Hiện tượng giao thoa giữa văn học và báo chí của thế kỷ XX qua một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu - Pdf 25


1
TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG
============= TRẦN NGỌC ANH HIỆN TƢỢNG GIAO THOA
GIỮA VĂN HỌC VÀ BÁO CHÍ CỦA THẾ KỶ XX
QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM TIÊU BIỂU
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÀNH BÁO CHÍ
Hà Nội – 2009

2
TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 6
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 7
6. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp luận nghiên cứu 7
7. Kết cấu của luận văn 7
CHƢƠNG 1:MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC VÀ BÁO CHÍ 9
1.1 Đặc trưng của văn học và báo chí 9
1.1.1. Đặc trưng của văn học 9
1.1.2.Đặc trưng của báo chí. 10
1.2.Mối quan hệ giữa văn học và báo chí 13
Tiểu kết chƣơng 1 19
CHƢƠNG 2 :HIỆN TƢỢNG GIAO THOA GIỮA BÁO CHÍ VÀ VĂN HỌC 20
NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX 20
2.1. Bối cảnh xã hội dẫn đến hiện tượng giao thoa giữa báo chí và văn học
nửa đầu thế kỷ XX 20
2.1.1. Yếu tố lịch sử, chính trị, văn hóa, xã hội. 20
2.1.2.Báo chí và bước đầu của quá trình xã hội hóa chữ quốc ngữ 23
2.1.3.Báo chí và sự giao lưu văn hóa phương Tây. 25
2.2. Hiện tượng giao thoa giữa báo chí và văn học đầu thế kỷ XX. 27
2.2.1.Vai trò của báo chí trong việc phổ biến tác phẩm văn học cũng như phát
triển thể loại và phương thức thể hiện mới cho văn học 27
2.2.2. Hiện tượng giao thoa giữa văn học và báo chí đầu thế kỷ XX 32
Tiểu kết chƣơng 2 38
4
CHƢƠNG 3 : HIỆN TƢỢNG GIAO THOA GIỮA VĂN HỌC VÀ BÁO CHÍ
NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU 39

ngành xuất bản lúc đó tác phẩm văn học mới đƣợc xuất bản. Phần lớn những
ngƣời viết báo ở giai đoạn trƣớc vừa viết văn vừa viết báo, họ sử dụng báo chí
nhƣ một môi trƣờng tập luyện. Báo chí Việt Nam luôn xem văn học nhƣ một
bộ phận rất quan trọng, tờ báo nào cũng có mục văn học.
Hơn nữa báo chí và văn học có mối quan hệ khăng khít và nhiều mặt
tƣơng đồng. Báo chí là ngƣời đồng hành và hỗ trợ của văn học, nếu không có
báo chí thì nền văn học hiện đại Việt Nam không thể phát triển nhanh chóng
nhƣ thế. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải xem xét những tác động thúc đẩy của
văn học để báo chí có đƣợc tầm vóc nhƣ ngày nay. Mối quan hệ có tính hữu
cơ này là một vấn đề cần phải có một nghiên cứu sâu hơn, triệt để hơn nhằm
rút ra những kết luận có tính chất thực tiễn trong hoạt động báo chí hiện nay
cũng nhƣ trong qui hoạch lâu dài cho chiến lƣợc phát triển báo chí.
Với những lý do trên, mà em đã chọn đề tài luận văn mang tên :
« Hiện tƣợng giao thoa giữa văn học và báo chí của thế kỷ XX qua
một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu »
Tuy nhiên, một thế kỷ phát triển của báo chí và văn học là quá dài với
nhiều thành tựu có phần ổn định và có phần thì đang phát triển. Cho nên trong
khuôn khổ luận văn này, em xin tập trung vào nghiên cứu hiện tƣợng giao
thoa giữa văn học và báo chí nửa đầu thế kỷ từ năm 1900 đến 1945. Đây là
thời kỳ mà các giá trị và sự đánh giá đã khá ổn định. Tuy nhiên, trong giai
đoạn này có rất nhiều tác giả vừa làm báo vừa viết văn nên trong luận văn này

