Luận văn thạc sỹ - Hoàn thiện kiểm toán hoạt động tín dụng của KTNB tại Tổng Công ty CP Tài Chính Dầu khí Việt Nam (PVFC)'''' - Pdf 62

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
------------

TRỊNH NGỌC ĐIỆP

HOÀN THIỆN KIỂM TOÁN HOẠT ĐỘNG TÍN
DỤNG CỦA KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI TỔNG
CÔNG TY CỔ PHẦN TÀI CHÍNH
DẦU KHÍ VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH
: KẾ TOÁN
MÃ SỐ
: 60.34.03.01

Người hướng dẫn khoa học:
TS. NGUYỄN ĐĂNG HUY

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc
lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn
gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trịnh Ngọc Điệp


MỤC LỤC

Kiểm soát nội bộ
KTNB
Kiểm toán viên nội bộ
Kiểm toán viên
Ngân hàng Nhà nước
TCT cổ phần Tài chính Dầu khí Việt Nam
Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam
Tổng công ty
Tổ chức tín dụng
Tổng giám đốc


DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
BẢNG
Bảng 2.1:

Các chỉ tiêu tài chính từ 2012 -2014 Error: Reference source not found

Bảng 2.2:

Cơ cấu TD theo thời hạn vay...........Error: Reference source not found

Bảng 2.3:

Cơ cấu TD theo loại hình cho vay....Error: Reference source not found

Bảng 2.4:

Cơ cấu TD theo phương thức cho vay........Error: Reference source not
found


Dự kiến các chỉ tiêu kinh doanh chủ yếu 2015 -2020. Error: Reference
source not found

Bảng 3.2:

Định hướng cơ cấu Tín dụng 2016-2020....Error: Reference source not
found

Bảng 3.3:

Minh họa bảng chấm điểm rủi ro tín dụng. Error: Reference source not
found

Bảng 3.4:

Minh họa bảng kế hoạch kiểm toán năm theo định hướng rủi ro..Error:
Reference source not found

Bảng 3.5:

Minh họa hồ sơ rủi ro tín dụng của đơn vị kinh doanh tại PVFC. Error:
Reference source not found

SƠ ĐỒ


LỜI CAM ĐOAN.......................................................................................................i
2.3.1.Những kết quả đạt được trong kiểm toán hoạt động tín dụng của PVFC...................68


Tuy nhiên, kiểm toán nội bộ vẫn còn nhiều bất cập như: phương pháp kiểm toán còn
hạn hẹp, chất lượng kiểm toán chưa cao, chưa có chiến lược rõ ràng cho KTNB,…

1


Xuất phát từ tầm quan trọng của kiểm toán nội bộ và thực tiễn khách quan tại
Tổng Công ty cổ phần Tài chính Dầu khí Việt Nam, tác giả đã chọn đề tài “Hoàn thiện
kiểm toán hoạt động tín dụng của KTNB tại Tổng Công ty CP Tài Chính Dầu khí
Việt Nam (PVFC)” để làm chủ đề cho luận văn thạc sỹ kinh tế của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học về bản chất, chức năng, vai trò của
CTTC trong nền kinh tế cùng với hệ thống hóa những lý luận chung về KTNB, luận
văn hướng đến những mục tiêu cụ thể sau:
- Làm rõ bản chất, vai trò, chức năng của KTNB trong TCTD nói chung và
trong CTTC nói riêng.
- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học phân tích thực trạng kiểm
toán nội bộ hoạt động tín dụng tại PVFC để khẳng định những ưu nhược điểm và
những nguyên nhân tồn tại của KTNB.
- Đưa ra phương hướng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện kiểm toán nội bộ
hoạt động tín dụng nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả KTNB trong đơn vị.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là KTNB hoạt động tín dụng trong CTTC
và được xem xét trên hai nội dung chính là tổ chức bộ máy kiểm toán và tổ chức
công tác kiểm toán. Đây là hai mặt có quan hệ chặt chẽ ảnh hưởng qua lại với nhau
trong tổng thể thống nhất là KTNB. Hai nội dung chính được cụ thể hóa trên hai
khía cạnh sau:
Một là, những vấn đề lý luận có hệ thống và toàn diện về tổ chức KTNB trong
TCTD đồng thời phát triển lý luận về tổ chức KTNB trong các CTTC.

