CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP BÁC TÔN - Pdf 62

TÔN ĐỨC THẮNG
Chủ tịch nước (1969-1981)
Truyền thống quật cường của quê hương đất nước đã sớm hun đúc lòng căm thù giặc và tinh
thần yêu nước của người thanh niên Tôn Đức Thắng, cuộc sống và ý thức giai cấp công nhân đã tiếp
bước rèn luyện người thanh niên ấy trở thành một chiến sĩ cách mạng kiên cường và lãnh tụ kính yêu
của nhân dân Việt Nam.
Bác Tôn sinh ra trên mảnh đất Long Xuyên của Nam Bộ bất khuất và đau thương bị thực dân
Pháp xâm chiếm hơn 20 năm. Những năm tuổi thơ, Bác Tôn sống ở quê nhà và đi học trường trong tỉnh.
Học xong bậc tiểu học, Bác tạm biệt gia đình đi lên Sài Gòn – mở đầu cuộc đời hoạt động cách mạng
không mệt mỏi vì Tổ quốc, vì nhân dân của Bác.
Năm 1906, Sài Gòn đón nhận người thanh niên mười tám tuổi đầy tâm huyết Tôn Đức Thắng.
Hạt giống cách mạng giờ đây được ươm giữa lòng đô thành Sài Gòn đầy bóng quân xâm lược. Bác Tôn
không chọn con đường tiến thân nào khác, mà quyết định đến ngay với giai cấp công nhân.
1. Tóm tắt cuộc đời và sự nghiệp
2. Diễn tiến việc kéo cờ đỏ trên chiến hạm France
3. Công hội bí mật và cuộc bãi công của 1000 công nhân Ba Son
4. Những danh hiệu cao quý được trao tặng
5. Trích dẫn một số câu nói dàng tặng Bác Tôn
6. Một số giai thoại về Bác Tôn
7. Tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng
8. Bác Tôn – Người cộng sản mẫu mực biểu tượng của đại đoàn kết
9. Về thăm quê Bác Tôn
10. Xí nghiệp Ba Son
11. Bảo tàng Tôn Đức Thắng
12. Đường Tôn Đức Thắng
13. Thư của Chủ tịch Tôn Đức Thắng gửi các chiến sĩ nhân ngày 30/4/1975
14. Công Đoàn Việt Nam qua 9 kỳ Đại hội
15. Một số sách báo tham khảo
Cập nhật ngày 9/5/2008 – Công Đoàn 1 Trang 1
1. TÓM TẮT CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP
Bí danh: Thoại Sơn

làm hạt nhân lãnh đạo, tập hợp tù nhân, tạo sức mạnh đoàn kết chống lại chế độ lao tù.
Nhiều Đảng viên cộng sản trong đó có Tôn Đức Thắng bị kết án khổ sai cũng bị giam chung với tù
thường phạm ở Banh I, nơi chuyên giam giữ tù lưu manh, trộm cắp, đã nhiều lần mang án. Đây là
thủ đoạn thâm độc của thực dân Pháp mượn bàn tay của những tên tù anh chị nhằm tiêu diệt những
người cộng sản.
Là một người đã có kinh nghiệm trong tổ chức Công hội bí mật ở Sài Gòn, Tôn Đức Thắng đã bàn
và cùng với những người cộng sản thành lập Hội những người tù đỏ làm hạt nhân lãnh đạo, tập hợp
tù nhân, tạo nên sức mạnh đoàn kết chống lại chế độ lao tù.