6
em chỉ chọn lọc những tác giả tiêu biểu để nghiên cứu. Đó là Nguyễn Ái
Quốc - Hồ Chí Minh, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Vũ Bằng và Hoàng Đạo.
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những công trình nghiên cứu về văn học và báo chí trƣớc nay,
những đóng góp của các nhà văn, nhà báo đƣợc đánh giá tƣơng đối chuẩn xác.
Các công trình nghiên cứu về lịch sử báo chí của TS Huỳnh Văn Tòng,
Nguyễn Thành, GS Đỗ Quang Hƣng và các công trình nghiên cứu văn học

6. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp luận nghiên cứu
Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin và
tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, dựa trên đƣờng lối chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về
việc đánh giá trung thực, công bằng, khách quan những đóng góp của các
nhà văn, nhà báo đối với văn hóa nƣớc nhà.
Trên nền tảng lý luận đó, chúng tôi sƣu tầm các tác phẩm của các nhà
văn nhà báo kể trên đăng trên báo chí trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, sử
dụng phƣơng pháp phân tích văn bản, so sánh, thống kê, đánh giá các tài liệu,
các tác phẩm của các nhân vật kể trên và đặt trong bối cảnh lịch sử.
Tập hợp những bài báo, các tham luận, các tài liệu viết hoặc đề cập đến
các nhà báo, nhà văn kể trên.
Gặp gỡ, tham khảo ý kiến của những nhà sử học, nhà nghiên cứu, nhà
báo quan tâm đến đề tài nhằm rút ra những đánh giá khoa học và khách quan
về đề tài nghiên cứu.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, mục Tài liệu tham khảo và phần Phụ lục,
Luận văn gồm 3 chƣơng :
Chƣơng 1: Mối quan hệ giữa văn học và báo chí

8
Chƣơng 2 : Hiện tƣợng giao thoa giữa văn học và báo chí nửa đầu thế kỷ
XX
Chƣơng 3: Hiện tƣợng giao thoa giữa văn học và báo chí nửa đầu thế kỷ
XX qua một số tác giả tiêu biểu

9
CHƢƠNG 1
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC VÀ BÁO CHÍ
1.1 Đặc trƣng của văn học và báo chí
1.1.1. Đặc trưng của văn học

Những hình tƣợng nghệ thuật trong tác phẩm văn học vừa thể hiện chân thực
đời sống, vừa biểu hiện quan niệm thẩm mỹ của tác giả. Tác phẩm văn học là
một chỉnh thể nghệ thuật. Thông tin trong tác phẩm văn học là thông tin thẩm
mỹ. Nó tác động vào tình cảm của công chúng thông qua những cảm nhận
trực quan sinh động để từ đó dẫn dắt tới những nhận thức lý tính. Nhƣ vậy,
tính hình tƣợng là dấu hiệu đặc trƣng cơ bản giúp ta phân biệt văn học với
những loại tác phẩm khác.
Khác với báo chí, văn học mang bản chất nghệ thuật. Mặc dù trong một
số trƣờng hợp, có những tác phẩm văn học đã bám sát những sự kiện thời sự
một cách nhạy bén, không kém gì các tác phẩm báo chí nhƣng xét về bản
chất, hiện thực đƣợc phản ánh trong tác phẩm văn học là một hiện thực thẩm
mỹ gắn liền với thế giới quan thẩm mỹ của nhà văn. Đặc điểm quan trọng này
vẫn đƣợc thể hiện trong các tác phẩm phản ánh về những con ngƣời và sự
việc có thật trong đời sống nhƣ các tác phẩm thuộc thể loại chính luận nghệ
thuật và ký văn văn học.
1.1.2.Đặc trưng của báo chí.
So với văn học, báo chí là hình thái ý thức- xã hội xuất hiện muộn hơn
hàng nghìn năm. Hình thức phôi thai của nó là những bản tin viết tay đƣợc
phân phát ở những nơi đông đúc nhƣ bến cảnh, chợ búa và những nơi đông
ngƣời từ khoảng thế kỷ XVI. Ở thành phố cảnh Vơnidơ của Italia, các nhà
buôn, các ông chủ đã sử dụng cách thông tin này để loan báo về tình hình tàu
thuyền đi lại, tình hình hàng hóa, giá cả Thoạt tiên họ thuê ngƣời viết tay

