Pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động và thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH việt lai thuận - Pdf 62

MỤC LỤC
MỤC LỤC..................................................................................................................... i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT.....................................................................................iii
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài..........................................................................................1
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan....................................................2
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu..................................................................2
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu..........................................................3
5. Phương pháp nghiên cứu........................................................................................4
6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp..................................................................................4
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT BẢO
HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC.......................................................................................5
1.1. Khái quát chung về bảo hiểm xã hội...................................................................5
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội................................................................................5
1.1.2. Vai trò của bảo hiểm xã hội trong hệ thống an sinh xã hội.............................5
1.2. Khái quát chung về bảo hiểm xã hội bắt buộc....................................................6
1.2.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc................................................................6
1.2.2. Vai trò của bảo hiểm xã hội bắt buộc trong hệ thống bảo hiểm xã hội..........7
1.3. Các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội bắt buộc....................................................8
1.4. Cơ sở bản hành và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về bảo
hiểm xã hội bắt buộc..................................................................................................10
1.5. Nội dung pháp luật Việt Nam điều chỉnh về bảo hiểm xã hội bắt buộc..........11
1.5.1. Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc..............12
1.5.2. Quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc.........................................................................14
1.5.3. Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc..............................................................16
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ
HỘI BẮT BUỘC TẠI CÔNG TY TNHH VIỆT LAI THUẬN...............................25
2.1. Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật
bảo hiểm xã hội bắt buộc tại công ty Việt Lai Thuận..............................................25
2.1.1 Tổng quan tình hình pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc........................25



2


3


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT

Từ viết tắt

Nghĩa của từ

1

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

2

BHXH

Bảo hiểm xã hội

3

TNLĐ


hiểm xã hội đã pháp huy tích cực trong việc đảo đảm đời sống cho người lao động và
các thành viên của gia đình họ, tuy nhiên vẫn còn một số bất cập được đặt ra. Đặc biệt
đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì vấn đề bảo hiểm thường bị các chủ doanh
nghiệp né tránh hoặc bỏ qua, từ đó ảnh hưởng đến quyền của người lao động. Ở công
ty TNHH Việt Lai thuận có khoảng 35 người lao động làm việc, trong đó có cả người
làm việc toàn thời gian và làm việc bán thời gian. Những người lao động làm việc bán
thời gian sẽ không được công ty đóng bảo hiểm xã hội. Bên cạnh đó việc đóng bảo
hiểm xã hội cho nhân viên toàn thời gian làm việc chính thức cũng chưa được công ty
thực hiện đúng quy định. Chính vì vậy, em quyết định chọn đề tài " Pháp luật về bảo
hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động và thực tiễn thực hiện tại công ty
TNHH Việt Lai Thuận." làm đề tài nghiên cứu cho khoá luận tốt nghiệp. Em hi vọng,
1


kết quả của nghiên cứu sẽ mang lại lợi ích cho bản thân cũng như giúp Công ty TNHH
Việt Lai Thuận có một nguồn tham khảo để xây dựng chính sách bảo hiểm xã hội cho
nhân viên được hiệu quả và đúng quy định pháp luật.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Những vấn đề pháp lý về bảo hiểm xã hội bắt buộc được đề cập đến trong giáo
trình của một số trường đại học nhưng: Giáo trình Luật lao động của Khoa Luật - Đại
học Kinh tế quốc dân; Giáo trình Luật lao động Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà
Nội; Giáo trình Luật lao động của Đại học Kiểm sát Hà Nội, ... Bên cạnh các giáo
trình, đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề về bảo hiểm xã hội bắt buộc. Có thể kể
đến một số các công trình như:
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện chế độ bảo
hiểm xã hội bắt buộc giai đoạn đến 2020” của Vụ Bảo hiểm xã hội.
Luận án tiến sỹ: “Hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội ở Việt Nam – Lý luận và
thực tiễn” của Tiến sỹ khoa học Luật học Nguyễn Huy Ban, Trường Đại học khoa học
xã hội và nhân văn, Hà Nội.
Luận văn thạc sỹ Luật học: “Pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc và thực tiễn

