Tác giả nho học tân học và những đóng góp đối với thể loại tiểu thuyết quốc ngữ việt nam đầu thế kỷ XX (qua một số tác giả tiêu biểu) - Pdf 62

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

BÙI THỊ LAN HƯƠNG

TÁC GIẢ NHO HỌC - TÂN HỌC VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP ĐỐI
VỚI THỂ LOẠI TIỂU THUYẾT QUỐC NGỮ ĐẦU THẾ KỶ XX
(QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2020
1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

BÙI THỊ LAN HƯƠNG

TÁC GIẢ NHO HỌC - TÂN HỌC VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP ĐỐI
VỚI THỂ LOẠI TIỂU THUYẾT QUỐC NGỮ ĐẦU THẾ KỶ XX
(QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU)

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 9 22 01 21

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. Vũ Thanh

Hà Nội, ngày 10 tháng 3 năm 2020
Tác giả luận án

Bùi Thị Lan Hương


MỤC LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Lý do khoa học
Văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX là một trong những giai đoạn đặc biệt của
lịch sử văn học dân tộc, lâu nay vẫn được các nhà khoa học định danh là giai đoạn
giao thời, chuyển tiếp giữa hai thời kỳ, hai phạm trù từ văn học trung đại sang văn
học hiện đại, từ những ảnh hưởng mang tính khu vực sang những mối liên hệ trực
tiếp với văn học thế giới.
Trong giai đoạn lịch sử đặc biệt đó, nền văn học Việt Nam đã xuất hiện một vài
loại hình tác giả mới, trong đó có một kiểu loại tác giả là sản phẩm của thời điểm giao
thời giữa cái cũ truyền thống và cái mới, ảnh hưởng phương Tây, đó là các tác giả Nho
học - Tân học. Hiểu một cách đơn giản nhất, đó là những tác giả có sự kết hợp hai yếu tố
trong cấu trúc, trong ý thức hệ tư tưởng: Nho giáo và học phong của thời đại mới. Họ có
thể là những người đỗ đạt trong các kỳ thi Nho học, hoặc là những người đã nhiều năm
theo đòi chữ nghĩa thánh hiền và chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền học vấn này. Song, do
những biến thiên của thời cuộc, trên cơ sở tiếp thu những tư tưởng mới của phương Tây,
những nhà nho này đã theo học tiếng Pháp, tiếp thu văn hóa Pháp và chuyển sang viết
văn bằng chữ Quốc ngữ. Đội ngũ tác giả Nho học - Tân học là một mẫu hình tác giả nhà
nho kiểu mới và họ có những đóng góp không nhỏ cho quá trình hình thành và phát triển
của nền văn học Quốc ngữ giai đoạn đầu thế kỷ XX.
Tác giả Nho học - Tân học Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng cho

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng luận án lựa chọn nghiên cứu là loại hình tác giả Nho học – Tân
học và đóng góp của họ đối với thể loại tiểu thuyết Quốc ngữ Việt Nam đầu thế kỷ
XX thông qua năm tác giả Nho học - Tân học tiêu biểu là: 1) Nguyễn Chánh Sắt
(1869-1947); 2) Hồ Biểu Chánh (1884-1958); 3) Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (18891939); 4) Nguyễn Trọng Thuật (1883-1950) và 5) Ngô Tất Tố (1894-1954). Ngoài
ra, luận án còn quan tâm đến các nhà văn đầu thế kỷ XX khác cùng loại hình hoặc
có một số điểm tương đồng như Nguyễn Bá Học (1857-1921), Nguyễn Hữu Tiến
(1874-1941), Nguyễn Đôn Phục (1878-1954), Lê Hoằng Mưu (1879-1941) hay Bửu
Đình (1898-1931)…
2.2. Phạm vi nghiên cứu
- Trên thực tế, số lượng các tác giả Nho học - Tân học trong quy loại của chúng
tôi khá nhiều song do khuôn khổ của luận án chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu sâu về
năm tác giả đã được chọn. Thứ tự xuất hiện theo thời gian của năm tác giả, về cơ bản
cũng thể hiện được phần nào bước tiến, bước chuyển tiếp trên một số phương diện của
loại hình tác giả này cả về quan niệm nghệ thuật và những thành tựu trong sáng tác.

