LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH
DOANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG
I. KHÁI NIỆM CHIẾN LƯỢC KINH DOANH.
1. Các quan điểm tiếp cận chiến lược kinh doanh của doanh
nghiệp.
Thuật ngữ chiến lược có nguồn gốc từ rất lâu, trước đây thuật ngữ này
lần đầu tiên được sử dụng trong quân sự. Ngày nay, thuật ngữ này đã được
sử dụng trong hầu hết các lĩnh vực: kinh tế, chính trị và văn hoá xã hội. Đặc
biệt là trong lĩnh vực kinh tế ở cả phạm vi vĩ mô và vi mô. Ở phạm vi vĩ mô
chúng ta có thể có các khái niệm như: “chiến lược phát triển ngành”, “chiến
lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu”, ở phạm vi vi mô thuật ngữ chiến
lược cũng có sự kết hợp với các khái niệm, phạm trù quản lý doanh nghiệp
hình thành các thuật ngữ “chiến lược marketing”, “chiến lược sản xuất”,
“chiến lược kinh doanh”...
Sự xuất hiện khái niệm chiến lược kinh doanh không chỉ đơn thuần là
vay mượn khái niệm mà bắt nguồn từ sự cần thiết phản ánh thực tiễn khách
quan của quản lý doanh nghiệp trong cơ chế thị trường.
Sau đây chúng ta tìm hiểu một số cách tiếp cận chiến lược kinh
doanh của doanh nghiệp.
1.1 Quan điểm cổ điển.
Quan điểm này xuất hiện từ trước những năm 1960, theo quan điểm này
thì doanh nghiệp có thể kế hoạch hóa, tối ưu hóa tất cả các yếu tố đầu vào để
từ đó tạo ra được lợi thế cạnh tranh dài hạn nhằm đạt được mục tiêu hiệu
quả và tối ưu hóa lợi nhuận. Vì vậy, trong thời kỳ này các doanh nghiệp sử
dụng nhiều hàm sản xuất và máy tính nhằm tối ưu hóa lợi nhuận.
Thực tế, đến năm 1970 cách tiếp cận này mất ý nghĩa, vì đã không đề cập
đến môi trường bên ngoài của doanh nghiệp và toàn bộ hoạt động của doanh
nghiệp đều do kế toán trưởng và giám đốc chỉ đạo. Mặt khác, lúc này đã hình
thành các khu vực như Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Tây Âu, Đông âu... chi phối lên toàn
bộ hoạt động của các doanh nghiệp. Lúc đó xuất hiện sự cạnh tranh giữa các
trong cùng hệ thống( môi trường ngành) cũng như ngoài hệ thống. Và người
ta gọi đó là môi trường bên ngoài của doanh nghiệp. Vì vậy, việc phân tích
môi trường của doanh nghiệp là một vấn đề cần thiết.
Tóm lại, cho dù các quan điểm trên có tiếp cận phạm trù chiến lược dưới
góc độ nào, thì chúng cũng nhằm một mục đích chung của mình là tăng
trưởng nhanh, bền vững và tối ưu hoá lợi nhuận trong môi trường ngày càng
biến động và cạnh tranh gay gắt.
2. Các khái niệm về chiến lược kinh doanh của doanh
nghiệp.
2.1 Các khái niệm .
Do có các cách tiếp cận khác nhau về chiến lược mà các quan niệm về
chiến lược được đưa ra cũng khác nhau, cho đến nay vẫn chưa có một khái
niệm chung, thống nhất về phạm trù này. Có thể nêu có một số quan niệm như
sau:
- M.Porter cho rằng: “Chiến lược là nghệ thuật tạo lập các lợi thế cạnh
tranh”.
- Alain Threatart trong cuốn “Chiến lược của Công ty” cho rằng: “Chiến
lược là nghệ thuật mà doanh nghiệp dùng để chống lại cạnh tranh và giành
thắng lợi”.
- “Chiến lược là nhằm phác hoạ những quỹ đạo tiến triển đủ vững chắc
và lâu dài, xung quanh quỹ đạo đó có thể sắp đặt những quyết định và những
hành động chính xác của doanh nghiệp”. Đó là quan niệm của Alain Charles
Martinet, tác giả cuốn sách “Chiến lược”, người đã được nhận giải thưởng
của Havard L’expandsion năm 1983.
- Nhóm tác giả Garry D.Smith, DannyR. Arnold, Bopby G.Bizrell trong
cuốn “Chiến lược và sách lược kinh doanh” cho rằng "Chiến lược được định
ra như là kế hoạch hoặc sơ đồ tác nghiệp tổng quát dẫn dắt hoặc hướng tổ
chức đi đến mục tiêu mong muốn. Kế hoạch tác nghiệp tổng quát này tạo cơ
sở cho các chính sách( định hướng cho việc thông qua quyết định ) và các thủ
pháp tác nghiệp ”.
khai thác và sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai,
phát huy những lợi thế và nắm bắt cơ hội để giành ưu thế trên thương
trường kinh doanh.