TNHH Việt Lai Thuận.
4.2. Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về bảo hiểm xã
hội bắt buộc và thực tế thực hiện tại công ty TNHH Việt Lai Thuận nhằm đạt được các
mục tiêu sau:
- Nắm rõ một sốvấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội bắt buộc.
- Nghiên cứu việc áp dụng các quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc tại
công ty TNHH Việt Lai Thuận.
- Từ những nghiên cứu trên, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
về bảo hiểm xã hội bắt buộc và nâng cao hiệu quả thực hiện tại công ty TNHH Việt
Lai Thuận.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về năng lực và thời gian, khoá luận tập trung nghiên cứu vấn đề về
thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động làm việc tại Công ty
TNHH Việt Lai Thuận.
Phạm vi về thời gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật
điều chỉnh chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc từ năm 2014 đến nay và thực tiễn thực
hiện các quy định này của công ty TNHH Việt Lai Thuận từ năm 2015 đến nay.
Phạm vi về không gian: Nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam quy định
tại Luật bảo hiểm xã hội 2014 và thực tế thực hiện tại công ty TNHH Việt Lai Thuận.

3


5. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra, khoá luận đã sử dụng phối hợp nhiều phương
pháp nghiên cứu như:
Phương pháp thu thập dữ liệu, thu thập thông tin thứ cấp: Thu thập các dữ liệu
có sẵn từ các phương tiện thông tin đại chúng như: sách, báo, internet…. Trong khi đó,
thông tin sơ cấp được thu thập bằng cách hỏi ý kiến của các chuyên gia, các anh chị có

Theo Bách khoa toàn thư thì: BHXH là biện pháp bảo đảm, thay đổi hoặc bù đắp
một phần thu nhập của người lao động do gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất
khả năng lao động, mất việc làm thông qua một quỹ tiền tệ được tập trung từ sự đóng
góp của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
Bảo hiểm xã hội hội là trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội ở mỗi nước.
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO): "Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế
hoặc bù đắp một phần thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động
hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ
tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần đảm
bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo
an toàn xã hội". mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,
hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội".'
Ở Việt Nam, khái niệm bảo hiểm xã hộiBHXH được quy định tại khoản 1 Điều 3
Luật Bảo hiểm xã hội 2014 như sau: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù
đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm
đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ
sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.”
1.1.2. Vai trò của bảo hiểm xã hội trong hệ thống an sinh xã hội
Hệ thống an sinh xã hội có những bộ phận cơ bản sau: bảo hiểm xã hộiBHXH;
trợ giúp xã hội; trợ cấp gia đình; những quỹ tiết kiệm; các dịch vụ xã hội khác được tài
trợ bởi ngân sách nhà nước và nguồn vốn công cộng. Bảo hiểm xã hộiBHXH là bộ
phận lớn nhất trong hệ thống an sinh xã hội, là trụ cột cơ bản của an sinh xã hội. Có
thể nói, không có bảo hiểm xã hộiBHXH thì không thể có một nền an sinh xã hội vững
mạnh. Vai trò trụ cột của bảo hiểm xã hộiBHXH trong hệ thống an sinh xã hội thể hiện
ở những điểm sau:
Đối tượng của bảo hiểm xã hộiBHXH rất rộng: là những người được điều chỉnh
bởi pháp luật bảo hiểm xã hộiBHXH và bao gồm những người tham gia đóng góp cho
5



lực để thực hiện chính sách an sinh xã hội của Chính phủ. Tính cơ bản, tính ổn định
6