11
các bản tin rồi đem phân phát những nơi đông đúc trong thành phố. « Người
xem dần dần thành nếp rồi dẫn đến thành nhu cầu phổ biến. Các nhà kinh
doanh chuyển từ hình thức phân phát sang cách bán với giá mỗi bản tin một
đồng tiền Vơnidơ. Tên gọi đồng tiền đó là « Gadétta » Từ Gadétta dần dần
biết thành tên gọi các bản tin đó ». (1)
Báo chí chỉ thực sự ra đời với chủ nghĩa tƣ bản ở châu Âu từ cuối thế kỷ

những khía cạnh có liên quan đến hoạt động báo chí nói chung. Hiện thực
trong tác phẩm báo chí phải là một hiện thực tƣơi mới, nguyên vẹn, một hiện
thực còn chƣa bị « chưng cất » theo quan niệm thẩm mỹ nhƣ trong tác phẩm
văn học. Để phản ánh một thế giới hiện thực chứa đầy thông tin, báo chí có
một hệ thống thể loại khác biệt so với hệ thống các thể loại văn học. Hiện nay,
báo chí là một hoạt động thông tin đại chúng nhất, năng động nhất với những
tác động mạnh mẽ và trực tiếp vào sự phát triển của đời sống xã hội.
Trên cơ sở so sánh với văn học và với những hình thức phản ánh hiện
thực khác, có thể xác định những đặc điểm cơ bản về nội dung và hình thức
của tác phẩm báo chí. Về nội dung, tác phẩm báo chí phải đáp ứng đƣợc
những yêu cầu là : thông tin về hiện thực đời sống phải đảm bảo sự xác thực
tối đa, tính thời sự nghiêm ngặt và tính định hƣớng trực tiếp. Trong đó, yêu
cầu về sự xác thực đòi hỏi không đƣợc bịa đặt hoặc thêm bớt một cách tùy
tiện trong quá trình thông tin sự thật. Nhƣng sự thật trong tác phẩm báo chí
phải đƣợc tái hiện một cách chính xác về địa điểm, thời gian, không gian và
nhân chứng cụ thể. Yêu cầu về tính thời sự đòi hỏi báo chí phải phản ánh kịp
thời về những cái tiêu biểu vừa mới xảy ra, đang xảy ra, sẽ xảy ra đôi khi gay
gắt tới từng giờ từng phút. Tính định hƣớng trực tiếp đƣợc nhấn mạnh để đảm
bảo cho những thông tin đƣợc đăng tải thể hiện một thái độ chính trị rõ ràng

13
trƣớc sự thật. Về phƣơng diện hình thức, có thể thấy sự ngắn gọn, đơn giản là
đặc điểm chung của bất cứ một tác phẩm báo chí nào.
1.2.Mối quan hệ giữa văn học và báo chí
Mối quan hệ giữa văn học và báo chí có thể coi là một mối quan hệ đặc
biệt. Đó là mối quan hệ chặt chẽ và bền vững. Mặc dù, có những khác biệt về
đặc trƣng và phƣơng thức tác động nhƣ đã nêu trên nhƣng chính qui luật
thông tin, phản ánh về hiện thực đã tạo ra mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa
hai hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thƣợng tầng vốn có nhiều điểm
tƣơng đồng này. Nói về vấn đề này, trƣớc đây A. Cácpentiê, một nhà văn

