quản lý đất đai;
+ Xây dựng mô hình cơ sở dữ liệu hệ thông tin địa lý phục vụquản lý đất đai
cấp quận, huyện;
+ Đưa ra giải pháp quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu, tổ chức và vận hành hệ
thông tin địa lý phục vụ quản lý đất đai
+ Hỗ trợ 2 sinh viên thực tập và làm khoá luận tốt nghiệp với đề tài quản lý
đất đai khu vực nghiên cứu
+ Góp phần nâng cao trình độ lý luận và kiến thức thực tế về xây dựng mô
hình cơ sở dữ liệu hệ thông tin địa lý phục vụ quản lý đất đai.
+ Các tư liệu mô hình cơ sở dữ liệu hệ thông tin địa lý là nguồn tài liệu tham
khao phục vụ giảng dạy các chuyên đề có liên quan.
+ Công bố 3 bài báo
6. TÌNH HÌNH KINH PHÍ CỦA ĐỂ TÀI
Tổng kinh phí: 20 000 000 đ. Thực hiện trong 1 năm. Đã quyết toán xong
với tài vụ.
4. OBJECTIVES AND CONTENTS
4.1 Objectives
4- Establishment of the GIS database model for effectively land
management in district of Tayho, Hanoi. Thence , proposing standard
database model for land management on district level.
4.2 Contents
+ Overall analyses of GIS applications for land management in the world.
+ Analyses and evaluations of the GIS apllications for land management in
Vietnam
+ Analyses of the urbanisations, landuse, and landuse change in district of
Tayho, Hanoi
+ Analyses and proposals of GIS database model
for land management in
district of Tayho, Hanoi
+ Proposals for GIS management for land management on district level
4
5. ACHIVEMENTS
+ Contributed to the theoratical establishment of GIS database model on
district level.
+ Made several maps for land management
+ Established the GIS database model for land management
+ Carried out several proposals on database managements and GIS
utilisations for land management
+ Assisted 2 students whose theses involving in land management in the
study area
10
1.3. Tinh hlnh ứng dụng công nghệ HTTĐL trong quản lý đất đô
thị ớ Việt Nam
11
CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ, HIỆN TRẠNG s ử
DỤNG ĐẤT VÀ KHẢ NĂNG ÚNG DỤNG CÔNG NGHỆ
HTTĐL TRONG QUẢN LÝ ĐẤT đ a i q u ậ n t â y H ồ
13
2.1. Quá trình đô thị hoá khu vực quận Tây Hồ, thànhphố Hà Nội
J3
2.2. Hiện trạng và biến động sử dụng đất đai của quận Tây Hổ giai
đoạn 1992-2001
14
2.3. Nhu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ GIS trong quản lý đất
đai quận Tây Hổ
22
CHƯƠNG 3. XÂY DỤNG MÔ HÌNH c ơ SỞ DỬ LIỆU HỆ THÔNG TIN ĐỊA
LÝ PHỤC VỤ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI QUẬN TÂY H ồ
61
4 . 1. Yêu cầu cơ sở hạ tầng kĩ thuật
61
4.2. Kicn nghị về tố chức và vận hành hệ thông tin địa lý phục vụ
6
quan lý đất dai
62
CHUƠNG 5. XÂY DỤNG THỬ NGHIỆM PHAN m ề m q u ả n l ý c ơ s ở d ữ
LIỆU HỆ THÔNG TIN ĐỊA LÝ PHỤC v ụ CÔNG TÁC QUẢN
LÝ ĐẤT ĐAI Ở QUẬN TÂY H ồ
68
5.1. Thiết kế menu chương trình
68
5.2. Thiết kế các giao diện chương trình
70
KẾT LUẬN
thành các nghề mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự thay đổi lối sống, văn
hoá và sự tổ chức lại bộ máy quản lý và hành chính [3].
Trong những năm gần đây, ỡ Việt Nam nói chung, ở các thành phố nói
riêng, khi có điều kiện thuận lợi như chính sách “Đổi mới” trong phát triển kinh
tế - xã hội, thì tốc độ đô thị hoá diễn ra một cách nhanh chóng và thiếu quy
hoạch, đã tác động trực tiếp và gián tiếp tới sự biến động sử dụng đất, dẫn đến
việc quản lý đất đai đô thị gặp nhiều khó khãn.
Đề' công tác điều hành, quản lý đất đai một cách tốt nhất ở đồ thị nói riêng,
của cá nước nói chung, cần phải được cung cấp thông tin kịp thời, có độ chính
xác và tin cậy cao. Các yêu cầu đó hiện nay chỉ có thể đáp ứng được bằng Hệ
thông tin địa lý (HTTĐL).