của bảo hiểm xã hội trong hệ thống an sinh xã hội thể hiện thông qua vấn đề tài chính
để thực thi các chính sách của hệ thống này. Mặc dù mục tiêu của quỹ bảo hiểm xã hội
là để chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, nhưng do tính đặc thù của bảo hiểm xã hội là
có độ trễ giữa thu và chi bảo hiểm xã hội, nên một phần quỹ được nhàn rỗi tương đối.
Phần nhàn rỗi này của Quỹ bảo hiểm xã hội được đầu tư vào một số lĩnh vực của nền
kinh tế quốc dân, góp phần phát triển kinh tế xã hội. Bảo hiểm xã hội càng hoạt động
tốt, quỹ bảo hiểm xã hội càng phát triển sẽ góp phần rất to lớn vào việc ổn định đời
sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời sẽ tạo ra sự vững mạnh của nền tài
chính quốc gia. Xét về tổng thể, quỹ bảo hiểm xã hội tạo ra nguồn cung dồi dào và ổn
định cho thị trường tài chính; tạo điều kiện ổn định nền tài chính quốc gia và cuối cùng
là góp phần làm cho an sinh xã hội được đảm bảo hơn. Mặt khác, khi tham gia vào
dòng tài chính quốc gia, quỹ bảo hiểm xã hội góp phần tạo ra những cơ sở sản xuất
kinh doanh mới, việc làm mới, góp phần quan trọng trong việc tạo ra công ăn việc làm
cho người lao động, từ đó góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp của đất nước, góp
phần tăng thu nhập cá nhân cho người lao động nói riêng và tăng thu quốc dân nói
chung.
1.2. Khái quát chung về bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.2.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc
Qua nghiên cứu các quan điểm về bảo hiểm xã hộiBHXH, có thể hiểu “bảo hiểm
xã hội bắt buộc là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người
lao động và trong một số trường hợp gồm cả thành viên gia đình khi họ gặp rủi ro hoặc
biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động do một số nguyên nhân nhất định gây ra
như ốm đau thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, già yếu hoặc chết trên cơ sở
nghĩa vụ bắt buộc tham gia của người sử dụng lao động và người lao động”
Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc được quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Bảo
hiểm xã hội 2014: “Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà

Quỹ bảo hiểm xã hội là dòng chảy liên tục sự đóng góp và sự chi ra của tiền bảo
hiểm. Bảo hiểm xã hội đã thực hiện sự phân phối lại theo chiều ngang giữa các nhóm
người, giữa các thế hệ khi tham gia bảo hiểm xã hội là thực hiện nguyên tắc lấy số
đông bù số ít.
Tóm lại, bảo hiểm xã hộiBHXH bắt buộc có vai trò cả về kinh tế và xã hội. Vai
trò của pháp luật là xác lập được hình thức pháp luật nhất định và bảo đảm thực hiện
bởi cơ chế pháp luật thích hợp nhằm kết hợp hài hòa nội dung kinh tế và xã hội trong
bảo hiểm xã hộiBHXH phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước, trên cơ sở
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các bên trong bảo hiểm xã hộibắt buộc.
8


1.3. Các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội bắt buộc
Việc thực hiện bảo hiểm xã hộBHXHi bắt buộc cũng cần phải tuân thủ các
nguyên tắc nhất định, bao gồm những nguyên tắc chung của bảo hiểm xã hộiBHXH và
những nguyên tắc riêng của bảo hiểm xã hộiBHXH bắt buộc, các nguyên tắc này được
ghi nhận trong các văn bản của ILO và pháp luật quốc gia.
 Bảo hiểm xã hội bắt buộc có tính bắt buộc về nghĩa vụ tham gia.
Vì sự ổn định chung của quan hệ lao động, bảo hiểm xã hộiBHXH là dựa trên cơ
sơ huy động khoản tiền nhỏ của mỗi người lao động để hỗ trợ một phần rui ro, khắc
phục khó khăn, thiếu thốn khi bản thân không còn đủ điều kiện để tiếp tục lao động.
Khác với bảo hiểm xã hộiBHXH tự nguyện được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của
người tham gia, có quyền tự do lựa chọn tham gia hoặc không tham gia bảo hiểm xã
hộiBHXH tự nguyện, đối với bảo hiểm xã hộiBHXH bắt buộc các đối tượng không có
quyền lựa chọn có được tham gia hay không tham gia mà họ phải tham gia hình thức
bảo hiểm xã hộiBHXH này khi thuộc các trường hợp pháp luật đã quy định. Đây là
điểm đặc trưng riêng giữa bảo hiểm xã hộiBHXH bắt buộc và bảo hiểm xã hộiBHXH
tự nguyện.
 Mức đóng bảo hiểm xã hộiBHXH bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương,
tiền công của người lao động.