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của đề tài được phân bổ thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại
các công ty tài chính
Chương 2: Thực trạng kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại Tổng Công
ty Cổ phần Tài Chính Dầu khí Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại
Tổng Công ty cổ phần Tài Chính Dầu khí Việt Nam

3


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN
NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CÁC CÔNG TY TÀI CHÍNH
1.1. Tổng quan về kiểm toán
1.1.1. Khái niệm kiểm toán
Thuật ngữ “kiểm toán” thực sự mới xuất hiện và được sử dụng ở nước ta từ
hơn một chục năm cuối thế kỷ XX. Trong quá trình đó cách hiểu và cách dùng khái
niệm này chưa được thống nhất. Có thể khái quát các cách hiểu về kiểm toán theo 3
quan điểm chính như sau:
Quan điểm thứ nhất: Kiểm toán được đồng nghĩa với kiểm tra kế toán, một
chức năng của bản thân kế toán, một thuộc tính cố hữu của kế toán. Nội dung của
hoạt động này là rà soát các thông tin kế toán, chứng từ kế toán và tổng hợp cân đối
kế toán. Thực ra, đây là một chức năng vốn có của bản thân kế toán. Quan điểm này
chỉ tồn tại vào những năm đầu của thời kỳ đổi mới, thời kỳ chúng ta bắt đầu chuyển
từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước.
Quan điểm thứ hai: Là quan điểm theo các tác giả Alvin A.Arens và James
K.Loebbecker: “Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập có thẩm quyền thu

Việc các quy định mang tính pháp lý bắt buộc các thông tin tài chính trước khi
công bố phải được kiểm toán, điều này thể hiện rõ nét vai trò của kiểm toán nhằm
đưa ra các quyết định hiệu quả và hợp lí trong quá trình đổi mới nền kinh tế.
Trong các quan hệ kinh tế nhờ có kiểm toán mà các doanh nghiệp đã tìm được
tiếng nói chung đó là sự tin cậy lẫn nhau, sự thẳng thắn, trung thực trình bày về tình
hình tài chính của mình. Đây là yếu tố hết sức quan trọng để đánh giá, lựa chọn đối
tác kinh doanh. Đặc biệt trong quan hệ hợp tác kinh doanh với nước ngoài, nếu nhà
đầu tư nước ngoài muốn tìm hiểu về hoạt động kinh doanh và đánh giá tình hình
của một doanh nghiệp trước khi đầu tư, hợp tác kinh doanh thì chi phí cho cuộc
kiểm toán sẽ hiệu quả và rẻ hơn nhiều so với chi phí mà hai bên phải bỏ ra để đàm
phán tự chứng minh về khả năng tài chính của mình. Đồng thời ý kiến khách quan
của kiểm toán luôn đáng tin cậy hơn. Ngay cả khi các công ty có vốn đầu tư nước
ngoài được thành lập thì nhu cầu kiểm toán của các công ty này là tất yếu bởi yêu
cầu quản lí của các đối tác nước ngoài trong doanh nghiệp.

5


Hoạt động kiểm toán còn thu hút được lực lượng lớn các lao động có trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cao và đặc biệt là lực lượng chuyên gia tư vấn nước ngoài
làm việc tại các công ty kiểm toán quốc tế.
Kiểm toán thực hiện kiểm tra tính trung thực hợp lí hợp pháp của thông tin
trong hoạt động kinh tế, tài chính làm lành mạnh hoá các quan hệ tài chính, cung
cấp các thông tin trung thực cho quản lí vĩ mô trong nền kinh tế.
Với bên thứ ba, kiểm toán đã giúp PVFC, các công ty tài chính, các nhà đầu tư,
các cổ đông, đối tác… có đủ thông tin tin cậy, bằng chứng xác đáng để đưa ra quyết
định có đầu tư, liên quan đến đơn vị được kiểm toán.
1.2. Tổng quan về kiểm toán nội bộ tại các Công ty Tài chính
1.2.1. Khái niệm kiểm toán nội bộ
Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm KTNB trên thế giới. Theo