mà chủ yếu sử dụng tƣ duy chính luận. Nhà văn nhất là với thể loại thơ có thể
tự khai thác thế giới nội tâm của mình với những cảm xúc và mộng mơ riêng
còn nhà báo hầu nhƣ dành tất cả trang viết cho việc miêu tả cuộc sống khách
quan. Cũng vì thế trong văn chƣơng có thể có hiện tƣợng Trần Đăng Khoa nổi
tiếng về thơ từ tám tuổi, qua những bài thơ bộc lộ tâm tình của tuổi thơ. Còn
với báo chí lại là vấn đề nhận thức, phân tích xã hội. Công việc này đòi hỏi
phải có trình độ văn hóa, và học vấn. Giá trị của báo chí dựa trên tính xác
thực của tác phẩm. Tuy nhiên trong văn học cũng có những tác phẩm vừa xác
thực, vừa chân thực nhƣ trong thể loại ký và cũng có những tác phẩm thuần
túy dựa vào hƣ cấu nghệ thuật. Tính xác thực của báo chí là đặc trƣng cực
mạnh của lĩnh vực hoạt động tinh thần này. Những sự việc có thật tai nghe
mắt thấy, những câu nói của nhân chứng có địa chỉ, những câu chuyện còn
hơi nóng của đời sống, những con số thống kê chính xác tất cả đều góp
tiếng nói thành bản hợp xƣớng đa thanh của chính cuộc đời. Sự thực đã tham
gia vào những cuộc đối thoại tranh luận để khẳng định chân lý. Văn học
không thể lãnh đạm trƣớc hoạt động tinh thần đa năng và có hiệu quả ấy. Do
đó văn học đã khai thác và sử dụng chất báo chí để tạo thêm giá trị và màu
sắc mới cho văn học. Trong tác phẩm ký của Nguyễn Tuân có phần luận bàn
tản mạn với những liên tƣởng và cảm nghĩ độc đáo và tài hoa của tác giả.

15
Song một phần giá trị quan trọng của tùy bút của Nguyễn Tuân là ở tính chính
chất xác thực của ngƣời thật việc thật. Nguyễn Đình Thi từng nhận xét về túy
bút của Nguyễn Tuân quả là một nhân chứng của thời đại chúng ta. Đây là
một nhân chứng đáng tin cậy. Đáng tin cậy vì ngƣời làm chứng này là ngƣời
viết những sự thật mà chính ông luôn luôn đi đến tận nơi, nghe nhìn và tìm
hiểu . Ngoài những nhà văn viết ký, các tác giả viết truyện, tiểu thuyết vẫn có
thể khai thác chất báo chí để tạo không khí xã hội sôi nổi và chân thật cho
trang viết. Tuy nhiên, ở mặt khác của vấn đề lại cũng cần thấy giới hạn của
cái có thật trong cuộc sống. Khi một hiện tƣợng xuất hiện nhƣng những tình

Cũng theo nhận xét của GS. Hà Minh Đức, đứng trƣớc cuộc sống văn
học và báo chí đều bình đẳng với tƣ cách là những hình thái ý thức- xã hội
đặc thù. Nếu nhƣ đã có những tác phẩm văn học trƣờng tồn với thời gian thì
cũng có những tác phẩm báo chí dù trải qua hàng trăm năm vẫn giữ nguyên
giá trị. Bài báo Sáng kiến vĩ đại ( ngày 28-6-1919) của Lênin(2) đã trở thành
cƣơng lĩnh hành động cho những ngƣời cộng sản và toàn thể nhân dân Liên
Xô thời kỳ ấy. Tác phẩm Hành hình kiểu Linsơ, một phƣơng diện ít ngƣời
biết của nền văn minh Mỹ (ngày 9-10-1924) của nhà báo cách mạng Nguyễn
Ái Quốc(3) là một bằng chứng lịch sử chỉ ra bản chất tàn bạo của bọn đế
quốc ở bất cứ nơi nào, trong bất cứ hoàn cảnh nào. Ở Việt Nam, những tấm
ảnh của Võ An Ninh về nạn đói năm 1945 hay những thƣớc phim tƣ liệu về
cảnh xe tăng ta xông vào dinh Độc lập Sài gòn ngày 30-4-1975 đã ghi lại
đƣợc những khoảnh khắc không bao giờ lặp lại và vì thế khoảnh khắc ấy đã (1) Hà Minh Đức(2000) Cơ sở lý luận báo chí- Đặc tính chung và phong cách, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội.
(2) Lênin(1977), Lê nin bàn về văn hóa văn học, Nxb Văn học, Hà Nội, trang 376
(3) Hồ Chí Minh (1980) toàn tập I ( 1920-1925) Nxb Sự thật, Hà Nội. trang 269

