ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRƯƠNG THÙY VÂN
NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN HỆ GIỮA KẾ TOÁN VÀ
THUẾ Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
ĐÀ NẴNG, 2019
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRƯƠNG THÙY VÂN
NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN HỆ GIỮA
KẾ TOÁN VÀ THUẾ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 62.34.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. Ngô Hà Tấn
PGS. TS. Nguyễn Công Phương
ĐÀ NẴNG, 2019
hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp trong Khoa Kinh tế - Du lịch nói
riêng và Trường Đại học Quảng Bình nói chung đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ
tôi hoàn thành tốt công tác chuyên môn trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu.
Cuối cùng xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình và
bạn bè đã luôn bên cạnh hỗ trợ, động viên tinh thần và vật chất cho tôi trong quá trình
hoàn thành luận án.
Tác giả
Trương Thùy Vân
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TT Chữ viết tắt
Diễn giải
1
AEC
ASEAN Economic Community (Cộng đồng kinh tế ASEAN)
2
AFTA
ASEAN Free Trade Area (Khu vực thương mại tự do ASEAN)
3
8
CEO
Chief Executive Officer (Giám đốc điều hành)
9
CFO
Chief Finance Officer (Giám đốc tài chính)
10
CLTT
Chênh lệch tạm thời
11
CLVV
Chênh lệch vĩnh viễn
12
CPTPP
Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific
Financial Accounting Standards Board (Hội đồng Chuẩn mực kế
toán tài chính)
18
FEM
Fixed Effect Model (Mô hình tác động cố định)
19
FIN. 48
FASB Interpretation No. 48 (Chuẩn mực số 48)
20
GAAP
Generally Accepted Accounting Principles (Các nguyên tắc kế
toán chung được thừa nhận)
21
GTGT
Giá trị gia tăng
chứng khoán quốc tế)
29 LNKT
Lợi nhuận kế toán
30 MLH
Mối liên hệ
31 NOL
Net Operating Loss (lỗ ròng)
32 OECD
Organisation for Economic Co-operation and Development (Tổ
chức hợp tác và phát triển kinh tế)
33 PD
Permanent Differences (Chênh lệch vĩnh viễn)
34 REM
Random Effect Model (Mô hình tác động ngẫu nhiên)
35 ROA
Return On Assets (Tỷ suất sinh lời của tài sản)
Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement (Hiệp
định đối tác xuyên Thái Bình Dương)
44
TSTTNTài sản thuế thu nhập
45
TSCĐ
Tài sản cố định
46
TTNHLThuế thu nhập hoãn lại
47 UTB
Unrecognized Tax Benefit (Lợi ích thuế không được ghi nhận)
48 VAS
Vietnam Accounting Standards (Chuẩn mực kế toán Việt Nam)
49 XHCN
Xã hội chủ nghĩa
Bảng 2.3
Các đối tượng và giao dịch điển hình được sử dụng để đánh giá
65
mối liên hệ giữa kế toán và thuế ở Việt Nam
Bảng 2.4
Đánh giá mối liên hệ giữa kế toán và thuế thông qua việc đo lường 67
một số đối tượng và giao dịch điển hình ở Việt Nam
Bảng 2.5
Các khoản mục chi phí tạo nên chênh lệch vĩnh viễn giữa kế toán
81
và thuế
Bảng 2.6
Quy định về ghi nhận doanh thu, chi phí tạo nên chênh lệch tạm
88
thời giữa kế toán và thuế
Bảng 3.1
Phân loại biến và cách tính toán các biến trong mô hình
119
Bảng 3.6B
Thống kê mô tả các biến nhị phân và biến giả đưa vào mô hình
119
Bảng 3.7
Tương quan giữa các biến độc lập
121
Bảng 3.8
Kết quả mô hình tác động cố định sai số chuẩn vững
124
Bảng 3.9
Kết quả mô hình tác động cố định sai số vững sau khi đã loại biến