7


- Về hệ thống tác phẩm được khảo sát: chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát tất cả
các cuốn tiểu thuyết của năm tác giả Nho học - Tân học trên đây. Các sáng tác ở các
thể loại khác của họ, cũng như sáng tác của các nhà văn khác đầu thế kỷ XX sẽ là
nguồn tư liệu để chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu, phân tích khi cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu loại hình tác giả Nho học -Tân học và loại hình tác phẩm (tiểu
thuyết Quốc ngữ) của các tác giả này, chúng tôi hướng đến hai mục đích chính sau đây:
- Nghiên cứu cơ sở hình thành và đặc điểm loại hình tác giả Nho học – Tân học Việt
Nam đầu thế kỷ XX; - Nghiên cứu những đóng góp của loại hình tác giả Nho học –

dành sự quan tâm thỏa đáng đến tính đặc thù lịch sử - xã hội, tư tưởng - văn hóa cũng
như sự khác biệt trong cá tính sáng tạo của từng tác giả thể loại tiểu thuyết quốc ngữ
đầu thế kỷ XX.Bên cạnh đó,chúng tôi cũng luôn tuân thủ những định hướng mang tính
phương pháp của việc nghiên cứu thể loại để có những nhìn nhận về các vấn đề của tác
giả và tác phẩm tiểu thuyết quốc ngữ trong đặc trưng, nguyên tắc tổ chức của thể loại,
có sự giao thoa, tiếp nhận kinh nghiệm nghệ thuật của các thể loại khác, nhất là những
giai đoạn đầu của quá trình hình thành và phát triển.
4.2. Phương pháp tiếp cận tự sự học
Thể loại tiểu thuyết vốn là một trong những thể loại mang đặc trưng cho loại
hình tự sự. Vì thế, đặt vấn đề nghiên cứu loại hình tác giả Nho học - Tân học và
những đóng góp của họ đối với sự vận động và phát triển của tiểu thuyết Quốc ngữ
Việt Nam đầu thế kỷ XX nên phương pháp tiếp cận tự sự học là một trong những
phương pháp quan trọng được vận dụng trong luận án. Phương pháp tiếp cận tự sự
học giúp cho chúng tôi tiến hành nghiên cứu những đặc điểm của thể loại tiểu thuyết
Quốc ngữ - một phương thức tự sự cỡ lớn đầu thế kỷ XX trên các nội dung như kết
cấu cốt truyện, xây dựng nhân vật cũng như giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật.
4.3. Phương pháp hệ thống
Ở cấp độ vĩ mô, đặt trong cái nhìn toàn diện của nền văn học dân tộc, phương
pháp tiếp cận hệ thống giúp chúng tôi có cái nhìn ở hai chiều cạnh: một là nhìn nhận loại
hình tác giả Nho học - Tân học trong tương quan với các loại hình tác giả nhà nho khác
vốn đã được các nhà nghiên cứu lâu nay thừa nhận (như tác giả nhà nho hành đạo, tác
giả nhà nho ẩn dật hay tác giả nhà nho tài tử); hai là nhìn nhận loại hình tác giả và loại
hình tác phẩm (tiểu thuyết Quốc ngữ) của tác giả Nho học - Tân học như một hệ thống
mang tính nội tại. Trong hệ thống lớn, loại hình tác giả cũng như loại hình tiểu thuyết
Quốc ngữ sẽ mang những đặc điểm chung nhất định của lịch sử văn học dân tộc. Nhưng
9


cũng đồng thời, trong hệ thống nội tại đó, mỗi một tác giả Nho học - Tân học cũng như
mỗi một sáng tác của họ lại được nhìn nhận như những cá tính sáng tạo, những sinh