17
trở thành vĩnh viễn. Đó chính là một trong những cơ sở để tác phẩm báo chí
có thể phát triển từ cái nhất thời trở thành lâu dài .
Trong lịch sử văn học và lịch sử báo chí Việt Nam, có thể coi những năm
cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX là một thời kỳ phát triển đặc biệt. Chính ở
thời kỳ bản lề này, sự xuất hiện và phát triển của chữ quốc ngữ và báo chí đã
tạo ra một động lực quan trọng cho sự xuất hiện và phát triển của nền báo chí
và văn học hiện đại Việt Nam.
Theo nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan, ban đầu các trí thức Việt Nam chƣa
thực sự có ý thức sáng tạo văn học mà chủ yếu chỉ dịch thuật tác phẩm của

mình và tránh đƣợc lƣỡi kéo kiểm duyệt, làm sao để tờ báo phát triển trong
điều kiện kinh tế ngặt nghèo, làm sao giữ đƣợc phẩm chất của ngƣời cầm bút
trƣớc áp lực nhiều mặt của hoàn cảnh. Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Hải
Triều, Nam Cao đều là những nhà văn nhà báo xuất sắc. Từ sau Cách mạng
Tháng Tám, trƣớc trách nhiệm lịch sử của dân tộc trong công cuộc kháng
chiến chống Pháp và chống Mỹ, các nhà văn nhà báo càng sát cánh nhau giữ
vững sức mạnh và tính chiến đấu của ngòi bút trong trách nhiệm nặng nề vẻ
vang của mình. Đây là thời điểm mà văn chƣơng phải trở về với hiện thực.
Không thể cứ khép cửa để tự khai thác mình. Đến với cuộc kháng chiến của
dân tộc, một hiện thực lớn lao mở ra trƣớc mắt, lôi cuốn lòng ham hiểu biết và
ý thức trách nhiệm của ngƣời viết. Phải sống hay nói nhƣ Nam Cao « sống
rồi hãy viết ». Các nhà văn đi nhiều, đến với các chiến dịch, những miền đất
đầy thử thách. Có thể bắt đầu từ Trần Đăng, rồi Tô Hoài, Nam Cao, Nguyễn
Tuân. Trong những chuyến đi, không thể phân biệt đƣợc họ là nhà văn hay
nhà báo vì họ viết báo, viết văn và hoạt động với tƣ cách là ngƣời chiến sĩ. 19
Tiểu kết chƣơng 1
Rõ ràng qua những gì đã phân tích ở trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy,
nhờ có báo chí đã giúp phổ biến các tác phẩm văn học đến công chúng một
cách rộng rãi cũng nhƣ góp phần đáng kể vào việc phát triển thể loại và
phƣơng thức thể hiện mới cho văn học. Bên cạnh đó, nhờ những thông tin, sự
kiện mà báo chí phản ánh đã khơi nguồn cho các đề tài sáng tác cho các nhà
văn.
Ngƣợc lại cũng nhờ có văn học mà nhà báo tăng cƣờng yếu tố tình cảm
qua các trang viết cũng nhƣ đi sâu vào số phận con ngƣời. Thêm vào đó, nhờ
có ngôn ngữ văn học mà ngôn ngữ báo chí đƣợc trôi chảy hơn, giúp công
chúng tiếp nhận thông tin, sự kiện đƣợc dễ dàng hơn.
Mối quan hệ đặc biệt giữa nhà văn và nhà báo, giữa văn học và báo chí

bài vở.

