hoàn thiện kiểm toán hoạt động tín dụng của ktnb tại tổng công ty cp tài chính dầu khí việt nam (pvfc) - Pdf 23

MỤC LỤC
2.3.1.Những kết quả đạt được trong kiểm toán hoạt động tín dụng của PVFC x
KẾT LUẬN xvi
3.3.1.Những kết quả đạt được trong kiểm toán hoạt động tín dụng của PVFC 71
KẾT LUẬN 105
1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
BẢNG
2.3.1.Những kết quả đạt được trong kiểm toán hoạt động tín dụng của PVFC x
CTTC Công ty tài chính
TCTD Tổ chức tín dụng
TCT Tổng công ty
Ban TGĐ Ban Tổng Giám đốc
BKS Ban Kiểm soát
HĐQT Hội đồng Quản trị
TGĐ Tổng giám đốc
KSNB Kiểm soát nội bộ
KTNB KTNB
KTV Kiểm toán viên nội bộ
KTV Kiểm toán viên
BCTC Báo cáo tài chính
NHNN Ngân hàng Nhà nước
PVN Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam
PVFC TCT Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam
IIA Viện Kiểm toán viên nội bộ (Institute of Internal
Auditor)
2
KẾT LUẬN xvi
3.3.1.Những kết quả đạt được trong kiểm toán hoạt động tín dụng của PVFC 71
KẾT LUẬN 105

Kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại PVFC những năm qua đã thể hiện
được vai trò là công cụ, chức năng của quản trị, giúp TCT đối phó được với những
rủi ro về thị trường, rủi ro hoạt động. Tuy nhiên, kiểm toán nội bộ vẫn còn nhiều bất
cập như: phương pháp kiểm toán còn hạn hẹp, chất lượng kiểm toán chưa cao, chưa
có chiến lược rõ ràng cho KTNB,…
Xuất phát từ tầm quan trọng của kiểm toán nội bộ và thực tiễn khách quan tại
PVFC, tác giả đã chọn đề tài “Hoàn thiện kiểm toán hoạt động tín dụng của KTNB
tại Tổng Công ty CP Tài Chính Dầu khí Việt Nam (PVFC)” để nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học về bản chất, chức năng, vai trò của
CTTC trong nền kinh tế cùng với hệ thống hóa những lý luận chung về KTNB, luận
văn hướng đến những mục tiêu cụ thể sau:
i
- Làm rõ bản chất, vai trò, chức năng của KTNB trong CTTC.
- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học phân tích thực trạng kiểm
toán nội bộ hoạt động tín dụng tại PVFC để khẳng định những ưu nhược điểm và
những nguyên nhân tồn tại của KTNB.
- Đưa ra phương hướng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện kiểm toán nội bộ
hoạt động tín dụng nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả KTNB trong đơn vị.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là KTNB hoạt động tín dụng trong CTTC
và được xem xét trên hai nội dung chính là tổ chức bộ máy kiểm toán và tổ chức
công tác kiểm toán. Đây là hai mặt có quan hệ chặt chẽ ảnh hưởng qua lại với nhau
trong tổng thể thống nhất là KTNB.
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung vào nghiên cứu KTNB hoạt động tín dụng tại PVFC với
phạm vi khảo sát từ năm 2008-2010.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện kiểm toán hoạt động tín dụng của