125
Bảng 3.10
Kết quả mô hình tác động cố định sai số vững sau khi đã loại biến
100
Biểu đồ 3.1
Biến động theo năm của sự chế ngự của thuế đến kế toán
116
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của nghiên cứu
Ở các nước Anglo-Saxon như Úc và Vương quốc Anh, hai bộ quy tắc khác biệt
nhau được sử dụng để đo lường lợi nhuận kinh doanh: một cho mục đích tính thuế thu
nhập và một cho mục đích lập báo cáo tài chính. Trong khi đó ở một số quốc gia Châu
Âu lục địa như Pháp, Đức thì hai hệ thống này lại có những sự kết nối nhất định (Tran,
1999). Chính sự khác biệt về thể chế kinh tế chính trị, sự khác nhau về mục tiêu giữa
hai hệ thống kế toán và thuế cũng như lợi ích và bất lợi của mối liên hệ chặt chẽ giữa
kế toán và thuế là những nguyên nhân chính làm nảy sinh những quan điểm khác nhau
giữa những nhà nghiên cứu ở các nước trên thế giới về mối liên hệ giữa kế toán và
thuế. Các nghiên cứu đưa ra những luận cứ khác nhau để bác bỏ hoặc ủng hộ mối liên
hệ chặt chẽ giữa kế toán và thuế ở từng quốc gia và nhóm các quốc gia tương đồng
trên thế giới. Mục đích hướng đến là thiết kế một hệ thống chính sách vừa phù hợp với
đặc điểm kinh tế chính trị của mỗi quốc gia, đảm bảo mục tiêu vốn có của hai hệ thống
và thỏa mãn yêu cầu thực tế của các đối tượng sử dụng thông tin từ hai hệ thống kế
toán và thuế.
Trên thế giới, từ những năm 80 của thế kỷ XX, tổ chức OECD (1987) đã tiến
hành phân loại mối liên hệ giữa kế toán và thuế ở các quốc gia Châu Âu thành hai
nhóm liên hệ chặt chẽ và liên hệ lỏng lẻo dựa trên chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và
đoạn này thay đổi theo hướng tìm hiểu xu hướng phát triển theo thời gian của mối liên
hệ; đánh giá các lợi ích và bất lợi của việc thay đổi mối liên hệ (chủ yếu là các nghiên
cứu định tính); đánh giá hành động quản trị lợi nhuận, các hoạt động chế ngự của thuế
và kiểm toán đối với mối liên hệ giữa kế toán và thuế (chủ yếu là các nghiên cứu định
lượng). Một vấn đề có thể thấy ở các nghiên cứu trong giai đoạn này là các nghiên cứu
đều tập trung giải quyết những vấn đề của quốc gia hoặc một nhóm quốc gia có cùng
những định hướng chung như các quốc gia trong khối thị trường chung Châu Âu (ví dụ
như các nghiên cứu của Nobes & Schwencke, 2006; Gavana & cộng sự, 2013; ...). Các
nghiên cứu đặt ra những câu hỏi nhằm giải quyết vấn đề chung của quốc gia liên quan
đến việc phát triển hệ thống kế toán và thuế hay những hoạt động liên quan đến mối
liên hệ này như quản trị lợi nhuận, tránh thuế, giá trị doanh nghiệp,...
Về phương pháp, nghiên cứu định tính không còn được phát triển ở giai đoạn
gần đây mà thay vào đó là những nghiên cứu định lượng. Đa số các công trình đã công
bố đều sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua các mô hình toán kinh
tế, chủ yếu là mô hình hồi quy đa biến, sử dụng các chỉ tiêu như tỷ suất thuế thực tế
(ETR), chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế (BTD) để đánh giá.
Qua đó có thể thấy vấn đề về nghiên cứu mối liên hệ giữa kế toán và thuế không còn là
2
vấn đề mới trên thế giới nhưng vẫn còn rất nhiều những khoảng trống liên quan đến
thực tiễn vận dụng cần được khai thác ở từng quốc gia nhất định với đặc thù tổ chức hệ
thống kế toán và thuế khác biệt nhau.