21
Ngƣời dân Việt Nam luôn tìm cách chống lại sự hiện diện của ngƣời
Pháp. Trong giai đoạn đầu, ở miền Nam một số tờ báo đã đăng tải những bài
có nội dung chống đối. Để hạn chế điều này, toàn quyền Đông Dƣơng đã ký
sắc luật 1898 có nội dung : « Tất cả những tờ báo in bằng Việt ngữ, Hoa ngữ
hoặc một thứ tiếng nào khác ngoài tiếng Pháp, phải có sự cho phép trƣớc của
Viên toàn quyền sau khi phối kiến với ủy ban thƣờng trực của hội đồng cấp
cao Đông Dƣơng ».
Sắc luật này đã thủ tiêu hoàn toàn sự tự do báo chí ở nƣớc ta, mãi đến
năm 1938 mới có sắc lệnh hủy bỏ, lúc đó báo chí Việt Nam mới có cơ hội
phát triển. Giai đoạn 1930 – 1945, chính phủ Pháp đã thiết lập guồng máy cai
trị khá chặt chẽ , cộng với tình hình chính trị ở Chính quốc, mặt trận bình dân
lên nắm quyền, ở Đông Dƣơng qui chế hoạt động của báo chí cũng đƣợc nới
rộng, báo chí Việt Nam có cơ hội trỗi dậy. Những tờ báo kỳ cựu và có uy tín
nhƣ Nam Phong Tạp chí, Trung Bắc Tân Văn vẫn tiếp tục thông tin và đăng
tải những bài viết về văn học, khảo cứu… Một số tờ báo mới ra đời nhằm
phát triển nghề nghiệp nhƣ tờ Đông Tây của Hoàng Tích Chu, Hà Thành Ngọ
Báo của Bùi Xuân Học, cải tạo xã hội nhƣ Phong Hóa của Nguyễn Tƣờng
Tam….
Kể từ 1930, sự phân hóa giai cấp trong xã hội Việt Nam xảy ra mãnh liệt
và phức tạp hơn về kinh tế, chính trị, tƣ tƣởng…Giai cấp phong kiến và giai
cấp tƣ sản vẫn là thành phần phản động, giai cấp tiểu tƣ sản thiếu ý chí đấu
tranh nên trốn vào tháp ngà, đấu tranh theo đƣờng lối tƣ sản cải lƣơng, họ
thực hiện nhiệm vụ giải phóng bằng những câu thơ, những bài văn chƣơng
hoặc tiểu thuyết và một số tờ báo. Lúc này lực lƣợng công nhân và nông dân
cũng mới trƣởng thành bắt đầu bƣớc vào con đƣờng đấu tranh chính trị nửa bí
mật, nửa công khai. Trong tình trạng đó bọn đề quốc quyết tâm dập tắt những


nhƣ một công cụ để xây dựng, truyền bá ảnh hƣởng của mình trên lĩnh vực tƣ
tƣởng lẫn văn học nghệ thuật. Bên cạnh đó báo chí của giai cấp công nông
trong những thời cơ đƣợc hoạt động công khai ( từ 1936 đến 1939, khi mặt
trận bình dân lên nắm quyền) dòng báo chí này đã có những đóng góp tích
cực với những tác phẩm văn thơ chính luận nhằm tuyên truyền, cổ động cách
mạng, vạch mặt bọn đế quốc phong kiến, tấn công mạnh mẽ tƣ tƣởng duy
tâm, nô dịch của một số tác giả theo khuynh hƣớng tƣ sản cải lƣơng thỏa hiệp,
những cuộc tranh cãi về quan điểm : "nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật
vị nhân sinh" nổ ra trên diễn đàn báo chí có những ảnh hƣởng to lớn đến văn
học. Dƣới chế độ hà khắc của chính quyền thực dân, văn thơ dễ dàng chuyển
tải đến công chúng những thông điệp cần thiết, cho mọi ngƣời ý thức đƣợc
nhiệm vụ đấu tranh, kích động lòng yêu nƣớc, căm thù bọn đế quốc và né
tránh đƣợc con măt soi mối của cơ quan kiểm duyệt.
2.1.2.Báo chí và bước đầu của quá trình xã hội hóa chữ quốc ngữ
Báo chí là môi trƣờng tốt để truyền bá chữ quốc ngữ, thoạt đầu chủ
trƣơng các tờ báo là dạy cho mọi ngƣời biết cách đọc và viết loại chữ dùng ký
hiệu La tinh. Nhờ đó mà chữ quốc ngữ mới đƣợc truyền bá rộng rãi. Báo chí
đã thúc đẩy chữ quốc ngữ phát triển mau chóng và dần đƣợc chuẩn hóa. Đến
những năm ba mƣơi đầu thế kỷ XX thì chữ quốc ngữ đã đạt đƣợc mức độ
hoàn chỉnh. Số lƣợng từ vựng ngày càng phong phú, với sự tiếp thu ngôn ngữ
các nƣớc có giao lƣu văn hóa nhƣ Pháp, Hoa và các nƣớc lân cận. Với quá
trình Việt hóa các khái niệm, các thuật ngữ nƣớc ngoài ngôn ngữ trở nên
trong sáng, uyển chuyển. Cấu trúc câu thay đổi theo mô hình phƣơng Tây,
giọng điệu câu văn gần với khẩu ngữ. (1) Lịch sử văn học Việt Nam 1930-1945, Huỳnh Lý, Tr16,17