đảm bảo mức sống tối thiểu cho họ.
 Một số chế độ bảo hiểm xã hộiBHXH bắt buộc được thực hiện trên cơ sở lấy
số đông bù số ít.
Trong tổng số thời gian làm việc của một đời người thường nhiều hơn thời gian
ngừng hoặc nghỉ việc không có thu nhập. Cho nên thời gian làm việc có tham gia đóng
bảo hiểm xã hộiBHXH bắt buộc đó đã tạo nguồn vật chất cùng với sự đóng góp của
người sử dụng lao động tạo nguồn cho quỹ bảo hiểm, trợ giúp cho quãng thời gian ốm
đau, tai nạn, thai sản. Do vậy càng nhiều người tham gia bảo hiểm xã hộiBHXH bắt
buộc thì sự san sẻ rủi ro càng được thực hiện dễ dàng hơn. Để làm được điều này, bảo
hiểm xã hộiBHXH bắt buộc phải quán triệt nguyên tắc “lấy số đông bù số ít”.
 Quỹ bảo hiểm xã hộiBHXH được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai,
minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành
phần.
Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội,
chứa đựng cả nội dung kinh tế, nội dung xã hội và nội dung pháp lý. Để đảm bảo thực
hiện hài hòa các nội dung nói trên và đạt được mục tiêu mà bảo hiểm xã hộiBHXH đặt
ra thì một trong những vấn đề cần được chú ý là việc quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm
10


xã hộiBHXH. Theo quy định của pháp luật, quỹ bảo hiểm xã hộiBHXH bao gồm các
quỹ thành phần: BHXHbảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hộiBHXH tự nguyện và
bảo hiểm thất nghiệp. Tuy nhiên hiện nay quỹ bảo hiểm xã hộiBHXH chủ yếu có
nguồn thu từ bảo hiểm xã hộiBHXH bắt buộc, việc sử dụng quản lý quỹ này trên cơ sở
Nhà nước thống nhất quản lý và hạch toán theo quy định pháp luật.
 Nhà nước thống nhất quản lý bảo hiểm xã hộiBHXH.
Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn có ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống
xã hội. Nhà nước với tư cách là người đại diện duy nhất, thay mặt cho toàn xã hội,
phải có trách nhiệm thực hiện các chính sách xã hội mà bảo hiểm xã hội là một trong
những chính sách xã hội đó. Nhà nước quản lý các hoạt động bảo hiểm xã hội thông

nhất định để họ trang trải khi không may gặp những khó khăn đó. Trong thực tế, nhiều
khi các rủi ro trên không xảy ra và người chủ lao động không phải chi ra đồng nào
nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ phải bỏ ra một khoản tiền rất lớn mà họ
không muốn. Do đó mâu thuẫn giữa họ càng trở nên vô cùng gay gắt. Khi những mâu
thuẫn này kéo dài, nhà nước phải đứng ra can thiệp bằng cách: buộc giới chủ lao động
phải có trách nhiệm hơn đối với người lao động mà mình sử dụng, thể hiện ở việc phải
trích ra một phần thu nhập của mình để hình thành quỹ. Sau đó dùng nguồn quỹ này để
trợ cấp cho người lao động và gia đình họ, khi người lao động không may gặp những
rủi ro và sự cố bất ngờ. Đồng thời Nhà nước đứng ra bảo trợ cho quỹ. Bằng cách đó cả
chủ và thợ đều thấy mình có lợi và tự giác thực hiện, cuộc sống của người lao động
được đảm bảo. Người chủ lao động được bảo vệ việc sản xuất kinh doanh diễn ra bình
thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết. Từ đó tạo thành mối quan hệ
BHXH bắt buộc cho người lao động. Như vậy BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ
người lao động, bằng cách thông qua việc tập trung nguồn tài chính được huy động từ
sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động (nếu có), sự tài trợ của Nhà
nước nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình họ trong trường hợp
bị giảm hoặc mất thu nhập do gặp các rủi ro ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật hoặc tử vong…
Về nguồn luật điều chỉnh về bảo hiểm xã hộiBHXH bắt buộc bao gồm:
- Luật bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13;
- Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13;
- Nghị định số 115/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo
hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc;