Ở Việt Nam, nghiên cứu về chủ đề này được thực hiện gần đây và có rất ít
nghiên cứu thực hiện cho đến thời điểm hiện tại. Nguyễn Công Phương (2010) là tác
giả đầu tiên sử dụng phương pháp của Lamb & cộng sự (1998) để đánh giá mối liên hệ
về mặt lý thuyết, chính sách và kết quả đã đề xuất mô hình phụ thuộc của kế toán vào
thuế trong giai đoạn này. Nghiên cứu của Nguyễn Công Phương (2010) là nghiên cứu
khởi đầu về chủ đề mối liên hệ giữa kế toán và thuế ở Việt Nam. Nghiên cứu đã đưa ra
thiện môi trường kinh doanh, tạo tiền đề hoàn chỉnh khi gia nhập khu vực thương mại
tự do ASEAN (ASEAN Free Trade Area – AFTA), ký kết Hiệp định Đối tác toàn diện
1
và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) . Đây là một hiệp định thương mại tự do
thế hệ mới – được kỳ vọng trở thành hình mẫu cho phát triển thương mại khu vực và
thế giới với yêu cầu cao hơn trong bối cảnh lực lượng sản xuất phát triển rất nhanh và
hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Với bối cảnh đó, thôi thúc Nhà nước hoàn thiện
các chính sách, các quy định và chế độ liên quan đến kinh tế tài chính của doanh
nghiệp, đặc biệt là chế độ kế toán và chính sách thuế theo hướng ngày càng gần hơn
với việc thừa nhận theo các thông lệ quốc tế nhằm góp phần tạo điều kiện cho công tác
hạch toán kế toán và thuế ở các doanh nghiệp. Việc ban hành Luật Thuế thu nhập
doanh nghiệp (Số 32/2013/QH13), Thông tư 200/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính về
việc hướng dẫn thực hiện chế độ kế toán doanh nghiệp ngày 22 tháng 12 năm 2014,
Luật Kế toán (Số 88/2015/QH13) và các văn bản hướng dẫn khác... thể hiện cho nỗ lực
thay đổi toàn diện về kế toán và thuế, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam hội
nhập.
Từ tổng quan về nghiên cứu kế toán và thuế có thể thấy các xung đột xoay quanh
vấn đề ủng hộ hay không ủng hộ mối liên hệ chặt chẽ giữa kế toán và thuế ở các quốc gia
luôn gắn với định hướng phát triển và bối cảnh kinh tế của từng quốc gia là một trong
những những khoảng trống nghiên cứu mà luận án có thể khai thác. Ngoài ra, các nghiên
cứu đã thực hiện ở phạm vi hẹp, phương pháp nghiên cứu chủ yếu là mô tả, lập luận hoặc
nghiên cứu thực nghiệm như phương pháp nghiên cứu còn đơn giản ở nước ta trong thời
gian qua cũng đặt ra vấn đề cần tiếp tục phát triển nghiên cứu về chủ đề này. Mặt khác,
bối cảnh Việt Nam hiện nay cũng làm nảy sinh những yêu cầu về thay đổi chính sách kế
toán và thuế, phù hợp với yêu cầu phát triển mới trong xu
1
Vào ngày 4/2/2016, Hiệp định TPP đã được ký kết giữa 12 nước, gồm Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản,
Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Hoa Kỳ và Việt Nam, có quy mô kinh tế chiếm 40% GDP và
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là mối liên hệ giữa kế
toán và thuế ở Việt Nam. Cụ thể, xem xét mối liên hệ giữa kế toán và thuế trên cả
phương diện lý thuyết và thực tiễn.
Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Nghiên cứu tập trung xem xét quy định, nguyên tắc và thực tiễn đo
lường liên quan đến lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế trong kế toán và thuế.
Về không gian: Nghiên cứu ở các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam.
5
Về thời gian: Thời gian nghiên cứu về mặt chính sách từ năm 1995 đến năm 2017
(chỉ tính đến những mốc thời gian ban hành các chính sách quan trọng của kế toán và
thuế); Thời gian thu thập số liệu để đánh giá thực tiễn mối liên hệ là từ năm 2007 đến
năm 2016.
5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, cách tiếp cận được sử dụng trong luận án là
kết hợp phân tích nội dung và cách tiếp cận diễn dịch (Deductive method). Cách tiếp
cận phân tích nội dung được sử dụng để đạt được mục tiêu thứ nhất và được thể hiện ở
chương 2. Cách tiếp cận diễn dịch được sử dụng để đạt được mục tiêu thứ hai và được
thể hiện ở chương 3. Theo cách tiếp cận này, các bước của nghiên cứu tuân theo quy
trình như sau:
Bước 1: Cơ sở lý thuyết
Bước 2: Giả thuyết
Bước 3: Mô hình nghiên cứu
Bước 4: Thu thập dữ liệu
Bước 5: Phân tích kết quả
Bước 7: Kết luận gắn với lý thuyết
Phù hợp với cách tiếp cận phân tích nội dung và cách tiếp cận diễn dịch, đề tài sử
thuế, kết hợp với phương pháp logic để đánh giá tiến triển của mối liên hệ này, tìm ra
quy luật và xu hướng phát triển của mối liên hệ giữa kế toán và thuế trong tương lai.