10


đội ngũ Nho học - Tân học từ góc nhìn liên ngành văn hóa – văn học sẽ giúp chúng
tôi đưa ra những luận giải tường rõ hơn về nội dung cũng như nghệ thuật tác phẩm.
Ngoài các phương pháp cơ bản trên, trong quá trình thực hiện đề tài này,
chúng tôi còn vận dụng kết hợp một số thao tác nghiên cứu khác như phân tích tổng hợp, thống kê - phân loại...
5. Đóng góp mới của luận án
5.1. Tìm hiểu đặc điểm loại hình tác giả Nho học - Tân học và những đóng
góp của họ cho sự hình thành và phát triển của thể loại tiểu thuyết giai đoạn đầu thế kỷ
XX, luận án sẽ là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối hệ thống
về loại hình tác giả và loại hình tác phẩm (tiểu thuyết Quốc ngữ) của các tác giả này
trong quá trình vận động và phát triển của lịch sử văn học dân tộc nói chung.
5.2. Trên cơ sở giới thuyết khái niệm, luận án đã bước đầu làm sáng tỏ điều kiện
hình thành cũng như đặc điểm loại hình tác giả Nho học - Tân học trong mối tương
quan với các loại hình tác giả khác trước đó cũng như các loại hình tác giả khác cùng
thời gian xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
5.3. Luận án đã đi sâu khảo sát, mô tả và luận giải các đặc điểm chính về nội
dung và nghệ thuật tiểu thuyết Quốc ngữ Việt Nam đầu thế kỷ XX thông qua hệ
thống đề tài - chủ đề, tổ chức kết cấu cốt truyện; xây dựng nhân vật; giọng điệu
nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ thuật ở giai đoạn đầu của quá trình hiện đại hóa văn
học dân tộc.
5.4. Ngoài ra, qua kết quả nghiên cứu, luận án cũng hi vọng cung cấp và ứng
dụng một hướng tiếp cận, đánh giá đối với một loại hình tác giả đặc biệt, bổ sung
kiến thức cho việc tham khảo và nghiên cứu, giảng dạy về một số tác giả, tác phẩm
của văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX.
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung
chính của luận án được triển khai thành bốn chương như sau: - Chương 1: Cơ sở
lý thuyết và tổng quan vấn đề nghiên cứu (31trang, từ trang 7 đến trang 37); Chương 2: Điều kiện hình thành và đặc điểm loại hình tác giả Nho học - Tân học

để từng bước nhận diện diện mạo, đặc điểm con người, văn chương cũng như vai trò của
họ trong lịch sử văn học dân tộc ở một mức độ tương đối có thể chấp nhận được.
Loại hình học (tiếng Anh: typology, tiếng Pháp: typologie) là khoa học nghiên
cứu về loại hình nói chung. Đây vừa là một lý thuyết vừa là một phương pháp trong
nghiên cứu văn học, vốn xuất phát từ rất sớm, ngay từ trong nền văn hóa cổ đại Hi
Lạp - La Mã với cách phân chia văn học của Aristot. Tuy nhiên, nhắc đến lý thuyết
loại hình học văn học, chúng ta phải kể đến thành tựu của các nhà nghiên cứu văn học
12


Nga trước đây. Tên tuổi của một số nhà nghiên cứu tiên phong có thể nhắc đến như V.
Propp, M.B. Khrapchenko hay B.L. Riptin… Ở Việt Nam, tư duy loại hình, phương
pháp loại hình ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu chú ý. Trước hết phải kể tới một
số công trình dịch thuật về vấn đề tư duy loại hình và phương pháp loại hình như: Cá
tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học [95] Những vấn đề lý luận và
phương pháp luận nghiên cứu văn học [135]; Hình thái học truyện cổ tích [290]; Cấu
trúc văn bản nghệ thuật [93], Thi pháp văn học Nga cổ [118]… Đây là những công
trình khá tiêu biểu của một số học giả, nhà nghiên cứu uy tín trên thế giới tiếp cận văn
học theo hướng loại hình và những công trình này khi được công bố bản tiếng Việt đã
trở thành những sách công cụ hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực chuyên
ngành. Nhiều vấn đề đặt ra trong đó đã được vận dụng linh hoạt và hữu ích khi soi
chiếu vào thực tiễn của nền văn học dân tộc.
Hướng đến việc phân chia, phân loại các sự vật, hiện tượng, các vấn đề của
văn học (trong đó có vấn đề về tác giả) để từ đó xác định vị trí, ý nghĩa, vai trò của nó
trong một hệ thống, trong cấu trúc tổng thể cũng như nhận dạng được diện mạo và
đặc điểm của cả một hệ thống chính là điểm nổi bật của lý thuyết loại hình học văn
học. Các nhà nghiên cứu, bằng nhãn quan tư duy này đã tìm cách “rạch ròi hóa” các
vấn đề, các hiện tượng của văn học dựa trên những tiêu chí, những cơ sở tương đối có
thể chấp nhận. Từ đây, các nhà nghiên cứu đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề liên quan đến
một bộ phận không nhỏ tác giả, tác phẩm trong đời sống văn chương dân tộc thời