12


- Nghị định số 21/2016/NĐ-CP Quy định việc thực hiện chức năng thanh tra
chuyên ngành về đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế của cơ
quan bảo hiểm xã hội;

Thứ ba, các chế độ bảo hiểm xã hộiBHXH bắt buộc. Nước ta đã lựa chọn thực
hiện các chế độ BHXH bắt buộc sau: Chế độ ốm đau, chế độ thai sản; chế độ tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất.
1.5.1. Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc
 Bản thân người lao động:
Quan hệ pháp luật BHXH bắt buộc phát sinh sau khi quan hệ lao động được thiết
lập. Chính vì vậy chủ thể của quan hệ BHXH bắt buộc là chủ thể của quan hệ lao động
được xác lập trước đó và phải thỏa mãn các điều kiện về năng lực chủ thể của quan hệ
lao động về năng lực pháp luật và năng lực hành vi.
Năng lực pháp luật của người lao động là khả năng người nào đó được pháp luật
quy định cho các quyền và buộc phải gánh vác những nghĩa vụ lao động. Năng lực
pháp luật lao động là năng lực khách quan, ở bên ngoài và không phụ thuộc vào ý chí
của người lao động, thậm chí kể cả người sử dụng lao động.
Theo quy định hiện hành của pháp luật lao động, độ tuổi được tham gia quan hệ
lao động, hay nói cách khác được coi là có tư cách, có năng lực pháp luật, có thể tham
gia vào quan hệ lao động khi đi 15 tuổi trở lên và không có giới hạn trên về tuổi cho
người lao động. Chủ thể trong quan hệ BHXH bắt buộc là người lao động là công dân
Việt Nam. Luật BHXH 2014 đã bổ sung chủ thể của quan hệ BHXH bắt buộc là người
lao động có thời hạn 1 tháng trở lên, người lao động là người nước ngoài làm việc tại
Việt Nam.
 Thân nhân người lao động
Thông thường trong quan hệ bảo hiểm xã hội chỉ xuất hiện bên được bảo hiểm là
người lao động. Chỉ trong trường hợp người lao động chết thì thân nhân của họ trở
thành chủ thể của quan hệ BHXH bắt buộc. Như vậy trong quan hệ pháp luật BHXH
hoặc bên được bảo hiểm là người lao động hoặc là thân nhân người lao động, hầu như
không xuất hiện đồng thời trừ trường hợp người lao động theo quy định tại Điều 46
Luật Bảo hiểm xã hội 2006. Khác với người lao động phải đáp ứng yêu cầu về năng
lực chủ thể, năng lực hành vi thì thân nhân người lao động chỉ cần có năng lực pháp
luật. Loại chủ thể này tham gia thụ động vào quan hệ pháp luật BHXH bắt buộc và
được pháp luật BHXH bắt buộc bảo vệ. Kế thừa chế định thừa kế của pháp luật dân sự,

Năng lực hành vi của người sử dụng lao động là khả năng của người sử dụng lao
động trong việc tạo lập - gánh vác các quyền và nghĩa vụ trong quá trình tuyển dụng
lao động.
Khi người sử dụng lao động có năng lực pháp luật và năng lực hành vi lao động
thì đồng thời có năng lực pháp luật và năng lực hành vi trong quan hệ pháp luật BHXH
15