Cả hai phương pháp này được sử dụng chủ yếu như là một phần của hệ thống phương
pháp nghiên cứu định tính, giúp tổng hợp và đánh giá sự phát triển của tổng quan
nghiên cứu theo thời gian, đánh giá sự phát triển của hệ thống kế toán và thuế qua các
giai đoạn ở Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu định lượng: Luận án sử dụng phương pháp phân tích
thống kê thông qua mô hình hồi quy tuyến tính dữ liệu bảng để tiến hành nghiên cứu
3
thực tiễn mối liên hệ giữa kế toán và thuế (nghiên cứu De Factor ). Dựa vào chỉ tiêu
chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế, thông qua mô hình hồi quy
dữ liệu bảng sẽ đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến mối liên hệ giữa kế toán và thuế ở
Việt Nam trong thực tiễn.
Số liệu phục vụ cho nghiên cứu là số liệu thứ cấp theo thời gian và theo doanh
nghiệp niêm yết lấy từ báo cáo tài chính của 185 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam trong thời gian 10 năm (từ 2007 đến 2016). Việc đánh giá thực
tiễn mối liên hệ giữa kế toán và thuế sẽ dựa vào kết quả kiểm định mô hình về ảnh hưởng
của thuế đến kế toán và các nhân tố ảnh hưởng đến chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và
thu nhập chịu thuế. Các nhân tố ảnh hưởng đến mối liên hệ được đề xuất dựa trên cơ sở
các thuyết kinh tế chi phối vấn đề về mối liên hệ giữa kế toán và thuế
3Là chữ Latinh cổ có nghĩa là “trên thực tế” hay “theo thông lệ”, theo từ điển mở Tiếng Việt Wiktionary.
7
bao gồm: Hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp; ảnh hưởng của thuế đến kế
toán và các yếu tố kiểm soát doanh nghiệp.
6. Khung nghiên cứu của luận án
Khung nghiên cứu của luận án được thiết kế nhằm mục đích giải quyết các câu
2
Nam? Các
nhân tố nào
ảnh hưởng
đến mối liên
hệ? (De
Facto)
Mục tiêu
nghiên cứu
Phương pháp
nghiên cứu
Hướng giải
quyết
Kết quả
dự kiến
Đánh giá sự
phát triển về
thể chế, chính
sách
Tìm hiểu và
đánh giá sự
phát triển của
Mô hình
nghiên cứu
Tìm hiểu và
đo lường mối
liên hệ giữa
Phương
kế toán và
thuế trên thực
pháp
định
lượng
tiễn
Thu thập số
liệu thực tiễn
Kết luận
về mối
liên hệ
trên thực
tiễn
Phân tích số
liệu
để đánh giá bao gồm lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế, mối liên hệ này trên thế giới
và phân loại mối liên hệ cũng được đề cập. Cũng trong chương 1, các nghiên cứu liên
quan đến mối liên hệ giữa kế toán và thuế được tìm hiểu để xem xét về cách tiếp cận, về
phương pháp nghiên cứu và những vấn đề đã làm được cũng như chưa làm được trong
những nghiên cứu trước đây trên thế giới và Việt Nam. Từ đó, làm cơ sở để đề xuất
phương pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu được trình bày trong chương 2 và chương
3. Chương 2 và chương 3 có kết cấu riêng biệt từng chương theo hai mảng nghiên cứu lý
thuyết và thực tiễn. Mỗi chương đều có những nội dung cơ bản như giới thiệu, phương
pháp nghiên cứu, các nội dung nghiên cứu chính, kết luận. Chương 2 trình bày nghiên cứu
trên phương diện lý thuyết (De Jure), xem xét tiến triển mối liên hệ giữa kế toán và thuế ở
Việt Nam bằng phương pháp lịch sử từ năm 1995 đến nay, đồng thời đánh giá mối liên hệ
về nguyên tắc, quy định trong đo lường lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế. Chương
3 liên quan đến mối liên hệ giữa kế toán và thuế trên phương diện thực tiễn (De Facto)
bao gồm hai phần: đánh giá ảnh hưởng của thuế đối với kế toán và phân tích các nhân tố
ảnh hưởng đến chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế. Tất cả những kết
quả phân tích thông qua mô hình hồi quy sẽ làm cơ sở cho việc đưa ra kết luận về mối liên
hệ giữa kế toán
10
và thuế trên thực tiễn, đồng thời so sánh đối chiếu với kết quả nghiên cứu lý thuyết ở
chương 2. Dựa trên những kết quả nghiên cứu đạt được ở chương 2 và chương 3 để
tổng kết, đưa ra kết luận cho toàn bộ luận án, đồng thời qua những kết quả đó đề xuất
những hàm ý chính sách ở góc độ vĩ mô và vi mô trong chương 4.