Trần Ngọc Vương [293]. Trong công trình này, ông đã phân loại mẫu hình nhà nho
trong văn học Việt Nam thời trung đại thành ba loại: nhà nho hành đạo, nhà nho ẩn
dật và nhà nho tài tử. Công trình đã mở ra tính ứng dụng trong việc nghiên cứu loại
hình tác giả cũng như những đặc trưng văn học của từng loại hình tác giả. Công trình
đã tạo bước ngoặt và cổ vũ cho việc ứng dụng lí thuyết loại hình vào nghiên cứu văn
học Việt Nam. Tiếp đó là hàng loạt những công trình nghiên cứu mang tính chuyên
sâu vào từng loại hình tác giả như Nguyễn Hữu Sơn với nghiên cứu về đội ngũ tác
giả Thiền sư trong Loại hình tác phẩm Thiền uyển tập anh [189], Lê Văn Tấn nghiên
cứu về loại hình nhà nho ẩn dật và đóng góp của họ đối với sự phát triển của văn học
trung đại Việt Nam [216]...
Về loại hình học tác phẩm, đa số các công trình nghiên cứu về đội ngũ tác giả
cũng dành khá nhiều công phu trong việc nghiên cứu sáng tác của từng nhóm tác giả để
tìm ra những nét đặc trưng và có tính khu biệt trong sáng tác của họ. Ngoài ra, lí thuyết
loại hình còn được ứng dụng để nghiên cứu từng loại hình hay thể loại của văn học Việt
Nam như Đặc điểm văn học trung đại Việt Nam: Những vấn đề văn xuôi tự sự của
Nguyễn Đăng Na [39], Thơ Nôm Đường luật của Lã Nhâm Thìn [235], Ngâm khúc: quá
trình hình thành, phát triển và đặc trưng thể loại của Ngô Văn Đức [55], Văn học trào

14


phúng Việt Nam thời trung đại của Trần Thị Hoa Lê [112], Loại hình văn học trung đại
Việt Nam của Biện Minh Điền [45]…
Những công trình trên đây giúp chúng tôi hiểu một cách thấu đáo hơn về lý
thuyết cũng như phương pháp loại hình trong nghiên cứu văn học, đặc biệt là cách thức
lựa chọn đối tượng và vận dụng lý thuyết này trong những trường hợp cụ thể.Trên thực
tế, việc nghiên cứu lịch sử văn học không thể không chú ý đến vấn đề hệ thống các loại
hình, loại thể của văn học. Khi tư duy nghiên cứu hướng tới yêu cầu tổng hợp, phân
loại các hiện tượng văn học dựa trên những hệ tiêu chí khả dĩ có thể khái quát và thâu
tóm thành một “cộng đồng thẩm mỹ” nhất định, nói lên tư cách tồn tại của chúng, khi