và nâng cao hiệu quả của các hoạt động quản trị rủi ro, kiểm soát và quản trị tổ
chức”.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 610 ban hành kèm theo quyết định số
143/2001/QĐ-BTC ngày 21/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì: “KTNB là một
bộ phận trong hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị, có chức năng kiểm tra, đánh giá
tính phù hợp, hiệu quả, sự tuân thủ của pháp luật và các quy định của hệ thống kế
toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị đó.”
Theo định nghĩa tại QĐ số 37/2006/QĐ-NHNN ngày 01/08/2006 của NHNN:
"KTNB là hoạt động kiểm tra, rà soát, đánh giá một cách độc lập, khách quan đối với
hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ; đánh giá độc lập về tính thích hợp và sự tuân thủ
các chính sách, thủ tục quy trình đã được thiết lập trong tổ chức tín dụng, thông qua
đó đơn vị thực hiện KTNB đưa ra các kiến nghị, tư vấn nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu
quả hoạt động của các hệ thống, các quy trình, quy định, góp phần đảm bảo tổ chức
tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật”.
iii
Như vậy, khi mới ra đời KTNB chỉ đóng vai trò chống gian lận, sai sót, nhưng
hiện nay, KTNB đã mở rộng phạm vi hoạt động bao gồm cả việc tư vấn cho tổ chức
nhằm tăng thêm giá trị và cải thiện hoạt động của doanh nghiệp.
1.1.2. Vai trò KTNB
Vai trò của KTNB trong tổ chức được xem xét trên các góc độ sau:
Thứ nhất, KTNB giữ vai trò là phương thức quản lý hiệu quả, nhằm hỗ trợ
việc thực hiện trách nhiệm của nhà quản lý.
Thứ hai, KTNB là phương thức giúp phát hiện và cải tiến những điểm yếu
trong hệ thống quản lý của doanh nghiệp.
Thứ ba, KTNB giúp cân bằng và điều hòa những xung đột về lợi ích thường
có giữa các cổ đông và các nhà quản lý.
Thứ tư, KTNB làm tăng niềm tin của người sử dụng thông tin trên BCTC và
báo cáo quản trị.
Thứ năm, KTNB là công cụ hữu hiệu nhằm giảm thiểu chi phí cho đơn vị.
1.2. Phương pháp KTNB hoạt động tín dụng của Công ty Tài chính

một vai trò tích cực và là kết quả tất yếu của cách tiếp cận dựa trên rủi ro.
Trong các phương pháp tiếp cận như đã nêu, phương pháp tiếp cận theo định
hướng rủi ro là phương pháp đang được KTNB trên thế giới sử dụng rộng rãi hiện
nay. Theo đó, KTNB xuất phát từ việc xác định, đánh giá các rủi ro của tổ chức để
xây dựng kế hoạch kiểm toán và lựa chọn các thủ tục kiểm toán nhằm đưa ra sự
đảm bảo cho ban lãnh đạo về tính hiệu quả và tính hiệu lực của các qui trình quản lý
rủi ro của tổ chức.
1.2.2. Các phương pháp kiểm toán đối với KTNB hoạt động tín dụng của CTTC
Có thể chia hệ thống phương pháp KTNB hoạt động tín dụng tại CTTC thành
hai loại là phương pháp kiểm toán cơ bản và phương pháp kiểm toán tuân thủ được
nêu dưới đây.
1.3.2.1 Phương pháp kiểm toán cơ bản
Phương pháp kiểm toán cơ bản là các phương pháp được thiết kế và sử dụng
nhằm mục đích thu thập các bằng chứng có liên quan đến các dữ liệu do hệ thống
kế toán xử lý và cung cấp.
Phương pháp kiểm toán cơ bản bao gồm các bước:
 Phân tích đánh giá tổng quát
 Phương pháp phương trình
v
 Kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và các số dư tài khoản
Đây là phương pháp kiểm toán nhằm kiểm tra và ghi chép từng loại hoạt động
kinh doanh của đơn vị. Phương pháp này thích hợp để kiểm tra các đơn vị có quy
mô nhỏ, các loại nghiệp vụ có tính chất không phức tạp, hoặc những bộ phận,
những khoản mục “nhạy cảm” trong kinh doanh (như tiền mặt, chứng khoán, các
loại vật tư, hàng hoá quý hiếm ).
1.3.2.2 Phương pháp kiểm toán tuân thủ
Phương pháp kiểm toán tuân thủ là các thủ tục và kỹ thuật kiểm toán được
thiết lập để thu thập các bằng chứng về tính đầy đủ và hiệu quả của hệ thống kiểm
soát nội bộ đơn vị.
Tuỳ thuộc mức thoả mãn về kiểm soát, kiểm toán viên có thể áp dụng các

nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả của hoạt động KTNB. Việc theo dõi thực hiện
kiến nghị kiểm toán tập trung vào việc xem xét các kiến nghị, đề xuất cải tiến hoạt
động được kiểm toán đã được đơn vị chấp thuận và mức độ thực hiện và hiệu quả
của việc thực hiện các kiến nghị đó.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG
TÍN DỤNG TẠI PVFC
2.1. Tổng quan về PVFC
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển PVFC
Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC) là một tổ chức tín
dụng phi ngân hàng, tiền thân là Công ty Tài chính Dầu khí, thành lập ngày
19/6/2000.
Năm 2008, PVFC chính thức chuyển thành Tổng công ty Tài chính Cổ phần
Dầu khí Việt Nam. Đây là bước chuyển mình từ công ty 100% vốn Nhà nước thành
Tổng Công ty cổ phần. Theo mô hình công ty đại chúng, PVFC có vốn điều lệ
5.000 tỷ đồng, trong đó, PVN nắm giữ 78% cổ phần, cổ đông chiến lược nước
ngoài là Morgan Stanley (MSIHI) nắm giữ 10% cổ phần, còn lại là các cổ đông
pháp nhân và thể nhân trong nước. Đầu năm 2011 PVFC tiếp tục tăng vốn điều lệ
lên 6.000 tỷ đồng qua việc phát hành cổ phiếu thưởng cho các cổ đông hiện hữu.
PVFC hiện có 10 chi nhánh và 15 phòng giao dịch tại các tỉnh, thành phố lớn trong
cả nước, 4 công ty thành viên.
Với tư cách là một định chế tài chính của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt
vii
Nam, PVFC đã thực hiện triển khai các hoạt động chính sau:
- Hoạt động Thu xếp vốn và Tín dụng Doanh nghiệp
- Hoạt động đầu tư
- Hoạt động Dịch vụ tài chính DN
- Hoạt động Dịch vụ tài chính cá nhân
- Hoạt động Kinh doanh tiền tệ
2.2. Thực trạng KTNB hoạt động tín dụng tại PVFC
2.2.1. Tổ chức bộ máy KTNB tại PVFC:

tổng hợp
phân tích
HĐQT
Ban Kiểm Soát
Bộ phận KTNB PVFC được tổ chức thống nhất tập trung tại hội sở
và khu vực phía nam, do HĐQT quyết định thành lập, trực thuộc và chịu
sự chỉ đạo trực tiếp của Ban kiểm soát.
2.2.2. Phương pháp KTNB hoạt động tín dụng tại PVFC
2.2.4.1. Quy trình KTNB các hoạt động tại PVFC
Việc KTNB các hoạt động tại PVFC đều thực hiện theo Quy trình KTNB, vì
vậy các bước KTNB hoạt động tín dụng cũng không nằm ngoài quy trình này. Quy
trình KTNB được chia làm 4 giai đoạn:
 Giai đoạn 1: Lập kế hoạch kiểm toán bao gồm các bước:
Bước 1: Lập tờ trình kiểm toán
Căn cứ vào kế hoạch kiểm toán năm đã được BKS phê duyệt hoặc khi có yêu
cầu của BKS, HĐQT về việc kiểm toán đột xuất hoặc khi KTNB nhận thấy rủi ro
được đánh giá có ảnh hưởng trọng yếu đến hoạt động của PVFC tại đơn vị nào,
nghiệp vụ nào, Đoàn kiểm toán sẽ lập Tờ trình kiểm toán trình Trưởng KTNB thông
qua và trình BKS phê duyệt.
Bước 2: Thông báo kiểm toán
Căn cứ vào Tờ trình kiểm toán đã được phê duyệt, Đoàn KTNB gửi thông báo
kiểm toán tới các đơn vị được kiểm toán.
Bước 3: Lập kế hoạch kiểm toán:
Căn cứ vào Tờ trình kiểm toán đã được BKS phê duyệt, Đoàn kiểm toán tiến
hành lập kế hoạch kiểm toán trình Trưởng KTNB phê duyệt. Kế hoạch kiểm toán
phải được phê duyệt và hoàn thành trước khi thực hiện kiểm toán ít nhất 02 ngày
làm việc.
 Giai đoạn 2: Thực hiện kiểm toán:
Bước 4: Họp mở đầu (khai mạc) kiểm toán:
Vào ngày đầu tiên thực hiện kiểm toán tại đơn vị, Đoàn kiểm toán tiến hành