Hệ thông tin địa lý là một công nghệ, một phương pháp khai thác và sử
dụng thông tin không gian, là một hệ thống kết hợp giữa con người, các thiết bị
kỹ thuật (phần cứng và phần mềm), với một cơ sở dữ liệu (CSDL) có định hướng
và những quy trình xử lý dữ liệu, nhằm đạt được một mục đích nào đó và đưa ra
các giái pháp hay quyết định cho những vấn đề thực tiễn.
8
Các chức năng cơ bản của HTTĐL bao gồm: nhập dữ liệu, quản trị cơ sớ
dữ liệu, phân tích xử lý dữ liệu và xuất dữ liệu. Cơ sở dữ liệu HTTĐL là hệ thống
các dữ liệu địa lý được tổ chức, lưu trữ, khai thác và sử dụng theo một mục đích
cụ thể trong HTTĐL, đặc thù của nó là: các thông tin đã được sấp xếp, gắn với
một lãnh thổ địa lý và được quản lý cả hai dạng thông tin: không gian (vị trí địa
lý, hình dạng, kích thước của đối tượng) và phi không gian (bản chất của đối
tượng); Các thông tin được tổ chức theo kiểu quan hẹ, trong đó mỗi đối tượng đồ
hoạ hay thông tin không gian có khả năng gắn kết với một hay nhiều số liệu, giá
trị thuộc tính khác nhau. Khả nâng và sức mạnh của HTTĐL là ở chỗ nó có thể
xử lý các đối tượng không gian theo giá trị định lượng hay định tính của các
Nhu cầu áp dụng HTTĐL đối với quản lý đô thị: cần phải quản lý thông tin
địa lý một cách khoa học và hệ thống với các lý do: - Tốc độ phát triển chung của
nền kinh tế và xã hội nên nhu cầu thiết lập các hệ thống CSDL dùng chung hoặc
của riêng từng ngành là rất lớn, nhu cầu nâng cao nãng lực quản lý đô thị, nhu
cầu cái cách và hoàn thiện hệ thống hành chính; Công nghệ thông tin phát triển
rất nhanh; Các phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu bán đồ ngày càng trở nên
hoàn thiện với các thiết bị hiện đại và đồng bộ, làm cho chi phí gia cồng dữ liệu
giam nhanh; Công nghệ về thiết lập, khai thác và sử dụng hệ thống thông tin địa
lý đang dần dần được xây dựng thành các tiêu chuẩn phổ biến đối với các nước
trên thế giới; Cơ sở pháp lý và tổ chức đã từng bước được hoàn thiện, tạo điều
kiện cho sự phát triển các ứng dụng trong quản lý cũng như chia sẻ các dữ liệu
của từng ngành. Với những nhu cầu trên, việc xây dựng CSDL HTTĐL phục vụ
quan lý đất dô thị là rất cần thiết.
1.2. TỔNG QUAN VỂ ỨNG DỤNG HỆ THÒNG TIN ĐỊA LÝ TRONCỈ QUẢN LÝ ĐẤT
ĐAI KHU V ự c ĐÔ THỊ TRÊN THẾ GIỚI
Trên thế giới, lịch sử phát triển và ứng dụng của HTTĐL đã có khởi đầu từ
những năm 50 của thế kỷ 20. Khi đó, các nhà bản đồ và tin học trên thế giới đã
kết hợp nghiên cứu về một hệ thống máy móc và thiết bị vẽ bản đồ tự động.
Những ứng dụng sớm nhất và hình thành nền tảng về HTTĐL là ở Canada, nơi
mà những nghiên cứu về kỹ thuật sử dụng máy tính để lưu trữ và xử lý số liệu,
lập ban đồ và xử lý các thông tin không gian lần đầu tiên được thực hiện. Những
phiên ban đáu tiên cua các HTTĐL là những phần mềm nhập dữ liệu và vẽ bán
đổ đơn gián; việc xử lý các thông tin đồ hoạ còn rất hạn chế.