động của bộ phận kiểm toán.
Mô hình này được các áp dụng ở hầu hết các quốc gia phát triển và áp dụng
với các đơn vị có quy mô lớn. KTNB làm việc cho ban kiểm soát, ban kiểm soát
độc lập với hội đồng quản trị. Với mô hình này, KTNB là một bộ phận độc lập và có
thể phát huy cao vai trò của mình trong tổ chức. Tuy nhiên điều kiện tiên quyết để
phát huy ưu việt là chất lượng đội ngũ kiểm toán viên phải tốt: KTNB được tổ chức
thống nhất tập trung tại Hội sở và tổ chức tại các khu vực (nếu có) do HĐQT quyết
định, trực thuộc và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ban kiểm soát. Đứng đầu bộ phận
KTNB là Trưởng KTNB.
1.2.3. Chức năng kiểm toán nội bộ
Chức năng đánh giá: KTNB thông qua kiểm tra để thực hiện đánh giá tính đúng
đắn, trung thực và hợp pháp của các số liệu, thông tin, tài liệu được kiểm tra.
Chức năng xác nhận: Thông qua kiểm tra, đánh giá, KTNB xác nhận thực trạng

8


của các thông tin đã kiểm tra về tính đúng đắn, trung thực và hợp pháp của các thông
tin đó.
Chức năng kiểm tra: Là việc KTNB sử dụng các biện pháp kỹ thuật để xem xét,
đối chiếu mức độ trung thực của các thông tin, tài liệu và tính hợp pháp của việc thực
hiện các nghiệp vụ hay lập các bản khai tài chính.
Chức năng tư vấn: Trên cơ sở những phát hiện trong quá trình kiểm tra, đánh
giá, KTNB đề xuất và tư vấn giải pháp để khắc phục sai sót và hoàn thiện hệ thống
kiểm soát nội bộ, tư vấn các chốt chặn kiểm soát trong quy trình xử lý công việc,
giúp CTTC đạt được mục tiêu kinh doanh một cách an toàn và hiệu quả.
1.2.4. Vai trò kiểm toán nội bộ
Thứ nhất, KTNB là công cụ hữu hiệu nhằm giảm thiểu chi phí cho đơn vị.
Cũng giống như hầu hết các DN khác, các CTTC trong giai đoạn cạnh tranh khốc
liệt nhằm theo đuổi mục tiêu tăng trưởng nóng nên đôi khi đã không cân bằng được

cũng cao hơn. Đó là nhờ có KTNB nên khả năng tồn tại gian lận và sai sót trong các
thông tin được ghi nhận và công bố sẽ giảm đi.
Thứ tư, KTNB là phương thức giúp phát hiện và cải tiến những điểm yếu trong
hệ thống quản lý của doanh nghiệp. Thông qua phương thức này, Ban giám đốc và
Hội đồng quản trị có thể kiểm soát tốt hơn, quản lý rủi ro tốt hơn. KTNB luôn phải
đánh giá tính hiệu quả của hoạt động và đánh giá năng lực của nhà quản lý trong
từng hoạt động. KTNB chỉ ra những kết quả cũng như những hạn chế trong hệ
thống và đưa ra các đề xuất hoàn thiện
Thứ năm, KTNB giúp cân bằng và điều hòa những xung đột về lợi ích thường
có giữa các cổ đông và các nhà quản lý. Sự tách rời giữa chủ sở hữu (các cổ đông)
và nhà quản lý (TGĐ, giám đốc) không tránh khỏi những xung đột về lợi ích giữa
họ. Nhà quản lý sẽ có những mục tiêu riêng, thông thường mục tiêu đó thường đặt
họ trong sự cân nhắc giữa lợi ích cá nhân và lợi ích của tổ chức. Khi đó KTNB bằng
cách nhìn nhận, đánh giá một cách chuyên nghiệp và khách quan sẽ cung cấp cho
hội đồng quản trị về mức độ hoàn thành công việc của các nhà quản lý. Từ đó
KTNB giúp cân bằng và điều hòa những xung đột về lợi ích của hai bên.
Như vậy, có thể nói KTNB có vai trò như một phương thức hữu hiệu của nhà
quản lý, một chức năng của quản lý nhằm tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh và
tăng cường năng lực của hoạt động quản lý và kiểm soát. Với vai trò này, KTNB là