với những lý thuyết khác nhằm lý giải các vấn đề về loại hình tác giả và loại hình tác
phẩm của tác giả Nho học - Tân học một cách xác đáng nhất. Trên thực tế, loại hình tác
giả Nho học - Tân học, thoạt nhìn có vẻ thuần nhất song sự khác biệt ở từng tác giả lại
khá rõ nét. Đó cũng chính là định hướng cho chúng tôi trong quá trình luận giải cần có
sự kết hợp giữa những phân tích đặc điểm chung và những khác biệt ở từng tác giả.
Như vậy, sự xuất hiện của hàng loạt công trình nghiên cứu lấy lí thuyết loại
hình làm nền tảng đã cho thấy việc tiếp nhận lí thuyết này ở Việt Nam khá sôi nổi.
Sau gần một thế kỉ xuất hiện ở Việt Nam, có thể nói lí thuyết loại hình học đã trở
thành công cụ nghiên cứu hữu hiệu cho những ai quan tâm đến văn học Việt Nam,
nhất là những tiếp cận từ phương diện loại hình học tác giả văn học. Tính đến nay,
lý thuyết loại hình học đã trở nên khá quen thuộc, so với một số lý thuyết nghiên
cứu văn học khác, nó không bị cũ đi và vẫn luôn hữu ích cho nhiều nhà nghiên cứu.
Có thể khẳng định, ở Việt Nam đã hình thành nên một xu hướng nghiên cứu văn
học theo lý thuyết loại hình học là trên thực tiễn như vậy.
1.1.2. Lý thuyết tự sự học
Trước hết, cần nhắc đến thuật ngữ tự sự học được đề cập đầu tiên là nhà
nghiên cứu T.Todorov vào năm 1969 để gọi tên lĩnh vực nghiên cứu lấy đối tượng
căn bản là văn bản tác phẩm tự sự, với phạm vi là đặc điểm cấu trúc văn bản, đặc
điểm trần thuật văn bản. Bản thân, khái niệm tự sự vốn có nội dung khá rộng, nó
không chỉ dùng để chỉ một nguyên tắc trong kể chuyện tác phẩm văn học mà còn chỉ
phương thức biểu đạt của các loại hình nghệ thuật khác như hội họa, kiến trúc, điêu
khắc hay âm nhạc... Còn ở phạm vi nghĩa hẹp, sau đề xuất của T.Todorov, các nhà
nghiên cứu, lí luận văn học dùng thuật ngữ tự sự để chỉ tự sự văn học, tự sự trong văn
bản tác phẩm văn học. Tự sự văn học ở đây sẽ gắn chặt với việc nhà văn kể về một
câu chuyện, một hiện tượng của đời sống xã hội, hay tư tưởng, tinh thần nào đó cho
người nghe bằng những phương thức riêng hướng đến một hiệu quả thẩm mĩ cao
nhất. Cùng một nội dung phản ánh, cùng một câu chuyện song cách tự sự, nghệ thuật
tự sự khác nhau sẽ mang lại những hiệu ứng khác nhau với người tiếp nhận. Tự sự có
16


ghi, người sao lục lời kể hoặc là người nghe trộm người kể. Người trần thuật là kẻ
được sáng tạo ra để mang lời kể. Và hành vi trần thuật là hành vi của người trần thuật
đó mà sản phẩm là văn bản tự sự. Người trần thuật trong văn bản văn học là một hiện
tượng nghệ thuật phức tạp nhất, mà ngôi kể chỉ là hình thức biểu hiện ước lệ...” [202,
17


tr.16-17]. Lí thuyết cũng như quá trình vận dụng lí thuyết tự sự học vào quá trình
nghiên cứu thực thể văn học dân tộc nhiều năm qua đã cho ra đời khá nhiều các công
trình nghiên cứu có giá trị. Điều đó cho thấy sự khả dĩ của lí thuyết này trong khoa
nghiên cứu văn học và xét cho đến cùng, tự sự không chỉ là kĩ thuật đơn thuần mà rõ
ràng, ẩn chứa sau những kĩ thuật hình thức chính là truyền thống văn hóa, nếp nghĩ,
nếp sống của dân tộc qua văn chương. Những thành quả của tự sự trong văn học ở bất
kỳ giai đoạn lịch sử nào cũng chính là sự kế thừa truyền thống cũng như những tiếp thu
của đương thời. Đó là lí do mà trong quá trình luận giải những nội dung nghiên cứu
trong luận án này, chúng tôi sẽ luôn cố gắng chỉ ra những tiếp thu của tác giả Nho học Tân học đối với truyền thống tự sự trung đại Việt Nam cũng như tiếp thu truyền thống
tự sự phương Tây đầu thế kỷ XX.
Như vậy, trong luận án này, lí thuyết tự sự học sẽ giúp chúng tôi tập trung
giải quyết những đặc điểm đặc sắc trong phương thức nghệ thuật loại hình tiểu
thuyết Quốc ngữ của tác giả Nho học - Tân học như tổ chức kết cấu cốt truyện,
giọng điệu nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ thuật.
1.2. GIỚI THUYẾT TÁC GIẢ NHO HỌC – TÂN HỌC
Các tác giả được chúng tôi khảo sát trong luận án này, vốn cũng có thể duy
danh là tác giả nhà nho tân học. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, nếu gọi họ là nhà
nho tân học thì các tác giả này, trước hết phải là nhà nho đã. Trong bối cảnh lịch sử
xã hội, cũng như tư tưởng văn hóa Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX,
khái niệm “nhà nho” đã dần mờ nhạt. Việc gọi những tác giả này là nhà nho có thể
đã không còn chính xác nữa. Đó là lí do chúng tôi mạnh dạn sử dụng thuật ngữ
“Tác giả Nho học - Tân học” để chỉ loại tác giả chịu ảnh hưởng của hai hệ tư tưởng
là Nho học và Tân học mà chúng tôi sẽ bàn kĩ hơn dưới đây. Thuật ngữ Nho học Tân học, theo chúng tôi là có thể ít nhiều tránh được sự chủ quan trong quá trình

