Một số vấn đề lý luận về hoạt động thanh toán trong kinh doanh - Pdf 62

Một số vấn đề lý luận về hoạt động thanh toán trong kinh doanh
tại doanh nghiệp
I. Hoạt động thanh toán trong kinh doanh :
1. Thanh toán là gì ?
Hiểu theo nghĩa chung nhất thì thanh toán là dùng tiền để giải quyết các
mối quan hệ về kinh tế tài chính giữa các bên phải trả và nhận tiền .
2. Các hình thức thanh toán:
Trong kinh doanh có nhiều hình thức thanh toán khác nhau như là
2.1. Thanh toán nội bộ và thanh toán với bên ngoài :
Thanh toán nội bộ phát sinh trong đơn vị kinh doanh có sự phân cấp kinh
doanh, quản lý và công tác kế toán .
Thanh toán với bên ngoài là việc thanh toán với các đối tượng thuộc bên
ngoài doanh nghiệp như: Khách hàng mua, nhà cung cấp, nhà nước, ngân
hàng.
2.2. Thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán không bằng tiền mặt :
Thanh toán bằng tiền mặt :Khi tiến hành giao dịch kinh doanh hai bên
(bên phải trả và bên nhận tiền ) thực hiện thanh toán cho nhau bằng tiền mặt.
Hình thức này trong giao dịch kinh doanh ngày càng ít được sử dụng vì nó tỏ
ra là không tiện lợi .
Thanh toán không bằng tiền mặt :Là việc thanh toán cho nhau không sử
dụng tiền mặt mà sử dụng các phương tiện khác như là séc ,hối phiếu ,thư tín
dụng,…
2.3. Thanh toán trong nước và thanh toán quốc tế :
Thanh toán trong nước là việc thực hiện thanh toán giữa những người
cùng ở trong một nước với nhau .
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện thanh toán giữa những người không
ở cùng trong một nước .
3. Phương thức thanh toán :
3.1. Khái niệm :
Là toàn bộ quá trình, cách thức nhận trả tiền hàng trong giao dịch mua
bán, vay mượn giữa hai hay nhiều bên .

vụ khách hàng trả tiền và đơn vị thanh toán phục vụ khách hàng thụ hưởng
thanh toán khác hệ thống, cùng địa phương hoặc khác địa phương mà có cách
xử lý khác nhau).
4. Phương tiện thanh toán:
4.1. Khái niệm:
Phương tiện thanh toán là công cụ mà người ta thực hiện trả tiền cho
nhau trong quan hệ buôn bán với nhau.
4.2. Một số phương tiện thanh toán:
Tiền mặt là phương tiện thanh toán nhưng trong thanh toán quốc tế nó
chỉ là phương tiện thứ yếu. Ngoài tiền mặt còn có các phương tiện khác như
hối phiếu, séc, thẻ tín dụng… .Mỗi công cụ thanh toán đều có công dụng riêng
của nó, thích hợp cho từng đối tượng và loại hình giao dịch thanh toán của các
chủ thể kinh tế.
4.2.1. Hối phiếu:
Là công cụ thường được sử dụng trong thương mại quốc tế. Ở Việt Nam
việc sử dụng hối phiếu chưa phổ biến.
Một hối phiếu đơn giản là một lệnh do nhà xuất khẩu (người bán) lập yêu
cầu nhà nhập khẩu (người mua) thanh toán một lượng tiền cụ thể vào một
thời điểm cụ thể.
Cá nhân hoặc doanh nghiệp khởi thảo ra hối phiếu được gọi là người lập
hối phiếu hoặc người ký phát hối phiếu. Thường thì đó là nhà xuất khẩu-người
bán và chuyển hàng hoá. Người mà hối phiếu yêu cầu thanh toán được gọi là
người phải thanh toán.
Trong các giao dịch thương mại, người phải thanh toán hối phiếu hoặc
chính là người mua hàng hoá, khi đó hối phiếu được gọi là hối phiếu thương
mại, hoặc là ngân hàng của người mua, khi đó gọi là hối phiếu ngân hàng. Hối
phiếu ngân hàng thường yêu cầu thanh toán dựa trên các điều kiện của thư tín
dụng. Hối phiếu có thể được rút tiền như là một công cụ của người nắm giữ
hoặc nó có thể uỷ thác cho một người mà khoản thanh toán sẽ chuyển cho
người đó. Người này được biết đến như là người được thanh toán, có thể