Sau năm 1980, công nghệ HTTĐL phát triển mạnh mẽ, được ứng dụng trong
nhiều lĩnh vực khoa học và hoạt động thực tiễn có sử dụng thông tin không gian,
đặc biệt ớ Mỹ, Canada và Châu Âu, người ta đã xây dựng và không ngừng hoàn
thiện cúc chương trình phần mềm có uy tín quốc tế như Arclnfo, PCI, ILWIS,
SPAND, IDRISI, ... Công nghiệp sản xuất máy tính phát triển mạnh, máy tính trở
thành công cụ phổ biến trong mọi hoạt động nghiên cứu, thiết kế và quản lý xã
khuyến khích phát triển. Năm 1995 dự án HTTĐL quốc gia ra đời, nhằm mục
đích truyền bá rộng rãi về công nghệ HTTĐL trong cả nước, chuyển giao công
nghệ và Ihiêì bị, máy móc cho các tính, xây dựng một số cơ sở dữ liệu cần thiết
để quán lý tài nguyên và môi trường. HTTĐL được áp dụng rộng rãi trong cá
nước, cụ thế là ớ các cơ quan ngành Địa chính, Khoa học Công nghệ và Mỏi
trường. Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trong công tác quán lý, điều hành
11
cúa bộ máy Nhà nước ĩừ trung ương đến các tỉnh, thành phố, trong các ngành như
quán lý địa chính và bản đồ - hệ thống các bản đồ địa chính tại các sở Địa chính
và Bộ Tài nguyên và mồi trường, quản lý xây dựng và quy hoạch đô thị, nông
thôn, quy hoạch đất nông nghiệp, quy hoạch quản lý rừng, quản lý môi trường,
địa chất, khoáng sản và dầu khí, an ninh quốc phòng, khí tượng thuỷ văn, đu
lịch..., dặc biệt được áp dụng một cách tuyệt đối và hiệu quá trong địa lý.
Trong công tác quản lý đất đai, công nghệ HTTĐL được ứng dụng rất sớm,
ngay từ những ngày đầu, khi HTTĐL được ứng dụng vào Việt Nam, đã và đang
irứ thành một công cụ rất hữu ích, không thể thiếu. Việc ứng dụng Hệ thông tin
địa lý phục vụ quản lý đất đai luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của ngành Địa
chính. Bên cạnh “Dự án khả thi xây dựng Cơ sở dữ liệu Quốc gia về tài nguyên
đất” của Tổng cục Địa chính [1998], nhiều tác giả đã đề cập đến vấn đề xây dựng
Hệ thòng tin địa lý phục vụ quản lý đất đai cấp Tỉnh [2, 4, 5, 10, 15]. Hộ thống
cơ sở dữ liệu (CSDL) được thiết kế theo kiểu phân cấp và thống nhất giữa các đơn
vị lãnh thổ hành chính. Việc xây dựng cơ sở dừ liệu ở cấp quận, huyện một cách
hoàn chính và đầy đủ là bộ phận quan trọng tạo nén CSDL cấp cao hơn, phục vụ
đắc lực cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai.
12
máy da giầy Thuỵ Khuê,
hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo, trường học, bệnh viện,
cáu lạc bộ, sân vận động, rạp chiếu phim, khu tập thế, trụ sớ cơ quan, khách sạn
13
.... Còn ở các xã ngoại thành, do chính sách hợp tác xã hoá sản xuất nông nghiệp
nên các nghề thủ công nghiệp cá thể, các hoạt động thương nghiệp, dịch vụ bị
hạn chế và thoái hoá dần, nổi lên mô hình các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp
theo hướng xă hội chủ nghĩa có hệ thống hạ tầng cơ sở thống nhất, với chiến lược
hạn chế lấy đất canh tác nông nghiệp vào phát triển đô thị, do vậy mức độ đô thị
hoá ở những xã ngoại thành trong giai đoạn xã hội chủ nghĩa rất chậm, gần như
chững lại. Tuy nhiên, tại khu vực nghiên cứu một số diện tích đất nông nghiệp
được chuy.ển sang đất chuyên dùng cần thiết như xây dựng hệ thống đê, giao
thông, một số khách sạn, nhà nghỉ quốc doanh, một số đất canh tác: rau, hoa,
màu được chuyển sang đất thổ cư [7],
Giai đoạn từ nãm 1989 đến nay: giai đoạn cơ chế thị trường, dân số bùng nổ,
nhu cầu về sử dụng đất quá lớn. Luật đất đai (nãm 1988) tuy có, song còn nhiều
điểm hạn chế, nên ở một khu vực ven đô có nhiều lợi thế về tự nhiên, kinh tế, xã
hội như Tây Hồ, quá trình đô thị hoá diễn ra với tốc độ nhanh và không theo quy
hoạch. Nhiều diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt đất trồng trọt (rau, hoa, cây
cánh), đất hồ, ao, đầm đã bị chuyển đổi thành đất ở, đất xây dựng khách sạn, nhà
hàng, dịch vụ du lịch ... làm cho diện tích đất canh tác giảm nhanh chóng.