tài từ và văn học Việt Nam [239], ở vào khoảng cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII,
trong lịch sử văn chương Nho giáo xuất hiện một loại hình tác giả nhà nho thứ ba mà
nhà nghiên cứu gọi là nhà nho tài tử. Mặc dù còn có những bàn luận khác nhau về tính
hợp lý, tính đồng đẳng của mẫu hình nhà nho này so với hai mẫu hình nhà nho phía
trên, song rõ ràng, bằng những kiến giải thấu đáo, Trần Ngọc Vương đã chỉ ra những
cội rễ, căn gốc lịch sử - xã hội, văn hóa - tư tưởng hình thành loại hình nhà nho tài tử.
Đặc biệt, trong chuyên khảo của mình, nhà nghiên cứu đã chỉ ra những đổi thay của
văn chương nhà nho tài tử so với văn chương Nho giáo nói chung từ hệ thống đề tài
chủ đề đến hình tượng nghệ thuật trung tâm. Tiếc là trong mạch nghiên cứu của mình,
nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương lại chưa chỉ ra và phân tích tỉ mỉ những đặc sắc nổi
bật về phương diện nghệ thuật, ngoại trừ gợi ý cho bạn đọc về sự lựa chọn thể loại của
nhà nho tài tử [239].
19


Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam đã có những biến động
sâu sắc, sự va chạm với văn minh - văn hóa phương Tây (nhất là văn minh - văn hóa
Pháp) làm xuất hiện các tầng lớp, giai cấp mới và đặc biệt là tầng lớp trí thức Tây
học. Trong bước chuyển mình của đời sống xã hội cũng như văn học, một bộ phận
những nhà nho/ những người đã từng theo Nho học thức thời đã chuyển hướng sang
học tập chữ Quốc ngữ, tạo thành đội ngũ các tác giả Nho học - Tân học. Họ có thể là
những người từng thi cử/ đỗ đạt trong các kỳ thi Nho học như Phan Bội Châu, Phan
Chu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Tản Đà, Ngô Tất Tố… hoặc là những người đã
nhiều năm theo đòi chữ nghĩa thánh hiền và chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền học vấn
này như Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Bá
Học… Do những biến thiên của thời cuộc, những nhà nho này đã chuyển sang viết
văn bằng chữ Quốc ngữ dưới tác động của một quan niệm văn học mới, một phương
thức sáng tác mới nhưng vẫn duy trì một cách ít nhiều có ý thức những ảnh hưởng
của cách viết và những quan niệm nghệ thuật truyền thống trung đại.
Trên cơ sở như vậy, chúng tôi quan niệm như sau, tác giả Nho học - Tân học,