(kiểm tra chi tiết; trắc nghiệm; kiểm tra, đối chiếu; quan sát; thẩm tra, xác nhận;
phỏng vấn; tính toán).
2.3. Đánh giá về KTNB hoạt động tín dụng tại PVFC
2.3.1. Những kết quả đạt được trong kiểm toán hoạt động tín dụng của PVFC
2.3.1.1Về quy trình, hướng dẫn KTNB hoạt động tín dụng
Ban KTNB PVFC đã từng bước hoàn thiện, xây dựng được Quy trình
KTNB hoạt động tín dụng trong đó chi tiết các phần hành công việc cần làm
trong một cuộc kiểm toán. Quy trình KTNB hoạt động tín dụng nhìn chung đã
tuân thủ các quy chế về KTNB của NHNN và Ủy ban Basel về KTNB trong
x
các ngân hàng và hướng tới thực hiện kiểm toán theo nguyên tắc “định hướng
rủi ro”. Đây là phương pháp kiểm toán khá mới mẻ đối với hoạt động KTNB
nói chung và KTNB PVFC nói riêng.
2.3.1.2 Về tổ chức hoạt động KTNB
Mô hình tổ chức được áp dụng theo mô hình tập trung phù hợp với qui mô,
đặc điểm hoạt động của PVFC. Bên cạnh đó, KTNB trực thuộc BKS và dưới sự chỉ
đạo trực tiếp của BKS giúp tăng cường vị thế của KTNB và đảm bảo tính khách
quan trong hoạt động.
2.3.2. Những hạn chế của KTNB hoạt động tín dụng tại PVFC
2.3.2.1. Hạn chế trong xây dựng kế hoạch kiểm toán: Kế hoạch kiểm toán năm
chưa được xây dựng trên cơ sở định hướng rủi ro. Việc lập kế hoạch kiểm toán
và lựa chọn đối tượng kiểm toán chưa thực sự dựa vào kết quả phân tích rủi ro
hoạt động tín dụng của từng đơn vị, từng thời điểm.
2.3.2.2. Hạn chế trong quá trình thực hiện kiểm toán:
Thứ nhất, phương pháp kiểm toán còn hạn hẹp: Trong quá trình thực hiện
kiểm toán, các phương pháp, kỹ thuật kiểm toán được chưa được vận dụng đầy đủ.
Thứ hai, quá chú trọng kiểm toán tuân thủ, công tác cảnh báo rủi ro còn yếu.
Thứ ba, chức năng “tiền kiểm” còn yếu, các kiến nghị đưa ra chỉ nhằm mục
đích bổ sung hoàn thiện hồ sơ, không thực hiện ngăn chặn được các rủi ro, gian lận
tiềm ẩn.