10


yếu tố cần đối với mọi doanh nghiệp ở mọi quy mô hoạt động. Đối với các CTTC,
KTNB càng thể hiện rõ vai trò của mình.
1.2.5. Nội dung thực hiện KTNB tại các Công ty Tài chính
Nội dung chính của hoạt động KTNB là kiểm tra, đánh giá tính đầy đủ, hiệu
lực và hiệu quả của hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ. Tùy theo quy mô, mức
độ rủi ro cũng như yêu cầu cụ thể của từng CTTC, KTNB có thể rà soát, đánh
giá những nội dung sau:

Cách tiếp cận đầu tiên và truyền thống nhất là cách tiếp cận chi tiết, nặng
nhọc, nội dung kiểm toán chú trọng vào các hoạt động tài chính, chủ yếu mang tính
tuân thủ và bao gồm việc rà soát một số lượng rất lớn các giao dịch. Thực tế trong
một số ngân hàng và CTTC, cách kiểm toán như vậy được gọi là các cuộc kiểm tra.
Hiện nay phần lớn các bộ phận kiểm toán hiện đại trên thế giới không còn thực hiện
cách tiếp cận tốn nhiều thời gian như vậy.
Giai đoạn 2: Tiếp cận hệ thống
Giai đoạn phát triển tiếp theo của KTNB là cách tiếp cận hệ thống.Thay vì
việc chú trọng vào các địa điểm, giao dịch riêng rẽ, thì KTNB tiếp cận theo các chu
trình và hệ thống trong toàn bộ tổ chức. Cách tiếp cận hệ thống quan tâm đến tính
đầy đủ của các thủ tục kiểm soát hơn là việc rà soát một số lượng lớn các giao dịch
đơn lẻ. Đây là cách tiếp cận được đánh giá là mang tính tổng thể và xây dựng hơn
so với cách tiếp cận truyền thống.
Như vậy, trong kiểm toán hoạt động, phạm vi của các rủi ro sẽ rộng hơn,
không chỉ liên quan đến các thông tin kế toán, mà bao trùm lên toàn bộ các hoạt
động của tổ chức do kiểm toán hoạt động chú trọng đánh giá tính hiệu quả và tính
hiệu lực của các qui trình kiểm soát. Khi đó, KTV cần đánh giá toàn bộ các rủi ro
trong hoạt động của đơn vị, từ đó xác định các thủ tục kiểm soát cần thực hiện. Trên
cơ sở so sánh các thủ tục kiểm soát cần thực hiện với thực tế hoạt động của đơn vị,
KTV có thể đưa ra đánh giá về tính hiệu lực và tính hiệu quả của các qui trình kiểm
soát hiện tại của tổ chức.
Giai đoạn 3: Định hướng rủi ro
Đây là cách tiếp cận hiện đại đối với KTNB. KTNB hiện đại được coi là có
thể kiểm toán bất cứ hoạt động nào trong tổ chức. Phương pháp tiếp cận theo rủi ro
được sử dụng, chú trọng vào các hoạt động/giao dịch quan trọng với tổ chức/hoạt

12


động. Phương pháp tiếp cận theo định hướng rủi ro quan tâm tới các mục tiêu của tổ