Là một phương tiện thanh toán hiện đại mà người chủ thẻ có thể sử
dụng để rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc thanh toán tiền hàng hoá,
dịch vụ tại các cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ.
Các loại thẻ: Thẻ không phải ký quỹ, thẻ phải ký quỹ, thẻ tín dụng.
Hiện nay ở Việt Nam hình thức thẻ thanh toán chưa được sử dụng rộng rãi
vì:
Thứ nhất, các ngân hàng chưa chú trọng đến hoạt động phát hành thẻ mà
chủ yếu chỉ chú trọng đến hoạt động tổ chức chấp nhận thẻ.
Thứ hai, hệ thống cơ sở hạ tầng có liên quan phục vụ cho hoạt động phát
hành thẻ chưa phát triển tương xứng: Trên toàn lãnh thổ Việt Nam hiện nay
chỉ có 6.500 điểm bán hàng có chấp nhận thanh toán thẻ và có chưa đến 10
máy ATM để rút tiền mặt do các ngân hàng lắp đặt.
Thứ ba, rủi ro đối với hoạt động kinh doanh thẻ là tương đối cao, ảnh
hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh thẻ của các ngân hàng: Rủi ro đối
với hoạt động kinh doanh thẻ thông thường là do hậu quả của việc sử dụng thẻ
gian lận, giả mạo gây ra. Trong đó kinh nghiệm về quản lý và kiểm soát rủi ro
đối với các trường hợp sử dụng thẻ giả mạo, gian lận của các ngân hàng
thương mại Việt Nam còn rất hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh
doanh thẻ của các ngân hàng nói chung.
Thứ tư, thông tin về thẻ ngân hàng còn hạn chế.
Thứ năm, người dân vẫn còn tâm lý thích dùng tiền mặt.
4.2.6. Uỷ nhiệm thu:
Là lệnh đòi tiền được lập trên mẫu in sẵn thống nhất của ngân hàng, yêu
cầu ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền hàng hoá, dịch vụ đã cung cấp cho
người mua.
II. Hoạt động thanh toán trong kinh doanh Tại
doanh nghiệp :
1. Vai trò của hoạt động thanh toán trong kinh doanh đối với doanh
nghiệp:
Khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì sẽ nảy sinh các mối quan

chuyển vốn giữa các đơn vị thành viên với nhau trong sản xuất kinh doanh.
- Các khoản thu hộ, chi hộ giữa cấp trên và cấp dưới trực thuộc: Cấp trên
và cấp dưới hoặc giữa các đơn vị thành viên cùng trực thuộc có thể phát sinh
các nghiệp vụ chi hộ, thu hộ. Chẳng hạn chi hộ nộp thuế, chi hộ trả người bán
hay thu hộ khoản khách hàng trả, thu hộ các khoản chiết khấu giảm giá được
hưởng…
- Các khoản thanh toán khác giữa cấp trên và cấp dưới. Chẳng hạn như
trong kỳ cấp dưới có nghĩa vụ nộp cấp trên về các quỹ: Quỹ quản lý, quỹ khen
thưởng, phúc lợi, lãi chưa phân phối.
2.2. Thanh toán với người cung cấp:
Khi phát sinh quan hệ mua vật tư hàng hoá giữa doanh nghiệp và nhà
cung cấp, cả hai bên cần tiến hành việc thoả thuận thương lượng về những
vấn đề quan tâm chung để đi tới một thoả thuận mà hai bên cùng có lợi.
Những quan tâm đó thường bao gồm như:
+ Phương thức thanh toán.
+ Thời hạn thanh toán
+ Giá cả
+ Thời gian, địa điểm giao hàng
+ Số lượng, chất lượng, chủng loại vật tư hàng hoá.
Ngoài ra, nếu người cung cấp ở nước ngoài thì họ có thể yêu cầu là doanh
nghiệp phải có ngân hàng đứng ra bảo lãnh, xác định rõ giá vận chuyển, ai là
người chịu cước phí vận chuyển…
2.2.1. Thời hạn thanh toán:
Thông thường thời hạn thanh toán được ghi trong hợp đồng ký kết giữa
doanh nghiệp và người cung cấp, bao gồm các hình thức sau:
- Thanh toán trả tiền trước: Theo hình thức này khách hàng ứng trước tiền
mặt hay hiện vật cho người cung cấp. Trả trước còn có nghĩa là khách hàng
đặt cọc cam kết thực hiện hợp đồng.
- Thanh toán trả tiền ngay: Đây là việc thanh toán mà đồng thời với việc
khách hàng nhận được hàng thì người cung cấp cũng nhận được tiền về bán