bắt buộc. Cụ thể, trong quan hệ pháp luật BHXH bắt buộc, người sử dụng lao động
phải thực hiện các hành vi theo quy định của pháp luật về BHXH bắt buộc như đóng
BHXH bắt buộc cho người lao động, lập hồ sơ giải quyết chế độ, giới thiệu người lao
động đi giám định y khoa...
 Cơ quan bảo hiểm xã hội
Cơ quan BHXH thực chất là cơ quan công quyền đại diện cho nhà nước, là tổ
chức sự nghiệp, có chức năng thực hiện chế độ, chính sách BHXH bắt buộc theo quy
định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. Điều 93 Luật BHXH 2014 quy định “Cơ quan
bảo hiểm xã hội là cơ quan nhà nước có chức năng thực hiện chế độ, chính sách bảo
hiểm xã hội, quản lý và sử dụng các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp; thanh tra việc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế và
nhiệm vụ khác theo quy định của Luật này.”
Tuy nhiên, trong trường hợp nhất định, tổ chức BHXH vừa tham gia quan hệ
BHXH với tư cách là người sử dụng lao động đồng thời là đại diện cho Nhà nước. Ví
dụ: Quan hệ BHXH bắt buộc giữa cơ quan BHXH với cán bộ, công chức của cơ quan
đó.
Việc tham gia bảo hiểm xã hội có ý nghĩa rất lớn trong đảm bảo điều kiện sống
và an toàn xã hội cho người lao động và thậm chí cả nhân thân của họ trong trường
hợp họ gặp rủi ro. Để tạo nguồn thu ổn định, lâu dài cho quỹ bảo hiểm xã hội đồng
thời phải phù hợp với điều kiện của người đóng góp, thì việc lựa chọn đối tượng áp
dụng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc rất quan trọng.
Có người cho rằng, đối tượng của bảo hiểm xã hội là người lao động. Tuy nhiên,

độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước được hình thành từ việc đóng góp
của các bên tham gia và các nguồn thu khác, sử dụng chi trả các chế độ bảo hiểm xã
hộiBHXH bắt buộc đã nêu trên.
Quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc là một trong những nội dung quan trọng của hệ
thống BHXHbảo hiểm xã hội. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quỹ bảo hiểm
xã hộiBHXH. Có thể nêu một định nghĩa như sau: Quỹ bảo hiểm xã hộiBHXH bắt
buộc là tập hợp những đóng góp bằng tiền của các bên tham gia bảo hiểm xã
hộiBHXH và các nguồn thu hợp pháp khác, hình thành một quỹ tiền tệ tập trung, được
sử dụng để chi trả cho những người được hưởng bảo hiểm xã hộiBHXH bắt buộc và
gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảam, mất khả năng lao động hoặc
bị mất việc làm hoặc bị chết. Như vậy, quỹ bảo hiểm xã hộiBHXH là một quỹ tiêu
dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng, nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội
17


rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ
thống bảo hiểm xã hộiBHXH tồn tại và phát triển.
Quỹ bảo hiểm xã hội hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết
những sự kiện, những “rủi ro xã hội” của tất cả những người tham gia với tổng dự trữ
ít nhất, giúp cho việc dàn trải “rủi ro” được thực hiện theo cả hai chiều không gian và
thời gian, đồng thời giúp giảm tối thiểu thiệt hại kinh tế cho người sử dụng lao động,
tiết kiệm chi cho cả ngân sách Nhà nước và ngân sách gia đình.
1.5.2.1. Nguồn hình thành quỹ
Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:
- Người lao động đóng góp
- Người sử dụng đóng góp
- Nhà nước bù thiếu
- Các nguồn thu khác (từ các cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi đầu tư
vốn nhàn rỗi).
Quỹ BHXH bắt buộc được hình thành chủ yếu từ nguồn đóng góp của người lao