môi trường kinh tế, pháp lý thường xuyên thay đổi và các sản phẩm dịch vụ mới
trong hoạt động tín dụng liên tục được phát triển. Nếu KTNB chỉ quan tâm tới bản
thân các thủ tục kiểm soát mà không chú trọng đánh giá rủi ro thường xuyên thì có
thể sẽ không nhận biết được các thay đổi từ môi trường hoạt động và không kịp thời
nhận biết sự lỗi thời của các hoạt động kiểm soát.
Theo IIA, cách thức thực hiện kiểm toán trên cơ sở định hướng rủi ro của
KTNB có thể khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển của qui trình quản lý rủi
ro hiện tại của tổ chức. Tại các tổ chức đã xây dựng được những qui trình quản lý
rủi ro đầy đủ, KTNB dựa vào các đánh giá rủi ro hiện có của tổ chức để xây dựng
kế hoạch kiểm toán. Ngược lại, nếu bản thân tổ chức chưa xây dựng được các qui
trình quản lý rủi ro đầy đủ, KTNB có thể thực hiện các đánh giá của bản thân mình
với sự tham gia của ban quản lý đơn vị để làm cơ sở xác định các thủ tục kiểm toán
cần thiết. Tại các tổ chức này, KTNB có thể thực hiện chức năng tư vấn cho tổ chức
trong việc xây dựng qui trình quản lý rủi ro, bao gồm nhận dạng, đo lường và quản
lý rủi ro phù hợp.
Như vậy, về cơ bản, cách thức áp dụng phương pháp tiếp cận rủi ro có thể được
áp dụng khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ phát triển của qui trình quản lý rủi ro tín
dụng tại các CTTC. Tuy nhiên, điểm xuất phát của phương pháp tiếp cận này đều bắt
đầu từ việc nghiên cứu các mục tiêu của CTTC. Do các mục tiêu của mỗi công ty có
thể thay đổi theo từng thời kỳ, nên việc nghiên cứu các mục tiêu và các rủi ro phát
sinh cần được thực hiện thường xuyên tại các CTTC. Điều kiện để KTNB áp dụng
phương pháp tiếp cận trên cơ sở định hướng rủi ro là: thứ nhất, KTV phải có hiểu biết
sâu sắc về các mục tiêu và các rủi ro mà CTTC phải đối mặt; thứ hai, các CTTC phải
thiết lập được tương đối đầy đủ hồ sơ các rủi ro, trong đó có đánh giá về khả năng và
mức ảnh hưởng của các loại rủi ro cũng như biện pháp xử lý các rủi ro đó.
Về việc vận dụng phương pháp tiếp cận theo định hướng rủi ro trong kiểm
toán hoạt động tín dụng có thể được áp dụng trong toàn bộ quá trình kiểm toán,
không chỉ đối với việc lập kế hoạch kiểm toán hàng năm, mà còn trong toàn bộ qui

lập kế hoạch kiểm toán.
Khi đánh giá từng rủi ro đơn lẻ, KTNB thường đánh giá rủi ro theo hai tiêu
chí: khả năng xảy ra rủi ro và tác động của rủi ro đến hoạt động của đơn vị. Hai tiêu
chí này có thể được xác định trên các mức độ khác nhau (cao, thấp, trung bình) hoặc

15


trên thang điểm (ví dụ từ 1 – 5) cho mỗi tiêu chí. Sau đó tổng điểm của mỗi rủi ro
có thể được xác định bằng tổng hoặc tích số của hai tiêu chí trên để làm cơ sở xếp
hạng rủi ro.
Trong quá trình thực hiện kiểm toán hoạt động tín dụng, KTV dựa trên việc
xác định và đánh giá rủi ro cụ thể tại từng bộ phận nghiệp vụ để xác định thủ tục
kiểm toán phù hợp. Ví dụ, khi thực hiện kiểm toán nghiệp vụ tín dụng tại CTTC,
KTV cần xác định các rủi ro cụ thể trong qui trình nghiệp vụ và đánh giá sự thích
hợp của thủ tục kiểm soát và các biện pháp giảm thiểu rủi ro mà đơn vị được kiểm
toán đang áp dụng để hạn chế ảnh hưởng của các rủi ro này, từ đó đề xuất các kiến
nghị để hoàn thiện qui trình nghiệp vụ. Do vậy, việc xác định đầy đủ các rủi ro tại
từng bộ phận nghiệp vụ là rất quan trọng để có thể áp dụng phương pháp tiếp cận
rủi ro có hiệu quả.
Phương pháp tiếp cận dựa trên rủi ro có thể được áp dụng trong tất cả các loại
hình kiểm toán. Cho dù thực hiện loại hình kiểm toán nào, KTNB cũng cần dựa trên
cơ sở đánh giá rủi ro để lập kế hoạch kiểm toán, ưu tiên thực hiện kiểm toán các
hoạt động rủi ro nhất đối với tổ chức. KTV cần đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu
trong các cơ sở dẫn liệu đối với từng loại nghiệp vụ, số dư khoản mục hoặc các giải
trình liên quan.
Ví dụ, khi kiểm toán nghiệp vụ tín dụng tại CTTC, KTV đánh giá rủi ro có sai
sót trọng yếu liên quan đến việc thẩm định cấp tín dụng, KTV cần mở rộng phạm vi
các thủ tục kiểm tra chi tiết trên các khoản tín dụng để thu thập đầy đủ bằng chứng
thích hợp về các rủi ro liên quan đến các thủ tục thẩm định cấp tín dụng.