Cập nhật ngày 9/5/2008 – Công Đoàn 1 Trang 2
Trong một lần liên lạc của Hội, bọn gác ngục đã phát hiện được Tôn Đức Thắng và phạt giam ở
Hầm xay lúa. Hầm là địa ngục của địa ngục, một hình thức cực hình đối với tù nhân, địch gọi là
“Khu trừng giời”. Với âm mưu thâm độc của địch muốn dùng tay anh chị để hành hạ và giết Tôn
Đức Thắng, hiểu được ý đồ này, Tôn Đức Thắng đã tập hợp một số đồng chí cộng sản cũng bị đày
ở Hầm xay lúa bàn cách nắm lấy quyền lực để cải thiện đời sống và điều kiện làm việc cho những
bạn tù ở Hầm: bỏ lối cai quản người tù bằng roi vọt, sắp xếp, phân công để tất cả mọi người làm
việc theo điều kiện sức khỏe, người yếu thì sàng gạo, đóng bao, người khỏe thì xay và khuân vác
thóc, kíp đứng cối thì bố trí thêm người, thay nhau người làm, người nghỉ.
Năm 1934, sau khi rời khỏi Hầm xay lúa, Tôn Đức Thắng làm việc tại Sở Lưới, vừa sửa máy vừa
lái canô. Sở lưới, với vai trò của Tôn Đức Thắng trở thành trung tâm giao liên quan trọng của tổ
chức Đảng ở Côn Đảo và là đầu mối để tổ chức cho cán bộ, đảng viên bị tù ở Côn Đảo trốn về hoạt
động trong đất liền.

Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật, nhanh chóng đánh bại đạo quân Quan Đông
hơn một triêu lính tinh nhuệ của Nhật. Ngày 15/8/1945, phát xít Nhật chính thức đầu hàng Liên Xô
và các nước đồng minh không điều kiện. Đảng ta kịp thời chớp thời cơ lãnh đạo nhân dân cả nước
vùng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Sau khi nghe lời Chủ tịch Hồ Chí Minh
đọc Tuyên ngôn độc lập do một đài nước ngoài phát lại, toản đảo vui mừng không xiết. Sáng
23/9/1945, tàu Phú Quốc cùng 25 chiếc thuyền bầu đã nhổ neo đưa 1800 tù chính trị trở về đất liền.
Chiếc canô vừa được sửa lại mang tên Giải phóng do chính Tôn Đức Thắng lái đưa một số đồng chí
trong Ban lãnh đạo trở về. Tuy gian nan, vất vả nhưng chiều ngày 2/3/9/1945 mọi người đã cập bến

• 30/3/1980: Qua đời tại Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi.
Tuy không có nền tảng giáo dục hoàn hảo nhưng ông được coi là một trong những hình tượng
của Cách mạng và Nhà nước Việt Nam. Tuy là Ủy viên Trung ương từ năm 1951 cho tới khi mất
nhưng ông chưa bao giờ được bầu vào Bộ Chính trị.
2. DIỄN TIẾN VIỆC ĐỒNG CHÍ TÔN ĐỨC THẮNG KÉO CỜ ĐỎ TRÊN
CHIẾN HẠM FRANCE
Khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) bùng nổ, nhiều người Việt Nam phải vào
phục vụ quân đội Pháp. Là người thợ máy giỏi, ngày 9/10/1916, đồng chí Tôn Đức Thắng nhận lệnh
xuống phục vụ tại chiến hạm France và là người Việt Nam duy nhất trên chiến hạm đó. Đến ngày
16/4/1919, mặc dù chiến tranh thế giới đã kết thúc, chính phủ Pháp điều động một hạm đội gồm 5 chiến
hạm (trong đó có chiến hạm France) vào Hắc Hải để cùng với các đế quốc khác chống lại nước Nga Xô
Viết trẻ tuổi. Các chiến hạm được lệnh vượt qua eo biển Đác-đa-nen tiến vào biển Đen và bắn phá hải
cảng Xê-vat-tô-pôn.
Anh em binh lính trên hạm đội bất bình vì phải tiếp tục đổ máu, dù chiến tranh đã kết thúc. Biết
được âm mưu ấy, thợ máy Tôn Đức Thắng đã cùng anh em binh lính Pháp quyết định phản chiến.
8 giờ sáng ngày 20/4/1919, cuộc binh biến nổ ra trên chiến hạm France và Jean Bart. Lá cờ đỏ
được kéo lên trên chiến hạm France trước cửa thành Xê-vat-tô-pôn, do đồng chí Tôn Đức Thắng thực
hiện, đã được anh em binh lính, công nhân trên tàu chuẩn bị trước.