cũng đồng thời là một trong những tiêu chí quan trọng để chúng tôi lựa chọn tác giả
trong quy loại để thực hiện các nội dung trong nghiên cứu này.
- Thứ ba, trong thực tiễn của lịch sử văn học dân tộc giai đoạn giao thời
những năm từ 1900 đến 1930, có nhiều tác giả Nho học - Tân học song do hướng
nội dung nghiên cứu đến những đóng góp của họ cho thể loại tiểu thuyết Quốc ngữ
đầu thế kỷ XX nên những tác giả cùng loại hình mà không viết tiểu thuyết bằng chữ
Quốc ngữ sẽ không thuộc đối tượng lựa chọn trong đề tài này.
- Thứ tư, ở loại hình tác giả Nho học - Tân học có những biến đổi quan trọng
trong quan niệm văn học, quan niệm thẩm mỹ, từ quan niệm “văn dĩ tải đạo” sang quan
niệm văn học phản ánh hiện thực, từ quan niệm coi thường tiểu thuyết đến sự lựa chọn
thể loại này làm thể loại chủ lực cho các sáng tác của họ. Tính giáo huấn là một trong
những đặc điểm chung của hai quan niệm văn học (văn học trung đại và văn học hiện
đại), tuy ở nền văn học hiện đại đầu thế kỷ XX, chức năng này có phần nhẹ hơn và ít lộ
diện hơn. Mặc dù vậy, tinh thần, tư tưởng giáo huấn vẫn sẽ là một nền tảng để các tác
giả Nho học - Tân học lấy làm điểm tựa cho các sáng tác của mình. Việc lựa chọn văn
xuôi và đặc biệt là tiểu thuyết Quốc ngữ là một sự lựa chọn vừa mang tính thách thức,
vừa hợp quy luật, vừa thể hiện thế mạnh, song cũng lại ít nhiều bộc lộ điểm hạn chế
của các tác giả Nho học - Tân học. Những điều này chúng tôi sẽ có những phân tích rõ
trong các nội dung tiếp theo của luận án.
- Thứ năm, đa số các tác giả Nho học - Tân học đều là các ký giả (nhà báo)
kiêm nhà văn. Họ vốn khá nhạy cảm và hết sức quan tâm đến đời sống chính trị,
21


đến các vấn đề xã hội, thể hiện một thái độ nhập cuộc khá quyết liệt. Đây sẽ là điểm
lợi thế để các tác giả Nho học - Tân học tiếp cận với những đổi thay, biến chuyển
cũng như những vấn đề mà xã hội quan tâm lúc bấy giờ.
Trên đây là quan niệm cũng như những kiến giải bước đầu của chúng tôi về
loại hình tác giả Nho học - Tân học. Chúng tôi sẽ có những luận giải kĩ hơn về nội
dung này ở chương 2, tiểu mục 2.3.2 - Nhận diện loại hình tác giả Nho học - Tân học

1.3.1. Những công trình nghiên cứu về các tác giả Nho học - Tân học
Do những biến chuyển cũng như tính đặc thù của văn học Việt Nam giai đoạn
giao thời mà đội ngũ các tác giả văn học ở vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã có
một sự chuyển biến mạnh mẽ, phức tạp. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ngoài một
số tác giả đơn thuần là cựu học đã xuất hiện một loạt các tác giả hoàn toàn tân học và
những tác giả có sự kết hợp cả cựu học lẫn tân học, trong đó yếu tố cựu học vẫn lấn át
tân học. Đó chính là những trường hợp mà luận án tiến hành lựa chọn khảo sát, bao
gồm: Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh, Tản Đà, Nguyễn Trọng Thuật và Ngô Tất
Tố. Các công trình nghiên cứu về năm tác giả này cũng khá phong phú. Sau đây
chúng tôi điểm qua một số công trình tiêu biểu:
1.3.1.1. Những nghiên cứu về tác giả Nguyễn Chánh Sắt
Nghiên cứu về Nguyễn Chánh Sắt: trước hết, phải kể đến cuốn Tiểu thuyết Nam
Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (2004) do Nguyễn Kim Anh chủ biên, các tác giả cho
rằng: “dù thông thạo cả Pháp văn và Hán văn, nhưng có lẽ ảnh hưởng của văn hóa
Trung Quốc trong ông mạnh mẽ hơn do có một thời gian dài tiếp xúc với các nhà nho
yêu nước bị tù đày ngoài Côn Đảo. Vì vậy khi viết tiểu thuyết, ông vẫn sử dụng lối
truyện chí của Trung Quốc” [4, tr.491]. Nguyễn Văn Hà trong bài viết “Nguyễn Chánh
Sắt trong hành trình văn xuôi Quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỷ XX” cho rằng: “… Bên
cạnh khuynh hướng hiện thực, Nguyễn Chánh Sắt còn là nhà văn có khuynh hướng
luân lý. Sáng tác của ông, dù ở thể tài nào cũng toát lên một tư tưởng chung rất nhất
quán: phê phán bọn nhà giàu, quyền thế bất lương; bênh vực người nghèo khổ bị áp
bức và đề cao khát vọng hạnh phúc gia đình, công bằng xã hội. Tư tưởng ấy xuất phát
từ lập trường đạo đức - một thứ đạo đức có tính chất nhị nguyên, vừa mang màu sắc
phong kiến vừa mang màu sắc dân gian” [72]…
Trong Từ điển Văn học (Bộ mới), Nguyễn Huệ Chi đưa ra những đánh giá xác
đáng về sáng tác của Nguyễn Chánh Sắt: “Là người có vốn Hán học sâu rộng, lại quen
dịch truyện Tàu, sáng tác của Nguyễn Chánh Sắt ảnh hưởng khá rõ thể loại truyện chí
thông tục của Trung Quốc, lấy cốt truyện theo tuyến tính làm đường dây phát triển, lấy
23