11
CHƯƠNG 1:
Theo Luật Kế toán, bộ luật số 88/2015/QH13 quy định rõ "Kế toán là việc thu
thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức
giá trị, hiện vật và thời gian lao động".
Kế toán thông qua Chế độ và chuẩn mực kế toán để lập BCTC nhằm cung cấp
thông tin cho người sử dụng trong việc ra quyết định. Một cách tổng quan, mục tiêu
của kế toán là cung cấp thông tin hữu ích cho các nhóm người sử dụng khác nhau như
Nhà nước, nhà đầu tư, người cho vay, chủ nợ, cổ đông, ... Để đạt được mục tiêu này,
một số nguyên tắc kế toán phải được áp dụng như: Cơ sở dồn tích, hoạt động liên tục,
giá gốc, phù hợp, nhất quán, thận trọng, trọng yếu (Chuẩn mực kế toán 01 – VAS01:
Chuẩn mực chung). Mục tiêu của kế toán có thể thay đổi và sự thay đổi này chịu ảnh
hưởng bởi các yếu tố môi trường kinh tế - xã hội của kế toán (Choi & mueller, 1992;
Mueller, 1967).
Kế toán được hỗ trợ bởi các tổ chức kế toán như các nhà hoạch định chính sách,
các công ty dịch vụ kế toán - kiểm toán, các tổ chức nghề nghiệp kế toán. Báo cáo tài
chính thường được kiểm toán bởi các công ty dịch vụ kế toán – kiểm toán và được
tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận (GAAP) (Horngren &
cộng sự, 2006). GAAP được thiết lập bởi các tổ chức đặt tiêu chuẩn khác nhau như
Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính (FASB) ở Hoa Kỳ và Hội đồng chuẩn mực báo
cáo tài chính ở Vương quốc Anh. Vào năm 2012, "tất cả các nền kinh tế lớn" hội tụ
hoặc áp dụng Chuẩn mực Báo cáo tài chính Quốc tế (IFRS) (IFRS Foundation, 2012).
Đối với kế toán, chỉ tiêu lợi nhuận kế toán là một chỉ tiêu quan trọng cung cấp
thông tin về tình hình hoạt động của doanh nghiệp có liên quan trực tiếp đến thuế, và
việc ra quyết định của nhà quản trị, nhà đầu tư đến hoạt động của doanh nghiệp.
1.2.1.2. Lợi nhuận kế toán
Lợi nhuận kế toán là lợi nhuận của một doanh nghiệp bao gồm tất cả các khoản
doanh thu và chi phí được xác định theo khuôn khổ kế toán nhất định. Lợi nhuận của
doanh nghiệp được xác định bằng các con số trong báo cáo tài chính của một tổ chức.
Ví dụ về các khuôn khổ kế toán là các Nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận
(GAAP) và các chuẩn mực Báo cáo tài chính Quốc tế (IFRS). Các khuôn khổ này yêu
Cho đến nay trong các sách báo kinh tế trên thế giới vẫn chưa thống nhất một
khái niệm về thuế. Đứng trên các góc độ khác nhau và theo quan điểm của các nhà
kinh tế học khác nhau thì sẽ định nghĩa về thuế khác nhau. Theo nhà kinh tế học
Gaston Jeze đưa ra định nghĩ tương đối cổ điển về thuế: "Thuế là một khoản trích nộp
bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp
4Doanh thu được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ và thu nhập khác.