KTNB tiến hành kiểm toán. Quá trình KTNB thực chất là quá trình áp dụng các
phương pháp kỹ thuật, nghiệp vụ vào việc kiểm tra thực tế nhằm thu thập các bằng
chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp làm cơ sở cho các ý kiến nhận xét về các
thông tin được kiểm toán thông qua việc tuân thủ các phương pháp kiểm toán của
Kiểm toán viên khi tác nghiệp.
Có thể chia hệ thống phương pháp KTNB hoạt động tín dụng tại CTTC thành
hai loại là phương pháp kiểm toán cơ bản và phương pháp kiểm toán tuân thủ được
nêu dưới đây.
1.3.2.1 Phương pháp kiểm toán cơ bản
Phương pháp kiểm toán cơ bản là các phương pháp được thiết kế và sử dụng
nhằm mục đích thu thập các bằng chứng có liên quan đến các dữ liệu do hệ thống kế
toán xử lý và cung cấp.

17


Đặc trưng cơ bản của phương pháp này là việc tiến hành các thử nghiệm, các
đánh giá đều được dựa vào các số liệu, các thông tin trong báo cáo tài chính và hệ
thống kế toán của đơn vị. Vì vậy phương pháp kiểm toán cơ bản còn được gọi là các
bước kiểm nghiệm theo số liệu.
• Phương pháp kiểm toán cơ bản bao gồm các bước:
 Phương pháp phân tích đánh giá tổng quát:
Phương pháp này là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan
trọng, qua đó tìm ra những xu hướng, biến động, để phát hiện ra những thay đổi
trọng yếu, những biến động bất thường và tìm ra các mối quan hệ có mâu thuẫn với
các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến, tìm
ra những khoản mục, nội dung có rủi ro lớn. Phương pháp phân tích bao gồm những
so sánh chủ yếu sau:
- Phân tích so sánh về lượng trên cùng một chỉ tiêu (còn gọi là phân tích
ngang) phương pháp này đơn giản nhưng không thể hiện mối quan hệ giữa các chỉ

giao động bất thường, các thủ tục tiếp theo khi xác định các sai số và giao động bất
thường đó.
- Tiến trình phân tích bao gồm nội dung công việc sau:
+ Dựa trên thiết kế các hình thức phân tích, tiến hành tính toán, so sánh số
liệu, thông tin nhằm phát hiện những sai sót và giao động bất thường.
+ Xếp loại các kết quả nghiên cứu theo nguyên tắc quyết định;
+ Tiến hành các thủ tục tiếp theo (thảo luận với Ban lãnh đạo, điều tra tiếp
hoặc không điều tra...).
- Phân tích đánh giá tổng quát là phương pháp kiểm toán có hiệu quả cao vì
thời gian ít, chi phí thấp mà nhiều tác dụng. Kỹ thuật phân tích thường được các
kiểm toán viên cấp cao tiến hành và thường là kỹ thuật được áp dụng đầu tiên cho
mọi cuộc kiểm toán. Trong một số trường hợp, kiểm toán viên có thể chỉ cần áp
dụng phương pháp phân tích là đã có thể rút ra những nhận xét cần thiết mà không
cần áp dụng thêm thủ tục kiểm toán nào khác. Tuy nhiên, cần lưu ý:
+ Mối quan hệ bản chất giữa các chỉ tiêu được so sánh, các chỉ tiêu này phải
đồng nhất về nội dung phương pháp tính, giữa chúng phải có mối quan hệ nhất định
với nhau.
+ Những khoản mục hoặc chỉ tiêu trọng yếu không chỉ sử dụng phương pháp

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status