hoạt và xông xáo; kịp thời đón bắt những đổi thay của đời sống xã hội và thị hiếu công
chúng, góp phần làm nên diện mạo và chất lượng mới cho văn học” [165, tr.117]; còn
24


đây là của Nguyễn Văn Hà: “Truyện dịch của Nguyễn Chánh Sắt thiên về loại có cốt
truyện hành động, phiêu lưu, nội dung phù hợp với quan niệm đạo đức “khuyến thiện
trừng ác” của dân gian, viết theo lối văn xuôi giống như lời nói thường ngày nên rất
gần gũi và hấp dẫn đối với công chúng độc giả… Văn chương ông có phong vị Nam
Bộ đậm đà. Cái phong vị đó bàng bạc khắp các tác phẩm, từ ngôn ngữ, khung cảnh,
sinh hoạt, phong tục đến diện mạo tính cách, tâm lý nhân vật…” [165, tr.156,161];
nhận định của Hà Thanh Vân: “… Không sung sức, dài hơi như Hồ Biểu Chánh,
không gay cấn, gây tiếng vang, động chạm đến đạo đức xã hội như Lê Hoằng Mưu,
cũng không ngả hẳn con đường trinh thám như Biến Ngũ Nhy hay Nam Đình Nguyễn
Thế Phương… Nguyễn Chánh Sắt đã chọn cho mình một con đường để đi vào lòng
người đọc và khiến cho sách bán chạy hơn, đó là sáng tác những tiểu thuyết kết hợp
giữa hai yếu tố “ly kỳ” và “ái tình”… Giữa đông đảo những tác giả viết tiểu thuyết
Quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỷ XX, Nguyễn Chánh Sắt vẫn tạo dựng được cho mình một
diện mạo riêng, với chỗ đứng riêng” [165, tr.190-191]; còn đây là nhận định: “… Ông
là một trong những người đầu tiên khai sinh ra thể loại tiểu thuyết thời kỳ phôi thai và
nâng nó lên một bước mới… là người đặt viên gạch đầu tiên nối liền hai dòng văn học
cổ điển và hiện đại, giúp văn học Việt Nam tạo dựng chỗ đứng vững chắc trong lòng
người dân và phát triển mạnh cho đến hôm nay” [165, tr.195, 197]; còn đây là đánh giá
của Lê Tiến Dũng về nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Chánh Sắt: “Nhân vật
chính trong tác phẩm của Nguyễn Chánh Sắt, chính diện cũng như phản diện, thường
được xây dựng với mục đích thuyết minh cho quan niệm ở hiền gặp lành. Người hiền
lương chính trực, làm điều thiện, việc nghĩa sẽ được đền bù xứng đáng về sau. Còn kẻ
gian ác hiểm độc, hành động phi nghĩa, bất nhân sớm muộn cũng bị trừng phạt.
Khuynh hướng đạo đức làm cho nội dung tư tưởng tác phẩm Nguyễn Chánh Sắt lành
mạnh, trong sáng, dung dị, dễ tiếp nhận đối với số đông công chúng bình dân. Nhưng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status