cơ sở quan hệ lao động. Điều này không phải là sự phân chia rủi ro mà là lợi ích giữa
hai bên. Về phía người sử dụng lao động, sự đóng góp một phần bảo hiểm xã hội cho
người lao động sẽ tránh được thiệt hại kinh tế do phải chỉ ra một khoản tiền lớn khi có
rủi ro xảy ra đối với người lao động mà mình thuê mướn. Đồng thời nó còn góp phần
kiến tạo được mối quan hệ tốt đẹp giữa hai bên chủ - thợ bởi việc đóng góp đó thể hiện
trách nhiệm với những người lao động mà họ đang sử dụng. Về phía người lao động,
sự đóng góp một phần để bảo hiểm xã hội cho mình vừa biểu hiện sự tự gánh chịu trực
tiếp rủi ro của chính mình vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách
chặt chẽ.
Theo mục đích của bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm xã hội phải đảm nhận chỉ
những khoản chủ yếu như: trả trợ cấp theo các chế độ bảo hiểm xã hội (khoản này
chiếm tỷ trọng lớn nhất); chi phí cho bộ máy hoạt động bảo hiểm xã hội chuyên nghiệp
(tiền lương, đào tạo, ...); chi phí đảm bảo các cơ sở vật chất cần thiết và các chi phí
quản lý khác.
Như vậy, trong các nguồn hình thành quỹ thì nguồn chủ yếu là từ sự đóng góp
của các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc
hiện có các quỹ thành phần: quỹ ốm đau và thai sản; quỹ tại nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, quỹ hưu trí và tử tuất. Mức đóng góp của người lao động và người sử dụng lao
động ảnh hưởng rất lớn đến nguồn quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc. Nguồn quỹ có dồi
dào thì mới đảm bảo được khả năng chi trả cho các đối tượng hưởng bảo hiểm xã hội.
19


Các nguồn khác để hình thành quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc chỉ chiếm một phần nhỏ,
như việc đầu tư của quỹ thì bị hạn chế nhiều bởi hạng mục đầu tư, hơn nữa phải đảm
bảo nguyên tắc an toàn cho quỹ nên phần tiên lời thu được không cao. Nhà nước thì
chỉ hỗ trợ trong một trường hợp nhất định, còn lại quỹ phải tự cân đối thu chi.
1.5.2.2 Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc
Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân chủ và công khai theo chế độ
tài chính của Nhà nước, hạch toán độc lập và được Nhà nước bảo hộ. Quỹ bảo hiểm xã

Ở Việt Nam, ta không gọi quỹ bảo hiểm xã hội mà chỉ gọi là Bảo hiểm xã hội, tổ chức
thành các cấp gồm: bảo hiểm xã hội Việt Nam, bảo hiểm xã hội cấp tỉnh, và bảo hiểm
xã hội cấp huyện.
Cơ quan quản lý cao nhất của bảo hiểm xã hội là Hội đồng quản lý bảo hiểm xã
hội Việt Nam, có nhiệm vu: chỉ đạo và giám sát, kiểm tra việc thu chi, quản lý quỹ;
quyết định các biện pháp để bảo tồn giá trị và tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội; thẩm
tra quyết toán và thông qua dự toán hằng năm; kiến nghị với Chính phủ và các cơ quan
Nhà nước có liên quan bổ sung, sửa đổi các chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội; giải
quyết các khiếu nại của người tham gia bảo hiểm xã hội; đề xuất việc bổ nhiệm, miễn
nhiệm, cách chức các thành viên Ban lãnh đạo Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Thành viên của Hội đồng quản lý gồm đại diện có thẩm quyền của Bộ Lao động thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Tổng
giám đốc bảo hiểm xã hội Việt Nam. Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội Việt Nam có
chủ tịch, một phó chủ tịch và các thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn
nhiệm.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam do Tổng giám đốc trực tiếp quản lý và điều hành theo
chế độ thủ trưởng, được tổ chức thành hệ thống dọc từ trung ương đến địa phương như
đã đề cập ở trên.
1.5.3. Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc
Các chế độ bảo hiểm xã hội là hệ thống các quy định về mức hưởng của từng
trường hợp, điều kiện hưởng mức hưởng và thời hạn hưởng cho người lao động khi họ
gặp phải những rủi ro thuộc từng phạm vi bảo hiểm. Tùy theo điều kiện, hệ thống bảo
hiểm xã hội của mỗi nước có thể có các chế độ bảo hiểm xã hội khác nhau trong số 9
chế độ mà Tổ chức Lao động quốc tế quy định. Hiện nay pháp luật bảo hiểm xã
hộiBHXH của Việt Nam quy định có 5 chế độ: chế độ trợ cấp cho những trường hợp bị
ốm đau (gọi tắt là chế độ ốm đau); chế độ bảo hiểm xã hộiBHXH cho lao động nữ khi
sinh con (gọi tắt là chế độ thai sản); chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hộiBHXH cho người
21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status