- Chiến lược kinh doanh phải được phản ánh trong suốt một quá trình
liên tục từ việc xây dựng chiến lược, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá và
điều chỉnh chiến lược.
- Chiến lược kinh doanh phải có tư tưởng tiến công giành thắng lợi trên
thương trường kinh doanh (phải tận dụng triệt để lợi thể của mình để dành
thắng lợi).
- Chiến lược kinh doanh thường được xây dựng cho một thời kỳ tương
đối dài (3 năm đến 5 năm), xu hướng rút ngắn xuống tuỳ thuộc vào đặc thù
của từng ngành hàng.
Từ những đặc trưng nêu trên ta dễ dàng phân biệt phạm trù chiến lược
với những khái niệm, phạm trù liên quan. Khái niệm gần gũi nhất với chiến
lược là “kế hoạch”, trong thực tế nhiều khi người ta nhầm lẫn hai khái niệm
này với nhau.
Xét theo trình tự thì chiến lược kinh doanh được hình thành trên cơ sở
phân tích, chuẩn đoán môi trường, đến lượt nó chiến lược lại làm cơ sở cho
các kế hoạch triển khai thực hiện chiến lược.
Đặc trưng nổi bật của chiến lược là tính định hướng và xác định những
giải pháp, chính sách lớn ở những mục tiêu chủ yếu, còn ở các kế hoạch tính
cân đối định hướng là chủ đạo, tất cả các mục tiêu đều được lượng hoá, liên
kết với nhau thành một hệ thống chỉ tiêu phản ánh toàn diện hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
3- Các loại chiến lược kinh doanh.
Tùy theo mỗi cách phân loại khác nhau mà chúng ta có các loại chiến
lược kinh doanh khác nhau:
a. Căn cứ vào phạm vi của chiến lược:
+ Chiến lược kinh doanh tổng quát:
Chiến lược kinh doanh tổng quát đề cập đến những vấn đề quan trọng
viên đã vạch ra những trường hợp ngoại lệ cho cấp quản lý phía trên.
+ Chiến lược do ngầm định: do cấp dưới suy diễn những điều nhất định-
đúng hoặc sai- từ các quyết định và hành vi của cấp trên.
+ Chiến lược do sức ép: sinh ra từ những áp lực bên ngoài như các hiệp
hội và các cơ quan nhà nước.
e. Căn cứ vào cấp làm chiến lược kinh doanh ta có:
+ Chiến lược kinh doanh cấp công ty: là chiến lược tổng quát, xác định
được những mục tiêu dài hạn và những phương thức để đạt được những
mục tiêu đó trong từng thời kỳ.
+ Chiến lược kinh doanh cấp cơ sở: là chiến lược xác định những mục tiêu
cụ thể và cách thức để đạt được những mục tiêu đó trong lĩnh vực của mình
trên cơ sở các mục tiêu tổng quát của cấp trên.
+ Chiến lược kinh doanh cấp chức năng: là chiến lược tập trung hỗ trợ
cho chiến lược kinh doanh cấp công ty và cấp cơ sở.
4- Nội dung chủ yếu của chiến lược kinh doanh.
Như phần trên đã đề cập, do có nhiều quan niệm khác nhau về chiến lược
kinh doanh cho nên cũng có nhiều quan niệm về nội dung của chiến lược. Tuy
nhiên, có thể nhận định một điểm chung nhất giữa các quan niệm đó là: chiến
lược kinh doanh của doanh nghiệp là chiến lược tổng quát của doanh nghiệp
trong lĩnh vực kinh doanh. Nó đề cập đến những vấn đề quan trọng nhất, có ý
nghĩa lâu dài, quyết định sự sống còn của doanh nghiệp. Chiến lược kinh
doanh bao gồm các chiến lược chung và chiến lược bộ phận có liên kết hữu cơ
với nhau tạo thành chiến lược kinh doanh hoàn chỉnh bao trùm mọi hoạt
động của doanh nghiệp. Bất kỳ một chiến lược kinh doanh nào, dù là chiến
lược tổng quát hay chiến lược bộ phận, về cơ bản, có những nội dung chủ yếu
sau:
4.1. Quan điểm tư tưởng của doanh nghiệp mà hạt nhân là triết lý
kinh doanh của doanh nghiệp đó. Nó trả lời câu hỏi đâu là niềm tin cơ bản,
giá trị nguyện vọng và các ưu tiên triết lý của doanh nghiệp.