=
Trước hết ta đi tính lãi suất mà doanh nghiệp phải trả cho
việc mua chịu của họ. Theo như trên thì doanh nghiệp sẽ trả 980 trong 10 ngày
hoặc là đợi thêm 20 ngày sau đó phải trả cả 1000. Điều này có nghĩa là doanh
nghiệp đi vay 980 trong 20 ngày và phải trả khoản lợi tức tiền vay là 20. Vậy
lợi tức 20 trên khoản vay 980 trong 20 ngày là:
%24.37
2
3650408.2
=
x
trong một năm có 365 ngày từ đó ta có thể
thấy rằng lãi suất tính cho một năm là:
Như vậy lãi suất này là rất cao.
Còn nếu doanh nghiệp đi vay ngân hàng số tiền 980 trong thời hạn 20
ngày để trả tiền ngay cho người cung cấp, thì sau thời hạn 20 ngày doanh
nghiệp chỉ phải trả số tiền nhỏ hơn 1000 bởi lẽ lãi suất ngân hàng thấp hơn
nhiều so với lãi suất ta tính được ở trên. Như vậy việc mua chịu là khá đắt.
Nhưng trên thực tế các doanh nghiệp vẫn muốn được mua chịu hơn vì
thường khoảng thời gian mua chịu là không dài, số tiền tăng lên không đáng
kể và họ cho rằng như vậy vẫn là rẻ. Và việc mua chịu này cũng giúp họ không
phải trả ngay một khoản tiền lớn, mà có thể họ chưa có đủ. Hơn nữa trong
thực tế khi đã mua bán quen với nhau rồi thì thường người bán ít tính tăng
tiền nếu mua chịu.
b. Việc doanh nghiệp có được mua chịu hay không còn phụ thuộc vào
nhiều yếu tố:
Uy tín của doanh nghiệp : Uy tín của doanh nghiệp không có hình thái vật
chất cụ thể, nó được coi như một tài sản cố định vô hình. Một doanh nghiệp uy
tín là doanh nghiệp luôn để lại ấn tượng tốt trong bạn kinh doanh. Điều này có
ý nghĩa rất lớn trong sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có uy tín càng cao thì

lưu động đối với các doanh nghiệp không có các hoạt động về nghiệp vụ tài
chính và tín dụng. Tỷ lệ này càng lớn hơn đối với một doanh nghiệp có quy mô
nhỏ vì doanh nghiệp nhỏ thường khó tìm nguồn tài trợ ở nơi khác nên dựa
nhiều vào việc mua chịu
Mua chịu cũng là một nguồn tài trợ tín dụng đương nhiên phát sinh do
các hoạt động kinh doanh. Ta có thể xét ví dụ sau:
Giả sử một doanh nghiệp mua trung bình 2tr đ/1 ngày với thời hạn
mua chịu là 30 ngày. Như vậy trung bình doanh nghiệp sẽ nợ 30 lần 2tr đ tức
là 60 tr đối với nhà cung cấp. Nếu doanh thu gia tăng gấp đôi, hàng mua cũng
tăng như vậy và các khoản phải trả cũng tăng lên 120tr đ , doanh nghiệp sẽ
thấy đương nhiên được tài trợ thêm 60tr đ.
Tương tự như trên nếu thời hạn mua chịu nới rộng từ 30 ngày lên 40
ngày, các khoản phải trả đương nhiên tăng từ 60tr đ lên 80tr đ. Như vậy nếu
kéo dài thời hạn mua chịu hoặc gia tăng khối lượng mua hay bán hàng đều
làm phát sinh thêm một nhu cầu tài chính phụ trội.
Cho phép việc mua bán được thực hiện ngay không chờ đến khi có tiền
mới mua được, giải quyết tình trạng thiếu nguyên vật liệu ngay nhất là khi
doanh nghiệp chưa có đủ tiền để thanh toán ngay.
Tạo điều kiện cho các nhà sản xuất phải thực hiện nguyên tắc đảm bảo
chất lượng hàng hoá, đảm bảo thời gian giao hàng và nó cũng tạo điều kiện
cho nhà sản xuất và nhà thương nghiệp gắn bó với nhau hơn, tin cậy nhau
hơn.
* Tuy nhiên việc mua chịu cũng có những hạn chế nhất định:
Về thời hạn : Do đặc điểm chu kỳ sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp có thể không phù hợp nhau nên nếu thời hạn mà người cho vay muốn
cung cấp không phù hợp yêu cầu của người đi vay thì tín dụng khó có thể xảy
ra.
Về qui mô: Việc cho mua chịu này chỉ có thể cho phép trong một giới hạn
khối lượng hàng hoá nhất định. Song khi một doanh nghiệp mua chịu hàng
hoá ở nhiều doanh nghiệp khác nhau sẽ phân tán rủi ro cho nhiều người cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status