14
cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của nhà
nước" (Gaston,1934). Đứng trên góc độ phân phối thu nhập thì thuế là một phần của
hệ thống phân phối thu nhập quốc dân với mục tiêu chính là tạo nguồn thu cho quốc
gia. Ngoài ra, Nhà nước sử dụng hệ thống thuế để kiểm soát toàn bộ nền kinh tế, đạt
được các mục tiêu xã hội và có thể khích lệ hoặc hạn chế một số hoạt động kinh doanh
trong nền kinh tế. Cân bằng các mục tiêu này là mối quan tâm của bất kỳ hệ thống thuế
nào, điều này đòi hỏi hệ thống thuế phải đạt được một số tiêu chuẩn như: Công bằng,
hiệu quả, lâu dài, đáng tin cậy, thuận lợi và kinh tế (James & Nobes, 1978). Hầu hết
các quốc gia đều có một hệ thống thuế phù hợp với yêu cầu phát triển của quốc gia,
của cộng đồng và sự đồng tình của chính phủ.
Để huy động nguồn thu cho quốc gia từ các doanh nghiệp, thuế thu nhập doanh
nghiệp được thiết lập nhằm xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp với chỉ tiêu
quan trọng dùng để xác định số thuế phải nộp đó là thu nhập chịu thuế.
1.2.2.2. Thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế là số tiền thu nhập được sử dụng để tính toán số tiền thuế
mà cá nhân hoặc công ty nợ chính phủ trong một năm tính thuế nhất định. Nó thường
được mô tả là thu nhập gộp hoặc thu nhập gộp được điều chỉnh (trừ đi bất kỳ khoản
khấu trừ hoặc miễn thuế nào được cho phép trong năm tính thuế đó). Hay nói cách
khác, thu nhập chịu thuế là thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp của một kỳ,
được xác định theo quy định của luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành và là cơ sở
thuế
trừ
khác
thu
Nhiều nghiên cứu ở các nước cho thấy (xem ở nội dung tiếp theo), đo lường thu
nhập chịu thuế một mặt dựa vào một số nguyên tắc cơ bản chi phối xác định lợi nhuận kế
toán (cơ sở dồn tích, nguyên tắc phù hợp, nguyên tắc thận trọng), mặt khác chịu ảnh
hưởng mạnh mẽ về tính pháp lý của các giao dịch phát sinh doanh thu và chi phí. Điều
kiện ràng buộc về mặt pháp lý và hợp lý của doanh thu tính thuế và chi phí được khấu trừ
thuế nhằm ngăn ngừa trốn thuế, gian lận thuế, tuy nhiên trong nhiều trường hợp không
phản ánh đúng thực chất lợi nhuận kinh tế của doanh nghiệp. Chính ràng buộc này là
nguyên nhân của chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế.
1.3. Mối liên hệ giữa kế toán và thuế
1.3.1. Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu mối liên hệ giữa kế toán và thuế
Đối với vấn đề về mối liên hệ giữa kế toán và thuế, lý thuyết đo lường lợi nhuận
(lý thuyết chi phí – doanh thu), lý thuyết chi phí chính trị, lý thuyết ngữ cảnh và lý
thuyết phổ biến cái mới là những lý thuyết được áp dụng để đưa ra đánh giá về nhóm
các nhân tố ảnh hưởng. Cụ thể:
Lý thuyết đo lường lợi nhuận (Expenditure – Revenue accounting theory)
Lý thuyết đo lường lợi nhuận (qua doanh thu, chi phí) trong kế toán là một
trong những lý thuyết quan trọng, do Martti Saario đề xuất vào những năm 1940 và
1950 ở Phần Lan dựa trên nguyên tắc thực hiện (realization principle) và nguyên tắc
phù hợp (matching concept) trong việc ghi nhận ba giao dịch trong kế toán về chi phí,
doanh thu và giao dịch tài chính. Lý thuyết này được hình thành và phát triển từ nhu
cầu hòa giải sự xung đột giữa thực hành kế toán và thuế ở Phần Lan. Lý thuyết này
bao gồm một khái niệm khấu hao (nguyên tắc khấu hao thực hiện), ví dụ, nó giả định
rằng khi một thiết bị được mua, thu nhập dự kiến là hoàn thành mục đích khi mua,
khấu hao hàng năm được tính bằng giá mua tương ứng với thu nhập hàng năm. Do đó,