4.2. Chiến lược kinh doanh xác định các mục tiêu cho doanh
1.2. Lợi ích của chiến lược kinh doanh.
Chiến lược kinh doanh đem lại những lợi ích thiết thực cho doanh
nghiệp đó là:
+ Nó giúp doanh nghiệp thấy rõ hướng đi của mình trong tương lai để
các quản trị gia xem xét và quyết định doanh nghiệp nên đi theo hướng nào
và khi nào thì đạt mục tiêu.
+ Nó giúp cho các quản trị gia luôn luôn chủ động trước những thay đổi
của môi trưòng: giúp cho các quản trị gia thấy rõ cơ hội và nguy cơ xảy ra
trong kinh doanh hiện tại dể phân tích, đánh giá, dự báo các điều kiện môi
trường kinh doanh trong tương lai. Từ đó giúp doanh nghiệp tận dụng được
các cơ hội, đẩy lùi nguy cơ để chiến thắng trong cạnh tranh, giành thắng lợi.
+ Nó giúp cho doanh nghiệp khai thác và sử dụng tối đa các tài nguyên,
tiềm năng của mình. từ đó phát huy được sức mạnh ttối đa của doanh nghiệp
để phát triển đi lên.
+ Giúp cho doanh nghiệp phân bổ các nguồn lực của mình vào các lĩnh
vực, trong từng thời điểm một cách hợp lý.
+ Giúp cho doanh nghiệp tăng sự liên kết, gắn bó của các nhân viên,
quản trị viên trong việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp. Để từ đó
tạo ra dược sức mạnh nội bộ của doanh nghiệp.
+ Giúp cho doanh nghiệp tăng số bán, tăng năng suất lao động và tăng
hiệu quả quản trị, tránh được các rủi ro, tăng khả năng phòng ngừa và ngăn
chặn các vấn đề khó khăn xảy ra đối với doanh nghiệp.
2-Tính tất yếu khách quan phải hoạch định chiến lược kinh
doanh của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế nước ta hiện
nay.
Đánh giá hiện trạng
Dự báo nhu cầu Ước tính chi phí bình quânTập hợp chi phí đầu tư cùng loại của các nước trong khu vực cũng như trên thế giới
Sơ đồ1: SƠ ĐỒ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC THỜI BAO CẤP
Trong thời kỳ bao cấp, khái niệm chiến lược kinh doanh của doanh
nghiệp ít được sử dụng bởi vì các doanh nghiệp không có trách nhiệm xây
và phát triển trong cơ chế mới. Do đó, chiến lược kinh doanh là không thể
thiếu được trong tình hình mới.
Hiện nay, khi chuyển sang kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, đa
số các doanh nghiệp phải đối mặt với những điều kiện kinh doanh ngày càng
khó khăn, phức tạp mang tính biến động và rủi ro cao, song việc làm cho
doanh nghiệp thích nghi với sự thay đổi môi trường là hết sức cần thiết, quyết
định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Thực tế, những bài học
thành công hay thất bại trong kinh doanh đã chỉ ra có những nhà tỷ phú xuất
thân từ hai bàn tay trắng nhờ có được chiến lược kinh doanh tối ưu và ngược
lại cũng có những nhà tỷ phú, do sai lầm trong đường lối kinh doanh của
mình đã trao cơ ngơi kinh doanh của mình cho địch thủ trong một thời gian
ngắn. Sự đóng cửa những Công ty làm ăn thua lỗ và sự phát triển của những
doanh nghiệp có hiệu quả trong sản xuất kinh doanh cao, thực sự phụ thuộc
một phần đáng kể vào chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp đó, đặc biệt
trong nền kinh tế thị trường.
Sự tăng tốc của các biến đổi môi trường, sự cạnh tranh ngày càng gay
gắt cùng với việc ngày càng khan hiếm các nguồn tài nguyên dẫn đến sự gia
tăng nhu cầu về phía xã hội, từ nội bộ của doanh nghiệp và cá nhân khác
nhau đã làm cho chiến lược kinh doanh ngày càng có một tầm quan trọng lớn
với một doanh nghiệp.
Sự cần thiết khách quan phải xây dựng chiến lược kinh doanh đối với
các doanh nghiệp được thể hiện trên một số mặt sau:
• Chiến lược kinh doanh giúp các doanh nghiệp thấy rõ mục đích và hướng
đi của mình.
• Điều kiện môi trường mà các doanh nghiệp gặp phải luôn biến đổi nhanh.
Những biến đổi nhanh thường tạo ra những cơ hội và nguy cơ bất ngờ.