Nãm 1995, quận Tây Hồ được thành lập dựa trên cơ sở tách ra và tổ chức lại
3 phường của quận Ba Đình và 5 xã của huyện Từ Liêm theo nghị định 69/CP
của Chính phủ ban hành ngày 28/10/1995. Cùng với việc thành lập một số quận,
trong dó có quận Tây Hồ, Nhà nước đã có quy hoạch tổng thể cho thủ đô Hà Nội
tới năm 2010, pháp luật cũng được bổ sung (năm 1993), do vậy, quá trình đồ thị
Hổng nằm dọc theo ranh giới giữa quận Tây Hồ với huyện Gia Lầm và huyện
Đỏng Anh. Phía Tây và Tây Nam giáp huyện Từ Liêm và quận Cầu Giấy - một
quận mới thành lập, tốc độ đỏ thị hóa cao, tác động lớn đến sự phát triển kinh tế
của Tây Hổ. Phía Đông Nam và Nam giáp quận Ba Đình - một trung tâm hành
chính, chính trị của thành phố và cả nước. Với vị trí này, tương lai quận Tây Hổ
sẽ là trung tâm của thành phố Hà Nội trong quá trình phát triển về phía bắc. Tây
HỒ có nhiều tiềm nãng phát triển, diện tích đất trống còn nhiều, có cảnh quan
thicn nhiên lý tưởng là Hồ Tây, nên có sức hấp dẫn cao về nhập cư, xây dựng,
đặc biệt là các công trình khách sạn, biệt thự, nhà nghỉ. Với lợi thế về vị trí nói
trên sè tạo ra những tiềm nãng về kinh tế cho Tây Hồ phát triển.
Địa chất, địa hình: Địa hình quận Tây Hồ tương đối bằng phẳng, có chiều
hướng cao dần từ Nam lên Bắc, có sông Hồng chay từ tây bắc xuống đông nam.
Num iiiáp với sông Hồng, nên quận Tây Hồ có tuyến đê dài chạy từ chân cầu
Thăng Long (tính từ phường Phú Thượng) đến bãi An Dương (tính đến hết
phường Yên Phụ) làm cho địa hình, đất đai quận được chia thành hai vùng rõ rệt,
dỏ là khu vực trong đê và khu vực ngoài đê,
Khu vực ngoài đê: Đất xây dựng, đất ở có độ cao thay đổi từ 9 m đến 14 m;
đãì nông nghiệp có độ cao từ 7m đến 12m; một sô' nơi có ao hồ trũng, độ cao chỉ
từ 3m đến 7m. Đây là khu vực có địa tầng trên cùng là cát, các lớp á cát và á sét
có nền địa chất không ổn định, không thuận lợi cho xây dựng, cần hạn chế xây
dựnii.
15
Khu vực trong đê: Đất xây dựng có độ cao thay đổi từ 6m đến 12m, đất nồng
nghiệp có độ cao từ 4m đến 9m; một số nơi có ao hồ trũng nên độ cao thấp từ 2m
đến 7m. Đây là khu vực có địa tầng lớp trên cùng là á sét với chiều dày từ 3m đến
10m, lớp tiếp theo là cát, có nền địa chất ổn định thuận lợi cho xây dựng nhà cao
tầng.
Klií hậu: Quận Tây Hổ có chung điều kiện khí hậu của thủ đô Hà Nội là nhiệt
b. Các điều kiện kỉnh tế xã hội - những yếu tố chủ yếu tác động mạnh
đến đặc điểm sứ dụng đất quận Tây Hồ.
17
\ J
:
ũ ĩl.m
Dân a t vù lao độniỊ: Quận Tây Hổ bao gồm 8 phường với tổng số dân là
92736 người (2000) và mật độ dân số trung bình 3862 người/km2. So với các
quận nội thành khác, mật độ dân số của quận Tây Hồ có phần thấp hơn, do diện
tích mặt nước và diện tích đất nống nghiệp chiếm tỷ lệ khá lớn. Dân cư trong
quận phân bố không đều, các phường nội thành cũ, mật độ dân số khá cao như
phường Yên Phụ, Bưởi trung bình 12000 người/km2, trong khi đó mật độ dân số ở
phường Phú Thượng, Tứ Liên, Nhật Tân, Quảng An chỉ khoảng trên 2000
người/km2.