động kiểm toán bị động nhiều hơn là chủ động.
2.3.3.4 Ứng dụng hệ thống công nghệ thông tin còn nhiều hạn chế
Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong KTNB tại PVFC hiện nay còn
hạn chế, chưa có các chương trình phần mềm chuyên dụng cho KTNB. Điều này
hạn chế năng suất lao động của KTV và cản trở việc ứng dụng các kỹ thuật kiểm
toán hiện đại.
2.3.3.5 Hệ thống chính sách của nhà nước, quy trình, quy định, hướng dẫn nội
bộ chưa đầy đủ và đồng bộ
Thứ nhất, về hệ thống chính sách của Nhà nước cho hoạt động KTNB:
- Chính phủ cũng chưa ban hành các văn bản có tính pháp lý cao liên quan đến
hoạt động KTNB, trong đó có các qui định cụ thể về hoạt động, phương pháp thực
hiện của KTNB.
xii
- Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam chưa có hệ thống chuẩn mực
riêng cho KTNB.
Thứ hai, về hệ thống chính sách nội bộ PVFC: Hiện nay, PVFC chưa xây
dựng một bộ chính sách tín dụng đầy đủ và thống nhất mà đang được quy định rời
rạc ở rất nhiều quy định, quy trình, quy chế nên rất khó khăn cho bộ phận KTNB
khi thực hiện kiểm toán. Bên cạnh đó, một số nội dung giữa các quy định chưa có
sự nhất quán, mâu thuẫn lẫn nhau nhưng chưa được sửa đổi kịp thời gây khó khăn
cho KTV khi đưa ra ý kiến kiểm toán.
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KTNB HOẠT ĐỘNG
TÍN DỤNG TẠI PVFC
3.2.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác KTNB hoạt động tín dụng
3.2.1.1. Đổi mới phương pháp tiếp cận kiểm toán hoạt động tín dụng trên cơ sở
định hướng rủi ro
− Xây dựng kế hoạch KTNB hoạt động tín dụng hàng năm trên cơ sở định hướng
rủi ro:
Trước tiên, quy trình đánh giá rủi ro bắt đầu từ việc xác định đối tượng kiểm
toán, các mục tiêu kinh doanh và các rủi ro gắn liền với các mục tiêu đó.

3.2.1.4. Xây dựng các tiêu chí, kỹ thuật chọn mẫu chuẩn
KTNB PVFC cần xây dựng và áp dụng các phương pháp chọn mẫu thống kê
và phi thống kê khi lựa chọn mẫu để tiến hành kiểm toán. Việc áp dụng các phương
pháp chọn mẫu có thể khác nhau phụ thuộc vào đối tượng kiểm toán.
3.2.1.5. Đổi mới phương pháp báo cáo
Để nâng cao chất lượng báo cáo kiểm toán hoạt động tín dụng, khi lập báo cáo
KTNB, KTV cần làm rõ các yếu tố sau:
• Tiêu chí đánh giá: là các chuẩn mực, thước đo, hoặc kỳ vọng để đánh giá
(các thông lệ tiên tiến nhất).
• Thực tế: là các bằng chứng thực tế mà KTNB ghi nhận trong quá trình kiểm toán.
• Nguyên nhân: Nguyên nhân của sự khác biệt giữa tiêu chí đánh giá và thực
tế (tại sao có sự khác biệt đó).
• Ảnh hưởng: Rủi ro và/hoặc các khó khăn khác do thực tế chưa phù hợp với
xiv
các tiêu chí (ảnh hưởng của sự khác biệt).
Kiến nghị được đưa ra dựa trên các vấn đề ghi nhận và kết luận, yêu cầu khắc
phục và cải thiện các vấn đề đó. Kiến nghị có thể đề xuất phương pháp khắc phục
hoặc biện pháp tăng cường hoạt động cũng như những hướng dẫn cho ban lãnh đạo
đơn vị đạt được kết quả mong muốn.
Để nâng cao ý nghĩa của báo cáo kiểm toán, KTV có thể phân loại các vấn đề
ghi nhận của kiểm toán dựa theo mức độ rủi ro của các vấn đề đó đối với hoạt động
của đơn vị (theo các mức độ rủi ro cao, trung bình hoặc thấp).
3.2.1.6. Xây dựng các tiêu chí cơ bản để đánh giá chất lượng KTNB
Bộ phận KTNB PVFC cần xây dựng và duy trì các thủ tục đánh giá chất lượng
kiểm toán, nhằm gia tăng giá trị các hoạt động được KTNB, nâng cao hiệu quả hoạt
động của tổ chức, đảm bảo các hoạt động KTNB tuân thủ theo các chuẩn mực và
nguyên tắc đạo đức hiện thời.
3.2.1.7. Xây dựng chiến lược phát triển cho KTNB PVFC
Để xây dựng khung chiến lược phù hợp, trước hết bộ phận KTNB phải xác
định kỳ vọng (yêu cầu) của Ban lãnh đạo TCT về giá trị mà KTNB mang lại cho tổ