Bằng hành động đó, đồng chí Tôn Đức Thắng là một trong những người Việt nam đầu tiên đã
tham gia đấu tranh bảo vệ Cách mạng tháng Mười và xây đắp tình hữu nghị Việt – Xô, đồng thời, biểu
thị tình cảm của nhân dân Việt Nam lúc đó còn là thuộc địa của Pháp, chào mừng nhà nước Công nông
đầu tiên trên thế giới.
3. CÔNG HỘI BÍ MẬT VÀ CUỘC BÃI CÔNG CỦA CÔNG NHÂN BA SON
Sau một thời gian làm việc tại Pháp, đồng chí Tôn Đức Thắng trở về Sài Gòn. Chịu ảnh hưởng
của Cách mạng Tháng Mười Nga và với những kinh nghiệm hoạt động trong phong trào Công đoàn
Pháp, đồng chí Tôn Đức Thắng đã đi vào hoạt động trong tầng lớp công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn và
trực tiếp vận động thành lập Công hội Đỏ đầu tiên ở Việt Nam. Sau một thời gian vận động chuẩn bị,
vào đầu 1921, Công hội Đỏ đã ra đời tại Cảng Sài Gòn, trường Bá Nghệ Cao Thắng, nhà đèn Chợ Quán
và xưởng Ba Son, nhà máy đèn Sài Gòn. sau dần dần phát triển đến hãng Faci và nhiều nơi khác. Hội
trưởng của Công hội lúc đó là Tôn Đức Thắng – thợ máy nhà đèn Chợ Quán.

Cuộc đấu tranh với mục đích chính trị rõ rệt nhưng diễn ra một cách khôn khéo dưới khẩu hiệu
khác. Tiếng vang của cuộc đấu tranh này đã vượt ra ngoài phạm vi quốc qua đến với phong trào cách
mạng vô sản và công nhân thế giới.
4. NHỮNG DANH HIỆU CAO QUÝ ĐƯỢC TRAO TẶNG
- Năm 1955, được Ủy ban Giải thưởng hòa bình quốc tế Lênin tặng giải thưởng Lênin “Vì hòa
bình và hữu nghị giữa các dân tộc”
- Năm 1958, được Quốc hội và Hồ Chủ Tịch tặng thưởng Huân chương Sao Vàng
- Năm 1967, được Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô tặng thưởng Huân chương Lênin về
những hành động cách mạng của Bác Tôn góp phần vào cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền Xô
viết trong thời kỳ nội chiến
- Năm 1978, được Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô tặng thưởng Huân chương Cách mạng
Tháng Mười để ghi nhận công lao đóng góp to lớn của Chủ tịch Tôn Đức Thắng vào việc phát
triển và củng cố tình hữu nghị anh em, hợp tác về mọi mắt giữa Việt Nam – Liên Xô.
- Năm 1978, Đoàn chủ tịch Quốc hội Mông Cổ, tặng thưởng Huân chương Xu-khechương Xu-khê
Ba-to, huân chương cao quý nhất của Mông Cổ, để ghi nhận công lao to lớn của Chủ tịch đã
cống hiến cho sự nghiệp hòa bình, hữu nghị và chủ nghĩa xã hội của các dân tộc; trong việc củng
cố tình hữu nghị anh em giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Mông Cổ.