Do anh hưởng của quá trình đô thị hóa trong thời gian qua, dân số quận
Tây Hổ hàng năm (từ năm 1995 đến nay) luôn tãng từ 5% đến 8%, trong đó tăng
tự nhicn khoáng 1,5%, tãng cơ học từ 4% đến 7%. Đây là vấn đề gây nên những
bức xúc về kinh tế xã hội cho quản lý và cũng là một trong những nguyên nhân
chính gây biến động sử dụng đất trong thời gian qua. Song song với quá trình
lãng cơ học vé dân số, cơ cấu lao động trong quận cũng có những thay đổi theo
chiều hướng lao động nông nghiệp giảm dần và chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số
người trong ctộ tuổi lao động (tỷ lệ khoảng 10% trong tổng số lao động). Các
phường Yên Phụ, Thụy Khuê, Bưởi không còn lao động nông nghiệp, số người
lao động nông nghiệp phân bố rải rác trên các phường còn lại, nhiều nhất là ớ
phườniĩ Phú Thượng.
Đặc (liếm các ngành kinh tế trong quận:
Khẩu, Yên Thái, Đông Xa, dệt ở Bưởi, Nghi Tàm, trồng hoa, ươm cây giống,
nuôi cá cánh và cây cảnh ở Nghi Tàm, Yên Phụ, Nhật Tân, Quảng Bá.
Anh Ịutâng của các văn bản pháp luật về đất đai tới việc sử dụng vâ quán
/ý (Íấí thù của quận Tây Hổ: Để quán lý đất đai, Nhà nước ta đã ban hành các
Luật đất đai (J988, 1993), cùng với các thông tư, chỉ thị của UBND thành phố,
quận, đặc biệt năm 1998, chính phủ đã ra quyết định về quy hoạch tổng thể đến
nãm 2010 cho thành phố Hà Nội nói chung, quận Tây Hồ nói riêng đã tạo cơ sở
pháp lý cho việc quản lý đất đai có hiệu quả hơn và cũng nhờ đó phần nào làm
giam bớt tình trạng xây dựng tuỳ tiện trong thời gian qua trên địa bàn quận.
Như vậy, cùng với sự ưu ái của điều kiện tự nhiên, sự phát triển dân số,
kinh tế xã hội trong quận, sự ra đời của các chính sách đã thúc đẩy nhanh quá
trình dỏ thị hoá, làm biến đổi các loại hình sử dụng đất, chuyển đất nông nghiệp,
hồ, ao thành đất ở và đất xây dựng các cơ sở phục vụ dịch vụ du lịch, làm ánh
hướng lớn tới quán lý đất đai của quận.
3. Dặc điểm sử dụng đất quận Tây Hồ năm 2001
Tổn” diện tích đất của quận là 2400,81 ha. Tronii đó đất nông nghiệp có
khoang 1 179,03 ha, chiếm 49% tổng diện tích đất đai của toàn quận. Phường
19
Xuân La, Phú Thượng, Nhật Tân có diện tích đất nồng nghiệp nhiều nhất trong
các phường của quận. Đất nông nghiệp bao gồm: đất trổng lúa, đất trổng hoa cây
canh, đất trồng màu và nuôi thủy sản. Đất trồng cây lương thực chiếm 62%, thực
phẩm 4% còn lại là diện tích đất trồng hoa và cây cảnh 34%. Trong đó, loại đất
trổng hoa và cây cảnh ngày càng tăng, do được chuyển từ loại đất trồng lúa màu
sang.
Đất ở: Do đặc điểm tự nhiên của quận, đất ỡ được phân bố cả ở phần đất
nằm trong đc lẩn phẩn đất nằm ngoài đê sông Hồng, chia làm hai loại: đất ớ làng
xóm có diện tích chiếm khoảng 11% tổng diện tích toàn quận, tập trung xung
quanh Hổ Tày ihuộc phường Bưởi, Tứ Liên, Xuân La, Nhật Tân, Phú Thượng.
Diện tích đất
năm 1992
năm 2001
ha
%
ha
%
Biến dổi
diện tích
ha
1
Đất trổng trọt
566,40
23,6
542,22 21,8
-23,78
12,9
327,94
14,6
+ 18,49
5
Đất chưa sử dụng
30,10
1,2
27,42
1,1
-2,68
Sô' liệu về biến động sử dụng đất từ năm 1992 đến năm 2001 trong báng
trên đã cho ihấy việc sử dụng đất ở quận Tây Hồ có sự chuyển biến mạnh theo xu
hướng ctô thị hoá (đất nông nghiệp và đất ao hồ giảm, đất ở và đất chuyên dùng
tăng).