thống chất lượng tín dụng theo tiêu chuẩn ISO thì công tác KTNB phải thực sự
được chú trọng và quan tâm phát triển.
Trên cơ sở vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, những lý thuyết
và kinh nghiệm thực tế vào điều kiện thực tế ở Việt Nam, luận văn đã thực hiện
được các nội dung sau đây: Thứ nhất, phân tích nội dung cơ bản về nội dung
phương pháp kiểm toán và KTNB tại các Công ty tài chính. Thứ hai, đánh giá
phương pháp kiểm toán hoạt động tín dụng tại Tổng công ty tài chính cổ phần Dầu
khí Việt Nam, tìm ra những hạn chế, tồn tại trong công tác KTNB nói chung và
kiểm toán hoạt động tín dụng nói riêng. Với mong muốn đưa ra một số giải pháp,
kiến nghị để hoàn thiện phương pháp kiểm toán hoạt động tín dụng của PVFC, luận
văn đề xuất một số gợi ý nhỏ bé như trên nhằm góp phần xây dựng PVFC phát triển
an toàn và bền vững hơn.
Do giới hạn về thời gian và phạm vi nghiên cứu nên Luận văn không tránh
khỏi nhiều thiếu sót vì vậy Tác giả mong muốn được đón nhận các ý kiến đóng góp
để Đề tài nghiên cứu được tốt hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
xvi
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động tín dụng tại các TCTD là một trong những hoạt động kinh doanh
chứa đựng nhiều rủi ro nhất, đặc biệt là trong giai đoạn nền kinh tế có nhiều biến
động hiện nay. Chỉ tính riêng ở Mỹ, năm 2007 có 3 ngân hàng phá sản, năm 2008
có 25 ngân hàng phá sản, đến năm 2009 con số này tăng lên 140, và năm 2010 là
157 đạt mức kỷ lục từ năm 1992, trong đó có cả Lehman Brothers, một đại gia trong
giới ngân hàng Mỹ. Những vụ phá sản đó đều có mối liên hệ đến sự tăng trưởng
nóng của hoạt động tín dụng, trong khi các cơ chế quản trị để có thể quản lý và
kiểm soát được rủi ro chưa được thiết lập đầy đủ và hiệu quả. Các CTTC hay các
TCTD nói chung đều chịu một áp lực rất lớn trong việc nhận biết các rủi ro mà
mình đang phải đối mặt và phải lý giải được cách thức làm thế nào để kiểm soát các
rủi ro này ở mức độ chấp nhận được. Cùng với sự phát triển của khung quản trị rủi

những nguyên nhân tồn tại của KTNB.
- Đưa ra phương hướng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện kiểm toán nội bộ
hoạt động tín dụng nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả KTNB trong đơn vị.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là KTNB hoạt động tín dụng trong CTTC
và được xem xét trên hai nội dung chính là tổ chức bộ máy kiểm toán và tổ chức
công tác kiểm toán. Đây là hai mặt có quan hệ chặt chẽ ảnh hưởng qua lại với nhau
trong tổng thể thống nhất là KTNB. Hai nội dung chính được cụ thể hóa trên hai
khía cạnh sau:
Một là, những vấn đề lý luận có hệ thống và toàn diện về tổ chức KTNB trong
TCTD đồng thời phát triển lý luận về tổ chức KTNB trong các CTTC.
Hai là, khía cạnh thực tiễn: Mô tả, phân tích, đánh giá một cách có hệ thống
thực trạng tổ chức bộ máy và tổ chức công tác KTNB tại PVFC. Trên cơ sở đó, tác
giả phân tích các tồn tại của KTNB hoạt động tín dụng, đồng thời đưa ra phương
hướng và giải pháp khả thi theo hai nội dung trên nhằm hoàn thiện KTNB hoạt
động tín dụng tại PVFC.
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung vào nghiên cứu KTNB hoạt động tín dụng tại PVFC với
phạm vi khảo sát từ năm 2008-2010.
4. Phương pháp nghiên cứu
2
Phương pháp nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện kiểm toán hoạt động tín dụng của
KTNB tại PVFC” này là loại nghiên cứu ứng dụng thuộc lĩnh vực kinh tế, cho nên,
về phương pháp luận thì các phương pháp của đề tài được hình thành trên nguyên lý
của triết học duy vật biện chứng Mac Lê-nin.
Trong luận văn tác giả sử dụng phương pháp luận khoa học duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử, phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp nghiên cứu
định tính, nghiên cứu định lượng.
Phương pháp tiếp cận hệ thống: Tác giả nhìn tổng thể KTNB là một hệ thống,