Cập nhật ngày 9/5/2008 – Công Đoàn 1 Trang 5
5. MỘT SỐ CÂU NÓI ĐƯỢC TRÍCH DẪN
“Đồng chí Tôn Đức Thắng là một người con rất ưu tú của Tổ quốc… Là một gương mẫu đạo đức cách
mạng: suốt đời cần kiệm liêm chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”
(Lời chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp đồng chí Tôn Đức Thắng được trao tặng Huân chương
sao vàng, 20/8/1958)
“Cụ Tôn Đức Thắng và đồng chí Nguyễn Lương Bằng là hai chiến sĩ lão thành của cách mạng Việt
Nam, những người bạn chiến đấu gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những người con ưu tú của dân tộc
Việt Nam ta. Hai đồng chí được Quốc hội nhất trí tín nhiệm giao cho trọng trách lãnh đạo Nhà nước ta là
rất xứng đáng”
(Lời chúc mừng của đồng chí Trường Chinh nhân dịp đồng chí Tôn Đức Thắng được bầu giữ Chủ tịch
nước, 1969)
“Bác Tôn là người chiến sĩ cách mạng không bao giờ và không gì lay chuyển được, một con người hết

mà đỉnh cao là vinh quang".
Chuyện này anh Ba Tô Ký thường kể với bạn bè và kết luận: "Bác Tôn đúng là một người thợ".
Hãy nghe bác sĩ Trần Hữu Nghiệp kể về chuyện Bác Tôn sửa Pháp văn của bác sĩ Nghiệp thì mới biết
cái vốn tiếng Pháp của Bác Tôn.
* Bác sĩ Nghiệp nhận Bác Tôn là thầy
Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp may mắn được làm "ngự y" (bác sĩ riêng) cho Bác Tôn trong chuyến công du
sang nước Đức và Liên Xô vào cuối năm 1955 và đầu năm 1956. Đi Cộng hòa Dân chủ Đức là để dự lễ
chúc thọ Chủ tịch Vin-hem-pích 80 tuổi. Đi Liên Xô là để nhận Giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lénine.
Bác Tôn nhờ bác sĩ Nghiệp viết giùm bài phát biểu ngắn để Bác đọc tại lễ chúc thọ Chủ tịch nước Đức.
Bác sĩ Nghiệp tốt nghiệp Y khoa Bác sĩ tại Paris, nói và viết tiếp Pháp dễ dàng như nói và viết tiếng mẹ
đẻ.
Chừng đưa bản thảo cho Bác duyệt thì lạ lùng làm sao, bác sĩ Nghiệp bị Bác Tôn sửa văn. Và sửa rất
chính xác. Đó là câu "Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình" Bác sĩ Nghiệp viết "Le peuple
Vietnamien aimant la paix" Bác Tôn dùng bút đỏ sửa "aimant la paix" ra "épris de paix". Cụm từ "épris
de paix" hay hơn "aimant la paix" rất nhiều. Từ đó bác sĩ Nghiệp suy tôn Bác Tôn là "sư phụ".
Cũng như bác sĩ Nghiệp, ai cũng biết Bác Tôn có bằng Tiểu học (Cerrtificat d'Eựtudes Primaires
Complémentaires Indochinoises - CEPCI) rồi học bốn năm Trường Máy trước khi đi làm thợ ở hãng Ba
Son (Tây gọi là Arsenal tức Hải quân Công xưởng). Vậy mà trình độ Pháp văn của Bác Tôn "ăn trùm"
vốn liếng tiếng Pháp của bác sĩ Trần Hữu Nghiệp đã học Pháp văn từ lớp chót lên tới tú tài là 13 năm,
cộng với bảy năm học Đại học Y khoa, tổng cộng là hai mươi năm trường.
Anh Ba Khiêm kể về Bác Tôn ở Côn đảo
Côn Đảo là trường mẫu giáo đồng thời là trường đại học chính trị cho anh em tù bị thực dân Pháp đày ra
hòn đảo ngục tù này. Trong giới chính trị phạm có câu nói vui "Lycée Khám Lớn, đại học Côn Nôn"
(Lycée tiếng Pháp có nghĩa là trung học).
Trong tù có nhiều lớp học. Lớp dạy văn hóa, đặc biệt là sử - địa, lớp dạy chính trị. Lớp dạy chính trị có
thêm vài ban như ban sưu tầm (sách báo), ban sao chép (để phát cho nhiều phòng), đồng chí Phạm Văn
Cập nhật ngày 9/5/2008 – Công Đoàn 1 Trang 7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status