24
Báo chí là một « loại văn chương đại chúng»có sự chi phối của tính thời

Văn học và báo chí từ một góc nhìn có nhận xét : « Đặc biệt cuộc cách mạng
về ngôn ngữ của Hoàng Tích Chu trên báo Đông Tây đã góp phần quan trọng
trong việc đổi mới ngôn ngữ văn học dân tộc. Nếu không có báo chí, hiển
nhiên công việc đổi mới văn học sẽ diễn ra khó khăn, chậm chạp và không thể
đạt kết quả mĩ mãn đến như vậy. Nhờ thử bút trên báo chí, nhờ sự nâng đỡ
của môi trường mới, ngôn ngữ của các nhà văn Việt Nam đã phát triển với
tốc độc phi thường theo hướng dân chủ hóa bằng cách dựa vào ngôn ngữ đời
thường. Phải kể tới sự nỗ lực chủ quan của người cầm bút . Hơn lúc nào hết,
nhà văn nhà báo Việt Nam đã coi vấn đề xây dựng câu văn quốc ngữ, đổi mới
nền văn học dân tộc là yêu nước. Họ gởi cả nỗi niềm ấy vào trong tiếng Việt.
Họ yêu vô cùng thứ tiếng mấy mươi thế kỷ đã chia sẻ buồn vui với cha ông.
Họ dồn tình yêu trong tình yêu tiếng Việt ”(1).
2.1.3.Báo chí và sự giao lưu văn hóa phương Tây.
Báo chí là cầu nối trong các cuộc cọ xác các nền văn minh thế giới. Từ
khi báo chí xuất hiện, nền văn hóa tiếp thu mạnh mẽ và sâu sắc nền văn hóa
thế giới nhất là nền văn hóa phƣơng Tây. Sự tiếp thu này ngày càng phát triển
vì có rất nhiều nguyên nhân :
Ý đồ cai trị bằng văn hóa của chính quyền Pháp, họ muốn chinh phục
thuộc địa bằng ảnh hƣởng của nền văn hóa « mẫu quốc ». Cuộc Âu hóa đầy
thâm ý của bọn thống trị thực dân làm thay đổi cả suy nghĩ, quan niệm sống,
tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ của con ngƣời. Giai cấp vô sản và tầng lớp thị
dân, tiểu tƣ sản và tƣ sản mới xuất hiện đòi hỏi những thay đổi tƣ duy cảm
thụ. Quan điểm thẩm mỹ của tầng lớp nho học ảnh hƣởng sâu sắc nền văn hóa
phong kiến Trung Quốc không còn hợp thời. Đến những năm đầu thế kỷ XX, (1) Văn học và báo chí từ một góc nhìn (tg 202, 203).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status