Qua phàn tích nêu trên, các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sử
dụng và quan lý đất đai quận Tây Hổ ngoài các điều kiện tự nhiên - những nhân
tỏ' nền hình ihành đặc điểm sử dụng đất mà còn bị ảnh hưởng chủ yếu bởi các yếu
tố kinh tế - xã hội, đặc biệt bởi sự thay đổi về cơ chế quản lý của Nhà nước. Các
2). Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất trong phạm vi quan lý
nhằm các mục đích: - quan lý đất đai một cách chặt chẽ hơn; - điều tiết các quan
hệ đất đai như giao đất, thu hồi đất, chuyển nhượng đất; - tiến hành quy hoạch,
phân bố đất dai vào mục đích sử đụng cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển
kinh tế, xã hội trong địa phương nói riêng và thành phố, cả nước nói chung; - kế
hoạch sử dụng đất thể hiện quy hoạch sử dụng đất hàng năm.
3). Xây dựng các văn bản hướng dần quản lý đất đai cho cấp phường khi
cần thiếi.
4). Giao đất, cho thuê đất và thu hổi đất trong phạm vi quản lý: lập hổ sơ
địa chính, tham định hồ sơ sau khi ban hành. Giao quyền sử dụng đất. Cho Ihuê
đất theo pháp luật quy định. Thu hồi đất khi: - các tổ chức giải thể hoặc phá sán;
- các tổ chức giám nhu cầu sử dụng đất; - các cá nhân, gia đình không có người
thừa kế; - nu ười sử đụng đất tự nguyện trá lại đất; - đất không được sử dụng quá
12 tháng mà không được phép của các cấp thẩm quyền; - người sử dụng đất cố ý
không thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước; - giao đất không đúng thẩm
quvền; - đo nhu cầu của nhà nước. Thu tiền đối tượng được giao quyền sử dụng
đất và đền bù khi thu hồi đất của các đối tượng đang sử dụng đất một cách hợp
pháp.
5). Đãng ký đất đai, lập và quán lý hồ sơ địa chính. Đây là nhiệm vụ quan
trọng nhằm xác định quyền sử dụng đất. Quản lý biến động sử dụng đất đai tạo
cư sớ pháp lý clế nhà nước và người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ
cúu mình. Là một thủ tục hành chính nhằm thiết lập hồ sơ địa chính đầy đủ cấp
22
1
giấy chứng nhận cho người sử dụng đất hợp pháp. Xác lập mối quan hệ pháp lý
giữa nhà nước và chủ sở hữu để nhà nước quản lý chặt chẽ đất đai và báo vệ
q u yền lợi hợp pháp của người sử dụng.
ứng nhu cầu cả về chất lượng tốt lẫn thông tin nhanh, đặc biệt trong giai đoạn
công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay.
Hiện lại đội ngũ cán bộ ở Phòng Địa chính các quận còn rất trẻ, họ luôn
học hỏi các công nghệ mới để ứng dụng vào quản lý. Chính vì vậy, tiến hành tin
học hoú là hoàn toàn phù hợp với tình hình hiện tại.
3.
Thực trạng công tác ứng dụng hệ thông tin địa lý trong quản lý đất
dai ở quận Tây Hổ
Công tác ứng dụng HTTĐL ở quận Tây Hồ có những đặc điểm sau:
-
Chưa có CSDL về HTTĐL hoàn chỉnh để phục vụ cho công tác quản lý
chuyên môn của đơn vị mình.
-
Cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin còn yếu kém.
Do vậy, công tác quản lý Nhà nước về đất đai tại quận Tây Hồ nói riêng,
các quận, huyện khác của Hà Nội nói chung, đòi hỏi phải có một hệ thống các cơ
sớ dữ liệu được thiết kế và tổ chức khai thác theo các chuẩn mực nhất định.
4. Nhu cầu xây dựng hệ thống thông tin đất đai cấp quận
Tất cá các đối tượng nầm trong hệ thống hiện tại đều mong muốn hệ thống
được tiến hành tin học hoá.
Khi tiến hành tin hoá các công việc cập nhật dữ liệu, tìm kiếm dữ liệu,
thống kẽ, kiếm kê sẽ được thực hiện ngay lập tức mà không cần phải mất thời
gian xuống các phường kiểm tra, thu thập số liệu.