chương này tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để mạnh dạn đưa ra
các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện KTNB tại đơn vị nghiên cứu.
5. Kết cấu đề tài nghiên cứu
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của đề tài được phân bổ thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về kiểm toán và KTNB tại các CTTC.
Chương 2: Thực trạng kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại PVFC.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại
PVFC.
4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN
NỘI BỘ TẠI CÁC CÔNG TY TÀI CHÍNH
1.3. Tổng quan về kiểm toán
1.3.1. Khái niệm kiểm toán
Thuật ngữ “kiểm toán” thực sự mới xuất hiện và được sử dụng ở nước ta từ
hơn một chục năm cuối thế kỷ XX. Trong quá trình đó cách hiểu và cách dùng khái
niệm này chưa được thống nhất. Có thể khái quát các cách hiểu về kiểm toán theo 3
quan điểm chính như sau:
Quan điểm thứ nhất: Kiểm toán được đồng nghĩa với kiểm tra kế toán, một
chức năng của bản thân kế toán, một thuộc tính cố hữu của kế toán. Nội dung của
hoạt động này là rà soát các thông tin kế toán, chứng từ kế toán và tổng hợp cân đối
kế toán. Thực ra, đây là một chức năng vốn có của bản thân kế toán. Quan điểm này
chỉ tồn tại vào những năm đầu của thời kỳ đổi mới, thời kỳ chúng ta bắt đầu chuyển
từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước.
Quan điểm thứ hai: Là quan điểm theo các tác giả Alvin A.Arens và James
K.Loebbecker: “Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập có thẩm quyền thu
thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được của một
đơn vị cụ thể, nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông
tin với các chuẩn mực đã được thiết lập”. Đây là quan điểm phát sinh cùng với sự ra

đầu tư nước ngoài muốn tìm hiểu về hoạt động kinh doanh và đánh giá tình hình
của một doanh nghiệp trước khi đầu tư, hợp tác kinh doanh thì chi phí cho cuộc
kiểm toán sẽ hiệu quả và rẻ hơn nhiều so với chi phí mà hai bên phải bỏ ra để đàm
phán tự chứng minh về khả năng tài chính của mình. Đồng thời ý kiến khách quan
của kiểm toán luôn đáng tin cậy hơn. Ngay cả khi các công ty có vốn đầu tư nước
ngoài được thành lập thì nhu cầu kiểm toán của các công ty này là tất yếu bởi yêu
cầu quản lí của các đối tác nước ngoài trong doanh nghiệp.
Hoạt động kiểm toán còn thu hút được lực lượng lớn các lao động có trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cao và đặc biệt là lực lượng chuyên gia tư vấn nước ngoài
làm việc tại các công ty kiểm toán quốc tế.
Kiểm toán thực hiện kiểm tra tính trung thực hợp lí hợp pháp của thông tin
trong hoạt động kinh tế, tài chính làm lành mạnh hoá các quan hệ tài chính, cung
cấp các thông tin trung thực cho quản lí vĩ mô trong nền kinh tế.
6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status