Việc xây dựng các chiến lược kinh doanh giúp các doanh nghiệp tận dụng
tối đa các cơ hội và hạn chế ở mức thấp nhất các nguy cơ, từ đó tăng khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
• Chiến lược kinh doanh sẽ giúp cho doanh nghiệp gắn liền các quyết định
- Bên cạnh những chiến lược hiện tại, các doanh nghiệp còn phải biết
xây dựng được chiến lược dự phòng, chiến lược thay thế.
- Phải biết nắm bắt thời cơ, tận dụng tối đa cơ hội và phải có một chút
liều lĩnh.
1.2. Những căn cứ.
Như chúng ta biết một trong những mục tiêu của doanh nghiệp là tối ưu
hoá lợi nhuận thông qua việc cung cấp những sản phẩm và dịch vụ cho khách
hàng. Để có được các sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho khách hàng doanh
nghiệp cần phải sử dụng các yếu tố đầu vào, quy trình công nghệ để sản xuất
ra chúng hay nói cách khác doanh nghiệp phải sử dụng tốt các yếu tố bên
trong của mình. Tuy nhiên, không phải chỉ riêng có doanh nghiệp sản xuất
những hàng hoá và dịch vụ đó, mà cũng có những doanh nghiệp khác cùng
sản xuất ( đối thủ cạnh tranh). Vì vậy, để thu hút khách hàng nhiều hơn thì
những sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp phải có mẫu mã, chất lượng hơn
sản phẩm của đối thủ cạnh tranh hay nói cách khác họ giành được thắng lợi
trong cạnh tranh.
Từ lập luận đó ta đi đến xác định các căn cứ quan trọng nhất cho việc
hoạch định chiến lược kinh doanh gồm:
+ Khách hàng.
+ Đối thủ cạnh tranh.
+ Doanh nghiệp.
Các nhà kinh tế coi lực lượng này là “bộ ba chiến lược” mà các doanh
nghiệp phải dựa vào đó để xây dựng chiến lược kinh doanh của mình.
a. Khách hàng .
Đại diện cho nhân tố “cầu” của thị trường, khái niệm khách hàng chứa
đựng trong đó vô số nhu cầu, động cơ, mục đích khác nhau của những nhóm
người khác nhau. Từ đó hình thành nên các khúc thị trường cá biệt mà các
doanh nghiệp không thể bao quát toàn bộ. Chiến lược kinh doanh của doanh
nghiệp phải căn cứ vào khách hàng có nghĩa là nó phải tìm ra trong tập hợp
các khách hàng một hoặc một số nhóm khách hàng hình thành nên một khúc
lĩnh vực, chức năng có tầm quan trọng quyết định đối với sự thành công của
doanh nghiệp trong việc kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ đã xác định. Các
lĩnh vực, chức năng cần phải xác định có thể lựa chọn theo các căn cứ cụ thể
như sau:
+ Đầu tư vào sản phẩm, dịch vụ nào?
+ Đầu tư vào giai đoạn công nghệ nào?
+ Tập trung mở rộng quy mô hay phấn đấu giảm thấp chi phí?
+ Tổ chức sản xuất đồng bộ hay mua bán thành phẩm về lắp ráp?
Việc xác định đúng các lĩnh vực, chức năng của doanh nghiệp sẽ tạo điều
kiện để doanh nghiệp hướng mọi nỗ lực của mình vào các khâu then chốt
nhằm tạo ra ưu thế của doanh nghiệp trên thị trường đã chọn.
Trên cơ sở những căn cứ trong bộ ba chiến lược nêu trên thì chiến lược
kinh doanh của doanh nghiệp có thể có độ tin cậy cần thiết. Song môi trường
kinh doanh không chỉ có những nhân tố trên mà từng trường hợp cụ thể
doanh nghiệp còn phải xét thêm các nhân tố khác thuộc môi trường vĩ mô
như: các nhân tố chính trị, pháp luật, khoa học công nghệ..., và môi trường vi
Xác định mục tiêu chiến lược (B3)
Xây dựng các phương thức chiến lược (B4)
Lựu chọn chiến lược tối ưu (B5)
Quyết định chiến lược (B6)
Khẳng định đường lối (B1) Nghiên cứu và dự báo (B2)
Sơ đồ 2: MÔ HÌNH CÁC BƯỚC HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC.
mô như: các nhà cung cấp, các sản phẩm thay thế…để xác định và lựa chọn
phương án chiến lược kinh doanh có độ tin cậy cao hơn.
2. Các quan điểm cần quán triệt khi hoạch định chiến lược
kinh doanh.
Khi hoạch định chiến lược kinh doanh chúng ta cần quán triệt những
quan điểm sau đây:
+ Hoạch định chiến lược kinh doanh phải căn cứ vào việc khai thác các
yếu tố then chốt của doanh nghiệp để dành thắng lợi.